1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Do sự phát triển của xã hội hiện nay kéo theo nhịp sống công nghiệp hiện đại
của con người, sự không phù hợp về thay đổi lối sống, các chế độ ăn uống mất cân đối
dinh dưỡng là nguyên nhân dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm như : bệnh đái tháo
đường (Diabetes mellitus), bệnh béo phì (Obesity), ung thư, tim mạch. Trong đó đái
tháo đường (ĐTĐ) là căn bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay của xã hội.
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa gây tăng đường huyết mãn tính
do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối của tuyến tụy, nếu không kiểm soát tốt sau một
thời gian tiến triển kéo dài có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Bệnh có tính chất
dân tộc và chủng tộc đã và đang trở thành vấn đề mang tính xã hội, bởi sự bùng phát
nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khỏe, tốn kém cho người bệnh và kinh tế cộng
đồng. Bệnh có tỷ lệ mắc ngày càng cao, là một trong 3 bệnh (ung thư, tim mạnh, đái
tháo đường) phát triển nhanh nhất hiện nay của xã hội.[3], [32].
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): năm 1994, thế giới có 98.9 triệu người mắc
bệnh đái tháo đường, cuối năm 2002 có khoảng 177 triệu người, con số này đã tăng lên
300 triệu người vào năm 2025. Riêng châu Á , số liệu công bố tại hội nghị đái tháo
đường quốc tế tổ chức vào tháng 12 năm 1997 tại Singapo: Năm 1995 châu Á có
khoảng 62 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, cuối năm 2002 con số này là 89 triệu người.
Theo đánh giá của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế (IDF) năm 2005 số người mắc bệnh đái tháo
đường tại châu Á tăng lên 1.7 lần. WHO đã cảnh báo có thể xuất hiện “đại dịch ĐTĐ”
ở châu Á vào thế kỷ 21 [2], [3].
Việt Nam, năm 1990 tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Hà Nội là 1.2%, Huế là 0.96% và
thành phố Hồ Chí Minh là 2.5%, năm 2000 Viện Nội tiết Trung ương điều tra tại khu
vực nội thành Hà Nội tỷ lệ ĐTĐ là 4% dân số và 7% ở tuổi > 35 tuổi. Cuộc điều tra do
Viện Nội tiết tiến hành năm 2001 tại 4 thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và
2
thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy tỷ lệ ĐTĐ trong độ tuổi 30- 64 tuổi là 4.9% [2],
ổi (Lantana Camara L.) trên mô hình chuột ĐTĐ mô phỏng type 2.
4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cây Bông ổi (Lantana Camara L.)
1.1.1 Thực vật học
phong thấp đau xương, chấn thương bầm giáp. Hoa dùng trị lao với ho ra máu và hạ
huyết áp. Liều dùng 30-60g, dạng thuốc sắc. Lá dùng ngoài đắp vết thương, vết loét
hoặc dùng để cầm máu; cũng dùng trị ghẻ lở, viêm da, các vết chàm và dùng chườm
nóng trị thấp khớp. Thường dùng tươi giã đắp ngoài hay nấu nước để rửa. Hoa dùng
làm thuốc trị ho với liều 12g, dạng thuốc sắc hay hâm nóng hoặc chế xi rô [4].
1.2. Giới thiệu về một số hợp chất tự nhiên ở thực vật
Ở thực vật, ngoài protein, saccarid, lipid, vitamin, còn có những chất khác có
vai trò quan trọng trong đổi chất của cây được gọi là các chất thực vật thứ sinh (plant
secondary metabolites). Căn cứ vào tính chất hóa học, các hợp chất thực vật thứ sinh
được chia thành một số nhóm chính như: nhóm phenolic, nhóm terpen và nhóm
alkaloid. Nhiều công trình nghiên cứu gần đây đã cho thấy các hợp chất polyphenol
(thuộc nhóm hợp chất phenolic) ngày càng ứng dụng rộng rãi trong điều trị một số
bệnh nan y như: ung thư, béo phì, tiểu đường …
a. Các hợp chất phenolic từ thực vật
Hợp chất phenolic là nhóm các chất khác nhau rất phổ biến trong thực vật. Đặc
điểm chung của chúng là trong phân tử có vòng thơm (benzene) mang một, hai hay ba
nhóm hydroxyl (-OH) gắn trực tiếp vào vòng benzene. Dựa vào thành phần và cấu trúc
người ta chia hợp chất phenolic thành 3 nhóm nhỏ [42]:
6
Nhóm hợp chất phenolic đơn giản: Trong phân tử chỉ có một vòng benzene
và một vài nhóm hydroxyl. Tùy thuộc vào số lượng nhóm OH mà chúng được gọi là
các monophenol (phenol), diphenol (pyrocatechin, hydroquynone), triphenol
(pyrogalol, oxyhydroquynol…).
Nhóm hợp chất phenolic phức tạp: Trong thành phần cấu trúc phân tử của
chúng ngoài vòng thơm benzene (C
6
) chúng còn có dị vòng, mạch nhánh. Đại diện
nhóm này có axid cyamic, axid ceramic.
Nhóm hợp chất phenolic đa vòng: Là nhóm đa dạng nhất trong các hợp chất
4
1'
5'6'
4'
3'
2'
A
C
B
Flavan (2-phenyl chroman )
7
Tùy theo mức độ oxy hóa vòng pyran, sự có mặt hay không có mặt của nối đôi
giữa C
2
với C
3
và nhóm cacbonyl ở C
4
mà có thể phân biệt flavonoid thành các nhóm
phụ sau: Flavon và flavonol, flavanol (đihidro flavon), chalcol, aurol,
leucoantoxianidin, catechin, isoflavonoid, rotenoid và neoflavonoid.
• Hoạt tính sinh học của flavonoid
* Tác dụng chống oxy hóa (antioxidant)
Flavonoid có khả năng kìm hãm các quá trình oxy hóa dây truyền gây ra bởi các
gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên hoạt tính này mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào đặc
điểm của từng flavonoid cụ thể.
Gốc tự do sinh ra trong quá trình sinh lý bình thường của cơ thể hay do tác động
bên ngoài là nguyên nhân gây phá hủy ADN, protein, lipid làm phát sinh nhiều bệnh tật
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật cho thấy khi chuột béo phì được
điều trị bằng dịch chiết giàu flavonoid từ lá Bằng lăng (Lagerstroemia specciosa L.) thì
có trọng lượng giảm đáng kể (~ 10% ) [59]. Thí nghiệm tương tự với flavonoid từ lá
Kim ngân (Lonicera japonica Thunb.) đối với chuột cống trắng uống cholesterol cũng
cho thấy có tác dụng làm giảm các chỉ số cholesterol, triglycerid, LDL-c đồng thời tăng
HDL-c [32]. Naringin (C
17
H
32
O
4
) và hesperidin (C
28
H
34
O
15
) là những flavonoid có hàm
lượng cao trên họ cam chanh (Rutaceae) đã được nhiều nhà nghiên cứu chiết xuất và
thử tác dụng trên mô hình chuột béo phì cho kết quả tốt trong việc làm hạ các chỉ số
lipid máu [33], [37].
* Tác dụng hạ glucose huyết
Một số flavonoid được tách chiết từ nguyên liệu thực vật đã được chứng minh là
có tác dụng điều hòa glucose huyết như: Quercetin có trong Đỗ trọng (Eucommia
ulmoides Oliver.) [51], Hesperidin và Naringin có trong các cây thuộc họ Rutaceae
[36], Genistein và Daidzein có trong Đậu nành (Glycine max L.) [15], Myricetin có
trong cây Vông vang (Abelmoschus moschatus) [15].
c. Hợp chất coumarin
Coumarin là dẫn chất của α- purone có cấu trúc C
N
N
C H
3
C H
3
CH
3
O
O
C
a f f e i n
O
N H
H
OH
OH
M o r p h in e
N
N
C H
3
N ico tinTrong y học nhiều thuốc chữa bệnh có thành phần alkaloid như thuốc gây kích
thích hoặc ức chế hệ thần kinh trung ương, thuốc điều hòa huyết áp, chữa rối loạn nhịp
tim…. Một số nghiên cứu gần đây cho thấy các alkaloid chiết từ thực vật cũng có tác
11
nước như sau: Thái Lan 3.5%, Philipin 4.27%, Malaysia 3.01%, Nhật 3%, Trung Quốc
2%, Hồng Kông 3%.
Tại Việt Nam, theo tiêu chuẩn cho người châu Á, số người thừa cân béo phì
cũng tăng theo thời gian. Năm 1991 theo điều tra của Lê Huy Liệu và cộng sự thì tỉ lệ
thừa cân mắc bệnh béo phì nói chung tại Hà Nội là 1.1%. Đến năm 2000 con số này đã
là 2.62% tăng gần 2.5 lần trong vòng 10 năm (điều tra của Lê Văn Hải) [3].
Năm 2007, Viện dinh dưỡng Quốc gia điều tra trên đối tượng người trưởng
thành 25 - 64 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì là 16.8% và còn có xu hướng tăng
lên. Theo Viện trưởng TS. Nguyễn Công Khẩn thì tỉ lệ này ở thành thị lớn hơn nông
thôn, ở nữ giới cao hơn nam giới. Trẻ em Việt Nam cũng có 16.3% mắc thừa cân béo
phì [19]. Hà Nội có 4.9% trẻ 4 - 6 tuổi mắc bệnh, Thành phố Hồ Chí Minh 6% trẻ dưới
5 tuổi và 22.7% học sinh tiểu học cũng rơi vào tình trạng này [52].
1.3.3.Tác hại và nguy cơ của bệnh béo phì
Chứng thừa cân và bệnh béo phì gây nhiều tác hại cho cuộc sống con người như
mất thoải mái trong sinh hoạt, giảm hiệu suất lao động, khối lượng cơ thể nặng nề kém
lanh lợi.
Người béo phì có nguy cơ bệnh tật cao hơn so với người thường do nhiễm độc
mỡ máu, tiêu biểu như:
- Bệnh tim mạch: do mỡ tạng làm tim khó co bóp và mỡ máu làm xơ cứng mạch
vành và các mạch máu khác gây nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp.
- Rối loạn lipid máu: tình trạng này rất hay gặp ở người béo bụng và có biểu
hiện đặc trưng là tăng triglycerid và lipid có hại (LDL-c), giảm lipid có lợi (HDL-c).
- Tiểu đường: béo phì toàn thân có nguy cơ mắc ĐTĐ type 2.
- Ngoài ra béo phì còn làm gia tăng nguy cơ của nhiều bệnh khác: xấu đi tình
trạng rối loạn tiền mãn kinh ở phụ nữ, suy giảm chức năng hô hấp, rối loạn hoạt động
cơ xương, ung thư, sỏi mật và các vấn đề bệnh lý tâm thần khác [2], [13], [35].
12
1.3.4. Nguyên nhân và giải pháp phòng, điều trị béo phì [10]
Nguyên nhân chính dẫn đến thừa cân béo phì là do khẩu phần và thói quen dinh
[56].
Để đánh giá lượng mỡ trong máu người ta làm xét nghiệm với các chỉ số:
- Cholesterol toàn phần (2.9 – 5.2 mmol/l);
- Triglycerid (0.8 – 2.3 mmol/l);
- HDL-c (0.90 – 1.50 mmol/l);
- LDL-c (0.5 – 3.4 mmol/l).
Tình trạng rối loạn hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu, hậu quả
là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch
và đột qụy, tăng các biến chứng mạch máu khác, hậu quả nặng nề nhất là dẫn đến tử
vong hoặc tàn phế gọi là rối loạn chuyển hóa [1]. Ngày nay người ta đã xem là có rối
loạn lipid máu ngay từ khi tỉ lệ thành phần của lipid máu có sự thay đổi. Khái niệm này
chỉ rõ rối loạn lipid máu có thể xảy ra từ rất sớm, ngay cả khi chưa có tăng các giá trị
tuyệt đối nồng độ của các thành phần trong máu [1]. Rối loạn này có thể tiên phát do di
truyền hoặc thứ phát sau các bệnh khác như: béo phì, ĐTĐ, nghiện rượu, suy giáp
trạng. Fredrickson căn cứ vào kĩ thuật điện di và siêu ly tâm với các thành phần huyết
thanh đã phân loại chứng tăng lipid máu thành 5 type dựa trên những thay đổi thành
phần lipoprotein. Cách phân loại này đã được WHO chính thức sử dụng vào năm 1970
[25]. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người mắc bệnh béo phì có nguy cơ cao mắc
các bệnh rối loạn lipid máu dẫn đến xơ vữa động mạch (liên quan chủ yếu đến các
lipoprotein) hoặc hiện tượng “nhiễm độc mỡ tế bào” [17], [25].
1.3.6. Mối quan hệ giữa béo phì và ĐTĐ
Béo phì và ĐTĐ là hai bệnh không truyền nhiễm nhưng nguy hiểm nhất của thế
kỉ 21. Hai căn bệnh này có mối liên quan chặt chẽ với nhau thể hiện ở chỗ tỉ lệ người
béo phì luôn tăng tương đương với số bệnh nhân bị ĐTĐ. Một cuộc khảo sát của Mỹ
gần đây đã chỉ ra rằng có tới 58% số người bị ĐTĐ type 2 được quy cho là do béo phì.
14
Béo phì liên quan tới ĐTĐ type 2 thông qua sự đề kháng insulin. Nồng độ acid béo tự
do cứ tăng 100µM thì mức đề kháng insulin tăng khoảng 5-10% [1]. Thiếu insulin dẫn
đến sự tăng trọng lượng cơ thể, tăng đường máu, cuối cùng dẫn đến bệnh ĐTĐ type 2.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa béo phì và bệnh ĐTĐ type 2
những rối loạn chuyển hóa glucid, lipid và protein, không dung nạp glucose dẫn đến
ĐTĐ. ĐTĐ cũng là nguyên nhân gây các biến chứng mù mắt, suy gan, thần kinh, tim
mạch, Nguyên nhân ĐTĐ là do tế bào β của đảo tụy Langerhan bị phá hủy mất khả
năng sản xuất insulin, một hormon điều hòa nồng độ glucose máu (ĐTĐ type 1) hoặc
do rối loạn trao đổi chất lipid - glucid dẫn đến đối kháng insulin (ĐTĐ type 2) [20].
1.4.1. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ thay đổi theo lứa tuổi, dân tộc, các vùng địa lý khác nhau
và theo sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Những số liệu mới nhất cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh ĐTĐ ở châu Á hiện nay đã vượt xa châu Âu, nơi vốn được xem là ổ bệnh.
Trong khi có khoảng 5% số người trưởng thành ở châu Âu mắc bệnh thì ở châu Á số
người mắc bệnh là từ 10-12% và ở những quốc gia đảo thuộc Thái Bình Dương là 30-
40%. Điều nguy hiểm là châu Á đang có chiều hướng gia tăng bệnh ĐTĐ ở lứa tuổi
thanh thiếu niên và trẻ nhỏ. Cũng theo tổ chức này thì nếu năm 2000 có 146 triệu người
mắc bệnh ĐTĐ thì năm 2010 sẽ là 220 triệu người và năm 2025 sẽ có thể lên tới 300
triệu người, chiếm 5% dân số thế giới [3].
Ớ Việt nam bệnh ĐTĐ đang phát triển với tốc độ nhanh. Điều tra năm 2001 tỷ
lệ ĐTĐ ở 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh) trong lứa
tuổi 30 – 46 là 4.1%; đến điều tra toàn quốc năm 2002 ở cùng đối tượng, tỷ lệ ĐTĐ
toàn quốc là 2.7%. Trong đó ở thành phố và khu công nghiệp là 4.4%, đồng bằng –
2.7%, trung du – 2.2% và miền núi là 2.1%. Hiện nay có khoảng trên 2 triệu người mắc
bệnh ĐTĐ, nhưng có tới 65% người bệnh không biết mình đã mắc căn bệnh này. Trong
10 năm qua, số bệnh nhân ĐTĐ đã tăng 3- 4 lần ở khu vực thành thị. Khu vực nông
thôn trước đây thường rất ít thì nay bệnh đã trở nên phổ biến [1], [3].
16
Rõ ràng ĐTĐ đang có chiều hướng phát triển nhanh chóng nhất là khu vực châu
Á. Dinh dưỡng không hợp lý dẫn đến thừa cân, béo phì và rối loạn chuyển hóa là một
trong những cơ chế quan trọng trong sinh bệnh học của rối loạn dung nạp glucose và
bệnh ĐTĐ. Hơn nữa bệnh ĐTĐ lại có nhiều biến chứng về tim mạch, thần kinh, gây
đột qụy, mù lòa, tổn thương thận, giảm tuổi thọ, Vì thế, ĐTĐ không chỉ là mối quan
tâm của ngành y tế mà còn thu hút cả sự chú ý của các nhà quản lý xã hội.
Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hoá
lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận…, nhiều khi các biến chứng
này đã ở mức độ rất nặng.
Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của ĐTĐ týp 2 là có sự tương tác giữa yếu
tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh. Người mắc bệnh ĐTĐ týp 2 có thể
điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu,
tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị
bằng cách dùng insulin.
* Sinh bệnh học ĐTĐ type 2 diễn biến qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1: mặc dù nồng độ glucose trong máu vẫn bình thường, nhưng có
hiện tượng kháng insulin vì insulin tăng cao hơn mức bình thường trong máu.
- Giai đoạn 2: tình trạng kháng insulin có xu hướng nặng dần do có hiện tượng
tăng glucose huyết sau ăn.
- Giai đoạn 3: kháng insulin không đổi nhưng bài tiết insulin suy giảm gây tăng
glucose huyết lúc đói, bệnh ĐTĐ biểu hiện ra bên ngoài.
1.4.3.3. ĐTĐ thai nghén
Đái đường thai nghén thường gặp ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng, gặp
khi có thai lần đầu. Sự tiến triển của ĐTĐ thai nghén sau đẻ theo 3 khả năng: bị ĐTĐ,
giảm dung nạp glucose, bình thường [21].
18
1.4.3.4. Các thể ĐTĐ khác (hiếm gặp)
Nguyên nhân liên quan đến một số bệnh, thuốc, hoá chất:
- Thiếu hụt di truyền chức năng tế bào β;
- Thiếu hụt di truyền về tác động của insulin;
- Bệnh tuyến tụy ngoại tiết;
- Các bệnh nội tiết;
- Thuốc hoặc hóa chất;
- Nhiễm khuẩn;
- Những thể ĐTĐ miễn dịch trung gian ít gặp;
- Một số hội chứng di truyền kết hợp với ĐTĐ.
máu liên tục nên chuyển hóa theo con đường này cũng tăng lên rõ rệt, kết quả tạo ra
fructose và sorbitol. Sorbitol không dễ dàng đi qua màng tế bào nên tích tụ trong tế
bào, gây hậu quả xấu lên các tế bào như:
+ Tăng áp lực thẩm thấu trong các tế bào;
+ Biến đổi hệ thống coenzim oxy hóa khử về tỷ lệ NAD
+
/NADH và
NADP
+
/NADPH làm giảm nồng độ glutathion, acid ascobic, vitamin E là các chất
chống lại các gốc tự do gây độc với các tế bào;
+ Tăng quá trình chuyển hóa myoinositol làm giảm lượng myoinositol (chất
điều hòa hoạt động của Na
+
-K
+
-ATPase), do đó gây rối loạn tính thấm của màng tế
bào.
- Đường hóa protein không cần enzim (glycation): khi tăng glucose mạn tính thì
phản ứng này trở nên mạnh tạo nên những sản phẩm tận bậc cao là AGE (Advanced
Glycosylation End products). Các sản phẩm này có thể tác động tới chức năng của
nhiều loại protein và gây tác động qua vai trò trung gian gốc tự do trong quá trình gây
nên những biến chứng mạn tính ở người ĐTĐ. AGE gắn đồng hóa trị với các protein
20
(như lipoprotein trọng lượng thấp albumin và IgG); gắn với các yếu tố thành mạch gây
rối loạn cấu trúc 3D của protein, làm biến đổi lớp anion proteoglycan làm thay đổi diện
tích trên thành mạch và tương tác với các protein vận chuyển của mạch máu. Ngoài ra
AGE còn gắn với các protein tổ chức nhất là colagen, đặc biệt là các colagen ở màng
cơ bản ở các màng đáy cần thận. Nó làm màng đáy dầy lên và phá hủy lớp hepafan
sulfat làm màng đáy cầu thận bị tổn thương khiến các lỗ lọc rộng ra. Đây là lý do xuất
phân VLDL. Những tiểu phần này có tỷ trọng trung bình, là yếu tố xơ vữa động mạch.
ĐTĐ tăng triglycerid kết hợp với sự thay đổi kích thước và tỷ trọng của tiểu
phần LDL với sự tăng nồng độ của tiểu phần nhỏ. Tiểu phần nhỏ LDL có thể thúc đẩy
tiềm năng xơ vữa vì tăng sự nhạy cảm với sự oxy hóa và tăng ái lực gắn với lớp
glycosaminoglycan của động mạch [20], [1], [22].
b/ Bệnh lý mắt ở bệnh nhân ĐTĐ
Hiện nay 10% bệnh nhân ĐTĐ có bệnh lý võng mạc, sau 10 năm tỷ lệ này là 30
– 35%, sau 20 – 30 năm là 80%. Tình trạng tăng nồng độ glucose mạn tính trong máu
gây ra hiện tượng glycosyl hóa tạo thành các gốc tự do. Các gốc tự do sẽ tác dụng trực
tiếp hoặc gián tiếp dập tắt NO – chất được nội mô sản xuất có tác dụng dãn mạch phụ
thuộc nội mô. Các gốc tự do cũng làm tăng sinh tế bào cơ trơn. Hậu quả là gây ra lòng
mạch máu thắt hẹp, độ mềm mại và giãn mạch bị giảm. Giảm sự giãn mạch gây ra rối
loạn huyết động, gây tình trạng thiếu oxy tổ chức. Nguyên nhân thiếu oxy tổ chức cũng
còn do hiện tượng glycosyl hóa Hb tạo thành HbAc1, đồng thời với sự glycosyl hóa
2.3. diphotphosglycerat mutase (2.3. DPG) làm cho nồng độ 2.3. DPG giảm trong hồng
cầu, dẫn tới khả năng tách oxy ra khỏ Hb ở tổ chức giảm. Hậu quả là: – Thay đổi về
huyết động học, tăng dòng máu và giảm sự điều hòa tuần hoàn võng mạc; - Tăng tính
thấm mao mạch, gây phù và xuất tiết; - Hẹp và tắc các vi mạch kéo dài gây hiện tượng
tự sửa chữa bằng cách phát triển các mạch máu tân tạo. Tổn thương các mạch máu
22
võng mạc mắt ở bệnh nhân ĐTĐ là những biểu hiện lâm sàng rõ nhất của rối loạn các
vi mạch máu. Ở đây có hiện tượng tăng sinh trong tổ chức lưới võng mạc và các mạch
máu tân tạo, xuất huyết nhiều và rộng, có thể bong võng mạc và gây ra hiện tượng mù.
Bệnh ĐTĐ còn gây ra đục thủy tinh thể, tỷ lệ chiếm từ 22 – 30%. Đục thủy tinh
thể ở người bệnh ĐTĐ là kết quả của sự hư hỏng tính thẩm thấu của thủy tinh thể vì
hoạt động của con đường chuyển hóa polyol, glucose sẽ bị khử thành sorbitol, lượng
sorbitol tích lũy nhiều (sự khuếch tán ra ngoài thủy tinh thể rất chậm) làm tăng thẩm
thấu thủy tinh thể, từ đó ảnh hưởng đến cấu trúc hữu cơ của những protein có tính
trong suốt ở tế bào thủy tinh thể, làm tăng tỷ lệ tập trung và biến tính các protein này.
Hậu quả là tại đó xảy ra sự tăng đặc tính phân tán ánh sáng. Đó chính là hiện tượng đục
bệnh nhân ĐTĐ týp 2 là người Mỹ gốc Mêhicô trong 8 năm thấy có 67 bệnh nhân tử
vong và 60% là do bệnh mạch vành [20], [1], [22] .
Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng
huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ gấp đôi so với người bình thường. Trong ĐTĐ týp 2, 50%
ĐTĐ mới được chẩn đoán có tăng huyết áp. Tăng huyết áp ở người ĐTĐ týp 2 thường
kèm theo các rối loạn chuyển hoá và tăng lipid máu [4], [71].
Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân ĐTĐ gấp 1,5 - 2 lần, viêm
động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình, khoảng 80% bệnh nhân ĐTĐ
mắc thêm các bệnh liên quan đến tim mạch [20].
e/ Bệnh thần kinh do ĐTĐ
Bệnh thần kinh do ĐTĐ gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30% bệnh nhân
ĐTĐ có biểu hiện biến chứng này. Người bệnh ĐTĐ týp 2 thường có biểu hiện thần
kinh ngay tại thời điểm chẩn đoán.
24
Bệnh thần kinh do ĐTĐ thường được phân chia thành các hội chứng lớn sau:
viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần
kinh vận động gốc chi [20], [22].
1.4.6. Các thuốc điều trị bệnh ĐTĐ
Đã có rất nhiều loại thuốc điều trị ĐTĐ đang được sử dụng hiện nay. Dựa vào
tác dụng và cơ chế tác dụng có thể chia chúng thành 3 nhóm chính:
- Insulin và các thuốc kích thích tế bào β bài tiết insulin như các sulfonylurea,
meglitinnide và nateglinide.
- Các thuốc cải thiện tình trạng kháng insulin ở tế bào đích như biguanide,
thiazolidinedion.
- Các thuốc chống tăng glucose huyết sau bữa ăn bằng cách ức chế enzyme phân
giải tinh bột như acarbose.
Tuy nhiên, việc sử dụng các thuốc trên còn gây ra một số tai biến và tác dụng
không mong muốn. Ví dụ, insulin gây phản ứng dị ứng, loạn dưỡng mô ở chỗ viêm,
tăng đường huyết hồi ứng; sử dụng các sulfonylurea gây dị ứng ngoài da, rối loạn tiêu
trọng.
ĐTĐ type 2: với chuột cống, tiêm STZ liều 100mg/kg vào ngày đầu tiên sau khi
sinh. Với chuột nhắt có thể nuôi với chế độ dinh dưỡng giàu lượng mỡ sau đó tiêm
STZ với liều 50 - 100mg/kg.
STZ được nhận biết và xâm nhập vào tế bào β qua kênh vận chuyển glucose
GLUT2. Hoạt động của nó trong tế bào làm tổn thương và alkyl hóa ADN và cuối cùng