Giải pháp nhằm nâng cao công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập Việt Nam - Pdf 29

1
MUÏC LUÏC

Lời mở đầu
Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm soát
chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập

1.1. Tổng quan về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán ....................... 05
1.1.1. Khái niệm chất lượng hoạt động kiểm toán và kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán ....................................................................... 06
1.1.2. Các cấp độ của kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán....................... 07
1.1.2.1. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán từ bên trong.................. 08
1.1.2.2. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán từ bên ngoài................... 08
1.2. Kiểm soát chất lượng từ bên trong theo chuẩn mực kiểm toán
quốc tế........................................................................................................... 09
1.2.1. Lịch sử phát triển chuẩn mực kiểm soát chất lượng .................................. 09
1.2.2. Nội dung của chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 hiện hành.................. 11
1.2.3. Nội dung chuẩn mực quốc tế
về kiểm soát chất lượng dịch vụ
đảm bảo ...................................................................................................... 13
1.3. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại Hoa kỳ ............................ 18
1.3.1. Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Hoa Kỳ.......................................... 18
1.3.1.1. Lược sử kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Hoa Kỳ..................... 18
1.3.1.2. Các Ủy ban phụ trách kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán ..................................................................................................... 21
1.3.2. Kiểm soát chất lượng từ bên trong tại Hoa Kỳ .......................................... 24
1.4. Kiểm soát chất lượ
ng hoạt động kiểm toán tại Pháp................................ 24
1.4.1. Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Pháp ............................................... 24
1.4.1.1. Lược sử kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Pháp ......................... 24

ểm soát
chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập Việt Nam .................................. 39
2.2.1. Chuẩn mực Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm (VAS 220) ................. 39
3
2.2.2. Các quy định pháp lý liên quan đến kiểm soát chất lượng kiểm
toán độc lập từ bên ngoài ........................................................................... 40
2.3. Thực trạng về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại
Việt Nam....................................................................................................... 43
2.3.1. Thực trạng việc thiết lập chính sách kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán tại các công ty kiểm toán.................................................. 43
2.3.1.1. Đối với các công ty kiểm toán thuộc Big four tại Việt Nam............... 43
2.3.1.2. Đối với các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô trung
bình trở lên (trên 50 nhân viên).......................................................... 45
2.3.1.3. Đối v
ới các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ.................... 48
2.3.2. Thực trạng việc thực hiện chính sách kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán tại các công ty kiểm toán.................................................. 49
2.3.2.1. Tại các công ty kiểm toán thuộc Big four ở Việt Nam ....................... 49
2.3.2.2. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô trung bình
trở lên (trên 50 nhân viên) ................................................................. 50
2.3.2.3. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ .......................... 53
2.3.3. Thực trạng về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán từ bên
ngoài........................................................................................................... 55
2.3.3.1. Hoạt động kiểm soát chất lượng kiể
m toán của Bộ tài chính ............ 55
2.3.3.2. Hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán của Hội nghề
nghiệp ................................................................................................. 60
2.3.3.3. Hoạt động kiểm soát chất lượng của Ủy Ban chứng khoán
Nhà nước............................................................................................. 61
2.4. Ưu điểm và tồn tại trong công tác kiểm soát chất lượng hoạt

toán độc lập ........................................................................................ 82
3.3.4. Các giải pháp khác ..................................................................................... 93
Kết luận
5
LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do nghiên cứu đề tài:
Việt N
am đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế
(WTO) vào tháng 11/2006. Tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những cơ
hội thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn đó là sức ép
cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vì vậy, làm thế nào để nâng cao khả năng
cạnh tranh là một công việc mang tính cấp bách và sống còn của các doanh nghiệp,
trong đó có các doanh nghiệp kiểm toán. Theo lộ trình phát triển sau khi gia nhập
WTO, Việt Nam sẽ mở cửa hoàn toàn dịch vụ tài chính, trong đó có dịch vụ kế toán
- kiểm toán. Điều này dẫn đến một thực tế là thị trường tài chính, đặc biệt là dịch vụ
kế toán - kiểm toán, bảo hiểm cũng như thị trường chứng khoán sẽ có sự tham gia
của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Và do vậy, doanh nghiệp kiểm toán cũng như
các doanh nghiệp khác chịu sự canh tranh gay gắt. Muốn tồn tại và phát triển, các
doanh nghiệp kiểm toán phải hoàn thiện chất lượng hoạt động của mình.
Bên cạnh đó, từ khi nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004
của Chính phủ về việc “Chuyển công ty N
hà nước thành công ty cổ phần” có hiệu
lực, nhu cầu về xác định giá trị doanh nghiệp và kiểm toán trước khi cổ phần hóa
tăng lên một cách đột biến. Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ kiểm toán viên đạt
năng lực và trình độ chuyên môn cao để đáp ứng với nhu cầu này, nhằm xác định
một cách đúng đắn giá trị tài sản của Nhà nước trước khi cổ phần hóa, tránh những

- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về công tác kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán độc lập, một vấ
n đề chưa thật sự được các cơ quan chức năng và nhà
quản lý quan tâm trong những năm vừa qua.
- Tìm hiểu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán độc lập tại Việt Nam.
- Trên cơ sở thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập ở nước ta hiện nay, luận văn
đã đánh giá những ưu điể
m và tồn tại trong công tác kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập, từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng trong công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán độc lập tại Việt Nam.
4. Phương pháp luận nghiên cứu:
Đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp
phân tích, suy luận, điều tra và tổng hợp. Trong phần đánh giá thực trạng, tác giả
tiến hành các cuộc khảo sát thông qua phương pháp:
- Phỏng vấn các nhà quản lý cấp cao đang làm việc t
ại các Công ty kiểm toán độc
lập ở Việt Nam.
7
- Gửi phiếu khảo sát: Tìm hiểu công tác soát xét chất lượng hoạt động kiểm toán
tại một số Công ty kiểm toán độc lập thông qua các các câu hỏi ghi trên phiếu
khảo sát.
- Tìm hiểu và trao đổi với các nhà nghiên cứu, chuyên viên trong lĩnh vực kiểm
toán.
- Sử dụng kết quả của các cuộc kiểm soát chất lượng hoạt động
kiểm toán tại các
Công ty kiểm toán độc lập do Bộ tài chính tiến hành trong những năm qua.
- Tổng hợp các tài liệu hội thảo và tạp chí chuyên ngành để rút ra những tồn tại
trong công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập và các bài học

rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý. Từ đó, xuất hiện nhu cầu cần kiểm tra của
người chủ sở hữu để chống lại sự gian lận của người quản lý lẫn người làm công.
Kiểm toán độc lập đã ra đời vào thế kỷ 18 nhằm
đáp ứng cho nhu cầu này. Đến thế
kỷ 19, với việc bành trướng thuộc địa của Anh đã kéo theo sự mở rộng đầu tư của
các nhà tư bản Anh sang các quốc gia thuộc địa. Do sự cách trở về địa lý nên các
nhà đầu tư cần có người giám sát các khoản đầu tư khi họ vắng mặt, nhiệm vụ này
đã được trao cho các kiểm toán viên. Trong thời kỳ này, để tăng độ tin cậy vào kiểm
toán viên, các nhà đầu tư Anh chỉ cấ
m kiểm toán viên làm việc cho công ty được
kiểm toán hơn là chú trọng vào chất lượng của các cuộc kiểm toán do kiểm toán
viên thực hiện.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, do có sự dịch chuyển vốn từ quốc gia này
sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ,
đường sắt, nhiên liệu,... đã dẫn đến sự thay đổi trong quan điểm về mục đích, bản
chất và nguồ
n vốn đầu tư vào các công ty. Từ đó nhiệm vụ của kiểm toán viên
chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng nhiều hơn là lợi ích của người
chủ sở hữu vắng mặt. Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa
phương, mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn và nhóm này ngày
càng gia tăng. Chính nhóm cổ đông này đã làm thay đổi quan điểm v
ề chất lượng
của hoạt động kiểm toán, vì họ mong muốn rằng những thông tin mà họ nhận được
từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán mang tính trung thực và khách quan cao.
Chính vì thế, vào thời gian này các công ty kiểm toán bắt đầu chú trọng đến công
9
tác kiểm soát chất lượng hoạt động của mình với mục tiêu là đem đến cho người sử
dụng những thông tin có chất lượng tốt nhất.
Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, yêu cầu của xã hội đối với kiểm
toán ngày càng cao. Kiểm soát chất lượng ngày càng trở thành mối quan tâm hàng

mãn đối với tính khách quan và độ tin
cậy của kết quả kiểm toán;
10
- Mức độ đơn vị được kiểm toán thỏa mãn về ý kiến đóng góp nhằm mục đích
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh;
- Báo cáo kiểm toán được lập và phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong
hợp đồng kiểm toán và chi phí dịch vụ kiểm toán ở mức hợp lý.
Do vậy, m
uốn nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán đòi hỏi phải có sự
kiểm soát chất lượng. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán là một bộ phận cấu
thành trong quy trình thực hiện dịch vụ kiểm toán nhằm cung cấp dịch vụ với chất
lượng cao. Nó là một quá trình trong đó công ty kiểm toán thực hiện nhiều thủ tục
như hướng dẫn, giao việc, giám sát, kiểm tra công việc mà các kiểm toán viên thực
hiện và kiểm tra các nhận xét, kết luận của nhóm kiểm toán trước khi phát hành báo
cáo kiểm toán.
1.1.2. Các cấp độ của kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:
Chất lượng kiểm toán đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra uy tín
của các công ty kiểm toán nói riêng và uy tín nghề nghiệp nói chung của mỗi một
quốc gia. Vì vậy, ngoài việc chịu sự kiểm soát của hệ thống kiểm soát chất lượng
ngay trong bản thân công ty, chất lượng kiểm toán còn chịu sự kiểm tra từ bên
ngoài của các cơ quan chứ
c năng, hội nghề nghiệp và các công ty kiểm toán khác.

1.1.2.1. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập từ bên trong:
Tùy vào quy mô và năng lực, mỗi công ty kiểm toán tự xây dựng một quy
trình kiểm soát chất lượng phù hợp, nhưng nhìn chung quy trình kiểm soát chất
lượng bao gồm các giai đoạn sau: Đánh giá khách hàng trong giai đoạn chấp nhận
khách hàng mới và duy trì khách hàng cũ, kiểm soát chất lượng hồ sơ kiểm toán để
nâng cao chất lượng thực hiện kiểm toán, đánh giá sự hài lòng của khách hàng.
1.1.2.2. Kiểm soát chất lượng hoạt động

guyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế. Trong các nguyên tắc chỉ đạo
kiểm toán quốc tế, có nguyên tắc số 7 bàn về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán. Nguyên tắc này đưa ra hướng dẫn về những phương pháp mà công ty kiểm
toán áp dụng nhằm kiểm soát các công việc ủy thác cho các trợ lý trong một cuộc
kiểm toán; những qui chế, các bước công việc mà một công ty kiểm toán cần thiết
lập để đảm bảo chất lượng kiểm toán như [25
]:
- Giao việc: công việc kiểm toán phải được giao cho kiểm toán viên có đầy đủ
năng lực và trình độ; kiểm toán viên phải xem xét kỹ năng và trình độ của
các trợ lý trong quá trình làm việc để xác định phạm vi hướng dẫn, giám sát
12
và soát xét lại.
- Hướng dẫn:
những trợ lý được giao việc đều phải được hướng dẫn cặn kẽ.
Việc hướng dẫn bao gồm: thông báo cho họ về trách nhiệm, mục đích, các
bước công việc cần thực hiện và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp,
những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện công việc kiểm toán.
- Giám sát:
trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán cán bộ phụ trách giám sát
nhằm bảo đảm rằng: các trợ lý tỏ ra có đầy đủ kỹ năng, trình độ nghiệp vụ để
thực hiện công việc mà mình được giao; các trợ lý hiểu rõ các hướng dẫn
kiểm toán. Tiến hành giải quyết sự khác nhau về mặt xét đoán nghiệp vụ
giữa các cán bộ cùng tham gia cuộc kiểm toán.
- Soát xét lại:
các phần việc do các trợ lý thực hiện cần phải được người thứ
hai có trình độ tương đương hoặc cao hơn soát xét lại. Trong một cuộc kiểm
toán có thể xác định các giai đoạn soát xét chính sau: Soát xét kế hoạch kiểm
toán và chương trình kiểm toán ban đầu; Soát xét việc nghiên cứu và đánh
giá các quy
chế kiểm soát nội bộ kể cả các phương pháp tuân thủ; Soát xét

kiểm soát chất lượng quốc tế
(ISCQ) được áp dụng cho tất cả các dịch vụ nằm trong
phạm vi quy định bởi IAASB và chuẩn mực ISA 220 “Kiểm soát chất lượng hoạt
động kiểm toán áp dụng cho kiểm toán các thông tin tài chính lịch sử”.
1.2.2. Nội dung của chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 hiện hành:
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 hiện hành (có hiệu lực 15/06/2005) có tên là
Kiểm soát chất lượng cho các cuộc kiểm toán về thông tin tài chính lịch sử .
Chuẩn mực trình bày các nội dung cơ bản sau:
a. Mục đích của chuẩn mực là qui định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng
dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản trong việc kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán trên các phương diện:
- Các chính sách và thủ tục của công ty kiểm toán liên quan đến hoạt động
kiểm toán;
- Những thủ t
ục liên quan đến công việc được giao cho kiểm toán viên và trợ
lý kiểm toán trong một cuộc kiểm toán cụ thể.
b. Trách nhiệm của người lãnh đạo về chất lượng cuộc kiểm toán:

Chủ phần hùn phụ trách hợp đồng phải chịu trách nhiệm chung về chất lượng của
hợp đồng kiểm toán mà họ phụ trách.
c. Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp:
Cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp của công ty kiểm toán phải tuân thủ các nguyên
tắc đạo đức nghề nghiệp được quy định ở phần A và B của chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp do IFAC ban hành, gồm: chính trực, khách quan, năng lực chuyên môn, tính
thận trọng, bí mật, tư cách nghề nghiệp.
14
d. Tính độc lập:
Chủ phần hùn phụ trách hợp đồng kiểm toán cần đưa ra kết luận về sự tuân thủ yêu
cầu độc lập áp dụng cho cuộc kiểm toán phù hợp phần B của chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp do IFAC ban hành.

- Dừng việc phát hành báo cáo cho đến khi thực hiện đầy đủ việc kiểm soát
chất lượng hợp đồng.
l. Giám sát:
Công ty cần thiết lập chính sách và thủ tục để cung cấp bảo đảm hợp lý rằng chính
sách thủ tục liên quan đến hệ thống kiểm soát là phù hợp, đầy đủ, hoạt động hữu
hiệu và áp dụng trong thực tế.
1.2.3. Nội dung chuẩn mực quốc tế về kiểm soát chất lượng dịch vụ đảm bảo:
Sự sụp đổ của các tập đoàn lớn như Enron, Worldcom, Hyundai và Xerox đã
khiến công chúng chú ý nhiều đến chất lượng các công ty kiểm toán cùng với sự
phát triển nhiều dịch vụ mới, IAASB đã tái cấu trúc hệ thống chuẩn mực kiểm toán
quốc tế. Trong hệ thống chuẩn mực hiện hành, có chuẩn mực kiểm soát chất lượng
quốc tế số 1 (ISQC1 - International Standard on Quality Control có hiệu lực từ ngày
15/6/2005). Chuẩn mực này áp dụng để kiểm soát chất lượng đối với những công ty
thực hiện việc kiểm toán, soát xét thông tin tài chính, các dịch vụ đảm bảo và các
dịch vụ liên quan khác.
Về cơ bản ISQC1 không có khác biệt nhiều so với ISA 220. Nội dung chính
là yêu cầu các công ty thiết lập một hệ thống kiểm soát chất lượng trên toàn công ty
để cung cấp địch vụ, nhằm đảm bảo rằng:
- Công ty và nhân viên của mình tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp, các
quy định và yêu cầu của pháp luật;
- Các báo cáo do công ty hoặc các chủ phần hùn phụ trách kiểm toán là
phù hợp với hoàn cảnh.
Để đạt đượ
c mục tiêu của công tác kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán, các công ty kiểm toán phải xây dựng một hệ thống kiểm soát chất lượng mang
tính toàn diện. Nội dung chính của chuẩn mực đề cập đến các vấn đề chính sau
đây:
a. Trách nhiệm của người lãnh đạo đối với chất lượng kiểm toán của công ty:
Công ty nên thiết lập các chính sách và thủ tục để tạo thành văn hóa của công
ty dựa trên quan điểm chất lượng là tiêu chuẩn hàng đầu. Chất lượng hoạt động

Cần phải thông tin, báo cáo về những trường hợp vi phạm tính độc lập.
Ngoài ra cần phải có xác nhận bằng văn bản, ít nhất là thường niên về sự tuân thủ
các yêu cầu về tính độc lập của tất cả nhân viên trong công ty.
Các công ty cũng cần phải thiết lập các phương tiện bảo vệ để đảm bảo tuân
thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp (ví dụ như: luân chuyển công tác, kiểm tra
17
hồ sơ kiểm toán sau khi báo cáo kiểm toán đã được ban hành), sử dụng nhân viên có
kinh nghiệm công tác lâu năm về dịch vụ bảo đảm. Cần cân nhắc những yếu tố đặc
biệt khác được áp dụng cho những người làm việc với các hợp đồng dịch vụ cho các
công ty niêm
yết.
c. Duy trì và chấp nhận khách hàng:
Trong quá trình duy trì khách hàng hiện hữu
và đánh giá khách hàng tiềm
năng, công ty kiểm toán phải cân nhắc đến tính độc lập, thời gian, năng lực của
công ty kiểm toán và tính chính trực của khách hàng khi chấp nhận thực hiện hợp
đồng.
Công ty kiểm toán phải thiết lập các chính sách và thủ tục về chấp nhận và
duy trì các quan hệ với khách hàng và các hợp đồng kiểm toán khi công ty đã cân
nhắc đến tính chính trực của khách hàng, trình độ chuyên môn và thời gian để thực
hiện cuộc kiểm toán.
d. Nguồ
n nhân lực:
Cán bộ, nhân viên chuyên nghiệp của công ty kiểm toán phải có kỹ năng và
năng lực chuyên môn, phải thường xuyên duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức để
hoàn thành nhiệm vụ được giao. Công việc kiểm toán phải được giao cho những cán
bộ, nhân viên chuyên nghiệp có đủ trình độ và kinh nghiệm thực hiện, đáp ứng
được yêu cầu thực tế.
Công ty kiểm toán nên thiết lập các chính sách và thủ tục để giải quyết
những v

Giám sát là sự đánh giá mộ
t cách thường xuyên và định kỳ của các nhà quản
lý đối vối hệ thống kiểm soát chất lượng nhằm xem xét hoạt động của nó có đúng
như thiết kế và cần phải điều chỉnh gì cho phù hợp với thực tiễn không.
Công ty kiểm toán phải thiết lập các chính sách và thủ tục liên quan đến việc
đánh giá liên tục, xem xét và giám sát tính phù hợp, thích đáng, hiệu quả hoạt động
và sự tuân thủ hệ th
ống kiểm soát chất lượng của công ty. Các chính sách và thủ tục
đó phải có sự cân nhắc và đánh giá về hệ thống kiểm soát chất lượng của công ty
đang được tiến hành, bao gồm kiểm tra định kỳ có lựa chọn các hợp đồng kiểm toán
đã thực hiện.
Phải thường xuyên theo dõi kiểm tra và báo cáo thường niên cho Ban giám
đốc tính đầy đủ và tính hiệu quả trong quá trình thực hiện các chính sách và thủ tục
kiểm soát chất lượ
ng hoạt động kiểm toán, nhằm đánh giá sự tuân thủ các chuẩn
19
mực nghề nghiệp, quy định và các yêu cầu của pháp luật.
Quá trình kiểm tra bao gồm việc lựa chọn các hợp đồng kiểm toán, một số
hợp đồng trong số được chọn có thể không được báo trước. Người thực hiện kiểm
tra các dịch vụ kiểm toán này không được tham gia thực hiện các dịch vụ kiểm toán.
Trong quá trình xác định phạm vi của các cuộc kiểm tra công ty có thể xét đến
phạm vi hoặc các kế
t luận của một chương trình kiểm tra bên ngoài độc lập.

Những sai sót mang tính hệ thống, lập đi lập lại hoặc các sai sót quan trọng
khác cần phải lập tức được sửa chữa. Có thể tiến hành khắc phục đối với những sai
sót phát sinh bằng một trong các biện pháp sau:
- Hành động khắc phục liên quan đến hợp đồng kiểm toán
hoặc nhân sự;
- Liên hệ với những người chịu trách nhiệm đào tạo và phát triển nghề nghiệp;

kiểm tra này.
Hơn nữa, v
ào giữa thập niên 70 và đầu thập niên 80, đã xảy ra sự phá sản của
một số ngân hàng tại Hoa kỳ, trong đó có lỗi các công ty kiểm toán. Ủy ban chứng
khoán Hoa K
ỳ đã gây áp lực lên Hội nghề nghiệp kiểm toán. Vấn đề đặt ra là nghề
nghiệp chấp nhận vai trò tự kiểm soát hay là để cho Chính phủ đảm nhận trách
nhiệm thay họ. Dưới áp lực này, Hội nghề nghiệp đã đứng ra đảm nhận nhiệm vụ tự
kiểm soát. Năm 1987, AICPA đã chính thức yêu cầu bắt buộc kiểm tra chéo trong
các công ty kiểm toán ba
năm một lần. Năm 1988, AICPA đã phê chuẩn hai chương
trình kiểm tra chéo khác nhau. Chương trình kiểm tra chéo cho các công ty kiểm
toán kiểm toán
cho các công ty niêm yết, để thực hiện tiểu ban phụ trách kiểm tra
chéo phải phối hợp với tiểu ban của Ủy ban chứng khoán (SECPS - Securities and
Exchange Commission Practice Section) phụ trách tài chính, kế toán. Chương trình
còn lại (PCPS) tiến hành kiểm tra
cho các công ty kiểm toán kiểm toán cho các
công ty không phải là công ty niêm yết.
Trong giai đoạn đầu,
kiểm tra chéo được xem như chương trình giáo dục
nhằm giúp các công ty thấy rõ các khiếm khuyết trong quá trình thực hiện nhằm gia
tăng chất lượng kiểm toán hơn là để đưa ra biện pháp kỷ luật. Do vậy, kết quả của
kiểm tra chéo thường bảo mật tuyệt đối.
Cùng với sự phát triển, việc kiểm tra này không chỉ nhằm giúp các
công ty
kiểm toán nhận thức các khiếm khuyết mà còn giúp công chúng gồm cả các chủ nợ,
các người sử dụng khác, các nhà lập pháp cũng như khách hàng biết rõ về chất
21
lượng hoạt động kiểm toán. Công chúng hy vọng qua kết quả kiểm tra sẽ có thể

và làm thay đổi từ mô hình tự kiểm soát sang mô hình có sự kiểm soát của Nhà
nước. Trong đạo luật Sarbanes-Oxley có đưa ra quy định như cho phép Ủy ban
giám sát kế toán và kiểm toán các công ty niêm yết (PCAOB - Public Company
Accounting Oversight Board) thuộc SEC sẽ:
+
Quản lý việc đăng ký các công ty kiểm toán được phép kiểm toán cho các
22
công ty niêm yết;
+
Thiết lập hay chấp nhận bằng luật lệ đối với các quy định liên quan đến
kiểm soát chất lượng, đạo đức, tính độc lập và các chuẩn mực khác liên
quan đến việc soạn thảo báo cáo kiểm toán;
+
Thực hiện việc giám sát đối với các công ty kiểm toán.
1.3
.1.2. Các Ủy ban phụ trách kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán:
Hiện nay, kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán Hoa Kỳ được thực hiện bởi các
ủy ban sau:
1.3
.1.2.1. Ủy ban giám sát hoạt động kiểm toán các công ty niêm yết (PCAOB -
Public Company Accounting Oversight Board):
Như ta đã biết, cho đến năm 2002, nghề nghiệp kiểm toán ở Hoa Kỳ được
thực hiện theo hệ thống tự kiểm soát, hệ thống này luôn được cải thiện để đáp ứng
lòng tin của công chúng về tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính.
Đến năm 1977, Thượng viện Hoa K
ỳ đã thảo luận để xem liệu Nhà nước có
cần ban hành các quy định để can thiệp đối với nghề nghiệp hay vẫn để cho hệ
thống tự kiểm soát. Vì thế, vào ngày 17/9/1977, sau khi thỏa thuận với SEC,
AICPA đã thiết lập một khuôn khổ tự kiểm soát bằng cách:
- Thành lập một tiểu ban trực thuộc AICPA phụ trách các công ty kiểm toán.

kiểm soát chất lượng hữu hiệu và đã tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp.
Cùng với việc kiểm tra chéo đối với các công ty kiểm toán kiểm toán cho các
công ty niêm yết, chương trình này còn thực hiện cho các công ty kiểm toán kiểm
toán cho các công ty không niêm yết. Tương tự như kiểm tra chéo đối với thành
viên của SECPS (Bộ phận phụ trách kiểm toán của SEC), việc kiểm tra các công ty
kiểm toán kiểm toán cho các công ty không niêm yết được giám sát bởi Ủy ban
kiểm tra chéo của AICPA.
Các công ty kiểm toán được tự chọn các công ty khác để kiểm tra cho công
ty mình theo định kỳ ba
năm một lần. Đây là yêu cầu bắt buộc và được xem như là
một phần trong chương trình tự kiểm soát của nghề nghiệp theo quy định của
AICPA, đây cũng là một phần của kế hoạch tái cấu trúc tổ chức nghề nghiệp.
1.3
.1.2.3. Ủy ban điều tra chất lượng (QCIC-Quality Control Inquiry Committee):
QCIC thành lập vào năm 1979 nhằm điều tra các cuộc kiểm toán được cho là
không tuân thủ đầy đủ chuẩn mực chuyên môn (có khiếm khuyết) nhằm bảo đảm
hợp lý rằng các công ty kiểm toán đã tuân thủ chuẩn mực nghề nghiệp và gia tăng
tính hữu hiệu của quá trình kiểm toán.
24
SECPS phải báo cáo cho QCIC về bất cứ các vụ kiện tụng nào, hay bất cứ
trường hợp nào được cho là có khiếm khuyết trong việc thực hiện kiểm toán của các
công ty kiểm toán đối với khách hàng của SEC. Cuộc điều tra của QCIC thường
phải hoàn tất trong vòng 5-6 tháng, nếu QCIC phát hiện bất cứ các khiếm khuyết
hay yếu kém nào trong hệ thống kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán, họ sẽ
yêu cầu công ty phả
i điều chỉnh ngay hệ thống.
Mục tiêu chính các cuộc điều tra của QCIC là nhằm xác định liệu sai phạm
của công ty kiểm toán có mang tính hệ thống hay không. Tuy nhiên, nếu qua điều
tra và nhận thấy rằng có sai phạm về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên, họ sẽ
chuyển sang cho Ủy ban đạo đức nghề nghiệp (PEEC - Division of Professional

xét duyệt khách hàng cũ, tham khảo ý kiến.
1.4
. Kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán tại Pháp:
1.4.1. Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Pháp:
1.4.1.1. Lược sử kiểm soát chất lượng từ bên ngoài tại Pháp:
Hoạt động kiểm toán của Pháp chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quy định của
các cơ quan chức năng của Nhà nước. Hoạt động kiểm toán độc lập của Pháp hình
thành từ sự ra đời của Luật Thương mại (1863) và Luật Công ty (1867), trong hai
luật này đã đề cập đến thuật ngữ kiểm toán.
Sau đó, Luật Thương mại đã bổ sung nhiều yêu cầu liên quan đến việc hành
nghề kiểm toán, ví dụ đề cập đến việc thành lập tổ chức nghề nghiệp kiểm toán và
kiểm soát nghề nghiệp. Theo quy định của Luật Công ty, chỉ những ngườ
i có tên
trong danh sách chính thức của kiểm toán viên mới được thực hiện cuộc kiểm toán
theo luật định. Kiểm toán viên có thể hành nghề dưới danh nghĩa cá nhân hay công
ty. Tất cả kiểm toán viên hành nghề đều phải là thành viên của Liên đoàn quốc gia
các c
huyên viên kế toán (CNCC - Compagnie Nationale des Commissaires aux
Comptes), CNCC đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp.
Chính vì vậy, hoạt động kiểm toán không chỉ chịu sự giám sát của từng công
ty kiểm toán mà còn chịu sự giám sát bởi các cơ quan chức năng có liên quan.
1.4
.1.2. Các cơ quan chịu trách nhiệm kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm
toán:
1.4
.1.2.1. Ủy ban tối cao của kiểm toán viên (Haut conseil du commissaire aux
comptes - H3C) :
Ủy ban tối cao của kiểm toán viên chịu trách nhiệm kiểm soát chất lượng
hoạt động kiểm toán, Ủy ban này được
thành lập là do yêu cầu của Luật thương mại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status