Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam - Pdf 29

1 MỤC LỤC

Trang

Mở đầu 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Lịch sử vấn đề 3

3. Mục đích nghiên cứu 8

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5. Phương pháp nghiên cứu 8

6. Đóng góp của luận văn 9

7. Cấu trúc luận văn 9

Nội dung 10

Chương 1.Những vấn đề lý luận chung về nhân vật và truyện cổ tích
sinh hoạt
10

1.1. Truyện cổ tích sinh hoạt 10


78

3.1. Nhân vật được thể hiện thông qua lời kể 78

2 3.2. Nhân vật được đặt trong mối quan hệ giữa không gian và thời gian 88

3.3. Nhân vật được đặt trong các mối xung đột 96

Kết luận 106

Tài liệu tham khảo 108

Phụ Lục 111
chất trí tuệ, sự lãng mạn bay bổng nhưng vẫn mang một vẻ đẹp bình dị rất đời
thường. Mỗi câu chuyện là kết tinh của lòng nhân ái và bản lĩnh kiên cường,
của hiện thực và ước mơ, của niềm vui và nỗi buồn, của hạnh phúc và khổ
đau. Đọc truyện cổ tích, ta như được trở về với tâm hồn dân tộc buổi ấu thơ
để rồi được hiểu thêm về cách cảm, cách nghĩ của người lao động xưa.
1.1. Trong hệ thống thể loại văn học dân gian, truyện cổ tích thường
được xác định là một thể loại “lớn và quan trọng bậc nhất”, bao gồm các tiểu
loại: cổ tích loài vật, cổ tích thần kì, cổ tích sinh hoạt (còn gọi là cổ tích thế
sự). Trong đó, truyện cổ tích sinh hoạt là một tiểu loại khá tiêu biểu, chứa
đựng những giá trị riêng về nội dung biểu đạt cũng như nghệ thuật phản ánh.
Nếu truyện cổ tích thần kì hấp dẫn người nghe bởi yếu tố hoang đường, làm
nên cái kết thúc có hậu, thỏa mãn ước mơ thay đổi số phận của con người thì
truyện cổ tích sinh hoạt lại hấp dẫn người nghe bởi chính nét hiện thực sinh
động, với cái nhìn tỉnh táo của nhân dân trước hiện thực cuộc sống. Hay nói
4 cách khác, cái “thế giới cổ tích”, “không khí cổ tích” trong truyện cổ tích sinh
hoạt có phần “tương ứng” với thế giới thực tại, với những câu chuyện đời
thường được hình thành nên từ chính “chất liệu” hiện thực cuộc sống. Những
biểu hiện đặc sắc trên nhiều phương diện, cho thấy truyện cổ tích sinh hoạt
xứng đáng là một đối tượng khoa học cần phải được khám phá cặn kẽ. Tuy
nhiên, so với truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích sinh hoạt lại chưa nhận
được sự quan tâm thỏa đáng. Sự “thiếu hụt” đó, đã gợi ý cho chúng tôi tiếp
cận tiểu loại cổ tích hấp dẫn này.
1.2. Trong rất nhiều các vấn đề cần được nghiên cứu của loại hình tự sự
dân gian, vấn đề nhân vật luôn luôn được xác định là vấn đề trọng tâm. Với
truyện cổ tích sinh hoạt, nhân vật cũng có một vai trò quan trọng trong việc
hình thành và phát triển cốt truyện. Nếu nhân vật trong truyện cổ tích thần kì,
được xây dựng theo xu hướng lý tưởng hóa, trở thành hình mẫu đại diện cho

các thể loại khác được tách dần ra khỏi thể loại này. Đồng thời, vấn đề phân
loại truyện cổ tích thành các tiểu loại cũng được đặt ra, với những tiêu chí
khác nhau. Việc nghiên cứu truyện cổ tích, giờ đây bám sát vào những dấu
hiệu bản chất của tiểu loại và nghiên cứu truyện cổ tích sinh hoạt cũng không
tách rời quy luật này.
2.1. Nhìn lại lịch sử nghiên cứu nhân vật truyện cổ tích sinh hoạt, có
thể thấy đây là vấn đề đã được chú ý từ lâu, song phần lớn mới dừng lại ở
mức độ giới thiệu khái quát trong một số giáo trình chuyên ngành.
Năm 1973, trong giáo trình Văn học dân gian, tập II, tác giả Đinh Gia
Khánh - Chu Xuân Diên, đã có những phác thảo sơ lược về nhân vật trong
truyện cổ tích sinh hoạt qua việc chỉ ra nội dung, ý nghĩa của từng nhóm
truyện. Theo đó, có nhóm truyện “thông qua những kinh nghiệm sống mà rút
ra những kết luận nghiêm khắc, có ý nghĩa chua chát: thế tình có khi bạc bẽo,
con người có khi bất nhân”, có nhóm truyện: “đề cao phẩm chất tốt đẹp giữa
6 người với người”, có nhóm truyện: “về người thông minh, ứng đối tài tình,
phân xử sáng suốt”…[11]. Nhận xét sơ lược của các tác giả, thực chất là sự
khái quát các dạng nhân vật với những nét phẩm chất tốt đẹp hoặc xấu xa, tài
trí hay ngốc nghếch trong truyện cổ tích sinh hoạt.
Năm 1978, nhóm tác giả giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập I Văn
học dân gian, cũng chú ý tới nội dung hiện thực của truyện cổ tích sinh hoạt:
“nhiều truyện dạy bảo người ta đạo lí thông thường… hoặc cách xử thế cho
hợp lí hợp tình” [16] để từ đó khái quát nên những kiểu nhân vật khác nhau.
Năm 1990, trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam - tập 2,
Hoàng Tiến Tựu đi sâu vào vấn đề nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt
bằng cách so sánh với nhân vật truyện cổ tích thần kì. Tác giả khẳng định
rằng: “Nếu như đa số các nhân vật chính diện trong cổ tích thần kì thường thụ
động, bất lực trước hoàn cảnh thì ngược lại hầu hết các nhân vật trong cổ tích

cho rằng:“Truyện cổ tích sinh hoạt mang dáng dấp của những câu chuyện của
đời sống hàng ngày” [29; tr.23]. Đây là một công trình nghiên cứu về truyện
cổ tích sinh hoạt kĩ lưỡng và cơ bản nhất. Tác giả tiếp cận truyện cổ tích sinh
hoạt từ góc độ thi pháp như: kết cấu, xung đột, không gian, thời gian… Đặc
biệt về phương diện nhân vật, ông cho rằng: “truyện cổ tích sinh hoạt chỉ có
một số ít kiểu nhân vật, ít hơn so với số lượng kiểu nhân vật của truyện cổ
tích thần kì” [29; tr.24]. Theo đó, nhân vật được xác định thông qua các dạng
cơ bản:
- Nhân vật đức hạnh (người mẹ hiền, người con thảo, người vợ, người
chồng tình nghĩa,người dân lương thiện…)
- Nhân vật xấu xa (đứa con bất hiếu, người vợ, người chồng bất nghĩa,
người bạn bất lương…).
- Nhân vật mưu trí (trí xảo)
- Nhân vật khờ khạo (ngốc)
8 Gần đây, nhóm tác giả trường ĐHSP Hà Nội khi biên soạn Giáo trình
văn học dân gian (2012) cũng rất chú ý tới “mảng truyện về trí tuệ con người
và những truyện về đề tài đạo đức”. Trong đó, nhóm truyện về đề tài trí tuệ
mang tính giải trí rõ nét và nhân vật chính trong nhóm truyện này là “những
người thông minh, tài trí luôn thể hiện tài năng, phẩm chất qua các cuộc thi
tài, các tình huống đối đáp”. Đối lập với truyện về nhân vật thông minh là
truyện về nhân vật ngốc. Những truyện kể mang yếu tố hài “qua những hành
động khờ dại, ngô nghê của các nhân vật, truyện cổ tích đã đề cao trí khôn
một cách gián tiếp, phê phán những người ngốc một cách nhẹ nhàng” [26;
tr.123 - 124]. Bên cạnh đó, tác giả giáo trình còn đề cập đến nghệ thuật xây
dựng nhân vật truyện cổ tích sinh hoạt: “tác giả dân gian luôn lựa chọn những
chi tiết đắt, tiêu biểu của nhân vật để thể hiện chủ đề. Bởi vì, truyện cổ tích
sinh hoạt không nhằm dựng lại cuộc đời, số phận của nhân vật như trong

Cũng trong năm 2011, Phạm Thị Thu Huyền lại quan tâm tới kiểu nhân
vật trái ngược, với đề tài Kiểu truyện nhân vật thông minh trong tiểu loại
truyện cổ tích sinh hoạt người Việt [10]. Đây là công trình đi sâu nghiên cứu
một kiểu nhân vật trong hệ thống nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt với các
biểu hiện: nhân vật nhỏ tuổi dùng mưu mẹo giải đố, nhân vật dùng mưu mẹo
tham gia kén rể, nhân vật dùng mưu mẹo xét xử. Trong quá trình khảo sát tư
liệu, chúng tôi nhận thấy nhân vật thông minh còn là những người vợ, người
chồng hay người cha… trong gia đình. Mặc dù chưa bao quát hết các hình
thức biểu hiện về nhân vật thông minh song luận văn đã đem đến cho chúng
tôi một cái nhìn tương đối rõ ràng về một kiểu nhân vật độc đáo.
Có thể nói rằng, vấn đề nghiên cứu nhân vật trong truyện cổ tích sinh
hoạt đã được đặt ra trong một số công trình khoa học song trên thực tế chưa
có một công trình nào coi thế giới nhân vật của truyện cổ tích sinh hoạt là đối
tượng nghiên cứu chuyên biệt. Vì vậy, từ những gợi ý quý báu của những
10 người đi trước, chúng tôi tìm hiểu đề tài Thế giới nhân vật trong truyện cổ
tích sinh hoạt Việt Nam, nhằm phát hiện nét đặc trưng riêng biệt, độc đáo của
thế giới hình tượng nhân vật trong một tiểu loại cổ tích tiêu biểu.
3. Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài Thế giới nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam,
chúng tôi nhằm mục đích:
- Khai thác sâu hơn một phương diện đặc sắc của truyện cổ tích sinh
hoạt, đi đến những đánh giá có cơ sở khoa học về sự hiện diện của thế giới
nhân vật đa dạng trong truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích sinh hoạt
nói riêng.
- Tích lũy kiến thức chuyên ngành, nâng cao năng lực nghiên cứu và
giảng dạy văn học dân gian của tác giả luận văn.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

đặc trưng của tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam.
- Nghiên cứu truyện cổ tích sinh hoạt trên phương diện thi pháp học
nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu cũng như giảng dạy truyện cổ tích nói
riêng, văn học dân gian nói chung trong trường đại học.
- Khẳng định những đóng góp trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của
tiểu loại truyện cổ tích sinh hoạt trong hệ thống các thể loại văn học dân gian
Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung
chính gồm ba chương :
Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về nhân vật và truyện cổ tích sinh hoạt
Chương 2: Các kiểu loại nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt
Nam
12 NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ NHÂN VẬT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT

1.1. Truyện cổ tích sinh hoạt
1.1.1. Khái niệm truyện cổ tích sinh hoạt
Về truyện cổ tích nói chung, Từ điển thuật ngữ Văn học đưa ra khái
niệm: truyện cổ tích là “một thể loại truyện dân gian nảy sinh từ xã hội
nguyên thuỷ nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng
chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau
của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu
tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai

kì công xã nguyên thuỷ. Con người sống bình đẳng trong một cộng đồng lớn -
chưa có sự phân chia giai cấp, chưa có sự phân chia giàu nghèo, chưa có chế
độ người bóc lột người. Lúc này, tư duy của người nguyên thuỷ là lối tư duy
chất phác ngây thơ, cùng với nó là tính chất kì vĩ hào hùng của tư tưởng,
những tâm hồn, những nếp cảm nếp nghĩ chưa hề biết đến áp bức chiến tranh
xung đột đối kháng. Đúng như tác giả Đinh Gia Khánh đã từng nhận xét, đó
là xã hội mà trong đó tất cả những người đàn ông trong thị tộc đều là cha của
trẻ thơ, những người đàn bà đều là mẹ của trẻ thơ, người già được kính trọng,
người yếu được quan tâm.
Cho đến khi con người có thể khống chế được những thế lực bí hiểm
của thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên cũng là lúc thần thoại dần dần không còn
tồn tại. Có nghĩa là khi các yếu tố thần linh không còn ngự trị trong ý thức,
tinh thần; khi trình độ hiểu biết của con người được nâng lên, con người đã
tìm ra được những quy luật của cuộc sống, thì cũng có nghĩa thần thoại đã
hoàn thành được chức năng nhận thức và lí giải tự nhiên của nó.
14 Đó là lúc truyện cổ tích ra đời. Truyện cổ tích có thể được hình thành
trong thời kì công xã nguyên thuỷ nhưng đặc biệt nở rộ trong thời kì xã hội có
sự phân chia giai cấp, có mâu thuẫn đối kháng, có sự phân hoá giàu nghèo.
Đó là lúc xã hội thị tộc tan rã và nhường chỗ cho sự xuất hiện của những gia
đình riêng lẻ cùng với chế độ tư hữu. Theo tác giả Hoàng Tiến Tựu: “Nếu
hiểu nguồn gốc của truyện cổ tích như là nơi phát sinh đầu tiên của thể loại
này thì phải nói tới thần thoại và thời kỳ đầu tan rã của xã hội thị tộc nguyên
thuỷ. Gắn liền với hai yếu tố đó còn có yếu tố thứ ba là nhu cầu nhận thức và
lý giải hiện thực xã hội của con người trong điều kiện lịch sử nói trên” [27;
tr.43].
Như Mác nói rằng, con người nguyên thuỷ được phản ánh trong thần
thoại chưa rút khỏi cuống nhau của xã hội công xã thị tộc, họ sống gắn bó với

nguyên luận, việc chuyển sự chú ý từ các số phận tập thể sang số phận cá
nhân và từ số phận của vũ trụ sang số phận của xã hội có liên quan đến sự
xuất hiện của hàng loạt cốt truyện mới” [15; tr.358].
Cuộc đấu tranh giữa con người với con người đã phức tạp hơn rất nhiều
những cuộc đấu tranh chống thiên nhiên. Mặt khác, tư tưởng, tình cảm và
nguyện vọng mà con người gửi gắm trong mỗi câu chuyện đã có đường đi
nhiều biến cố chứ không đơn thuần như trước. Vì vậy, con đường từ thần
thoại đến truyện cổ tích là con đường khá dài trong đó có bước nhảy vọt trong
tư tưởng: từ không tự giác đến tự giác, từ chỗ gắn chặt với thiên nhiên đến đời
sống xã hội loài người.
Trong truyện cổ tích, tiểu loại lớn nhất là cổ tích thần kì. Ở tiểu loại
này, yếu tố thần kỳ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết mọi mâu
thuẫn, xung đột. Nó được coi là phương thức tư duy nghệ thuật đặc thù được
nhân dân lao động sử dụng để thể hiện ước mơ, khát vọng trong cuộc sống
đầy trắc trở. Yếu tố thần kỳ có nguồn gốc từ tín ngưỡng của người nguyên
16 thuỷ và nó biểu hiện rõ rệt nhất trong thần thoại. Nếu như ở thần thoại yếu tố
thần kỳ vừa đóng vai trò là thủ pháp nghệ thuật, vừa là niềm tin của nhân dân
thì ở tiểu loại cổ tích thần kỳ, yếu tố này được tác giả dân gian sử dụng làm
phương tiện bổ trợ cho hành động của con người nhằm giải quyết mâu thuẫn
để đạt được ước mơ, khát vọng. Đến truyện cổ tích sinh hoạt, những dấu hiệu
đặc trưng ấy đã bị mờ đi và thay thế vào đó là những dấu hiệu hiện thực gắn
liền với sự thay đổi của thực tại xã hội.
Nếu đặt trong tương quan với truyện cổ tích thần kì, thì rõ ràng truyện
cổ tích sinh hoạt là tiểu loại ra đời muộn hơn. Đó là khi xã hội và gia đình
xuất hiện những mâu thuẫn đối kháng ngày càng gay gắt, con người không
còn mang một niềm tin ngây thơ chất phác hồn nhiên đầy cảm tính như trước
nữa. Niềm tin vào thần linh giúp sức đã nhạt dần thay vào đó là lối tư duy

hoạt lại bộc lộ một cái nhìn tỉnh táo hơn, hiện thực hơn.
Trong truyện cổ tích thần kì, người nghèo khổ nhận được sự giúp đỡ
của lực lượng thần kỳ trở nên giàu có, người bị áp bức, bóc lột được làm vua,
hoàng hậu Ví dụ trong truyện Cây khế, người em sau khi bị anh chiếm đoạt
gia tài, sống một cuộc sống bần hàn liền được chim phượng hoàng giúp đỡ trở
nên giàu có. Hay trong truyện Tấm Cám, cô Tấm sau khi bị hành hạ, bạc đãi,
bị vùi dập chết đi sống lại nhiều lần, cuối cùng được đoàn tụ với nhà vua và
trở thành hoàng hậu… đó là những kết thúc có hậu, được xây dựng theo xu
hướng lý tưởng hóa, thỏa mãn khát vọng thay đổi số phận của nhân dân.
Truyện cổ tích sinh hoạt ra đời muộn hơn, gắn với thời kì hậu phong
kiến, nên hiện thực trong các tác phẩm có sự khác biệt. Truyện cổ tích sinh
hoạt đi sâu phản ánh mọi khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Từ những
chuyện gia đình xoay quanh mối quan hệ cha mẹ con cái, anh chị em đến
chuyện xã hội xoay quanh những mâu thuẫn xung đột giữa những người giàu
và nghèo, giữa địa chủ và người đi ở, giữa những người thông minh và kẻ
18 ngốc nghếch Chính vì vậy tác giả Đỗ Bình Trị trong cuốn Những đặc điểm
thi pháp các thể loại văn học dân gian đã nhận xét rằng: “Khác với truyện cổ
tích thần kỳ vốn được cảm nhận như câu chuyện xưa hoang đường, truyện cổ
tích sinh hoạt mang dáng dấp những câu chuyện của cuộc sống hàng ngày”
[29; tr.23]. Đó là chuyện một người chị dâu tốt lập kế khiến chồng mình hồi
tâm chuyển ý yêu thương người em nghèo khổ của anh ta thay vì những
người bạn không tốt trong truyện Giết chó khuyên chồng (truyện số 50 - Phụ
lục 2). Hay chuyện phân xử chí tình, chí nghĩa của ông quan huyện trong
truyện Tra tấn hòn đá (truyện số 110 - Phụ lục 2). Chuyện về anh chàng ngốc
không để đâu hết ngốc cứ nhất nhất làm theo lời vợ dặn nhưng vẫn bị thất bại
lần này đến lần khác trong truyện Phiêu lưu của anh chàng ngốc (truyện số
190 - Phụ lục 2) Điều khác biệt rõ nét nhất trong việc phản ánh hiện thực

tiêu cực là người xấu xa và người ngốc nghếch. Nhìn chung truyện cổ tích
sinh hoạt có hai cặp nhân vật chính được đặt trong thế đối lập: nhân vật đức
hạnh - nhân vật xấu xa, nhân vật mưu trí - nhân vật khờ khạo (ngốc nghếch).
Nhân vật chính trong truyện cổ tích sinh hoạt không được nhận sự trợ giúp từ
bên ngoài. Họ phải tự mình giải quyết sự việc, vượt lên hoàn cảnh, đối đầu
với những mâu thuẫn nảy sinh. Nói cách khác, nhân vật trong truyện cổ tích
sinh hoạt đã làm chủ hoàn cảnh. Ví dụ như anh chàng họ Đào trong truyện
Anh chàng họ Đào (truyện số 172 - Phụ lục 2) đã quyết chí học hành lập công
danh khi bị gia đình người yêu chê nghèo. Tình yêu thương chân thành đã
giúp anh vượt qua lễ giáo phong kiến khắt khe hết lòng cứu chữa cho cô gái
mà mình từng yêu khi cô bị chồng ghen tuông đánh đập. Hạnh phúc đã đến
với họ mà không hề có sự thành kiến. Chỉ có tình yêu giúp họ vươn lên trong
cuộc sống tìm lại hạnh phúc của chính mình.
20 Một điều đáng lưu ý, mỗi cặp nhân vật chính đối nghịch nói trên
không bao giờ cùng xuất hiện trong một truyện. Vì cả hai là nhân vật chính.
Điều này có liên quan đến một nguyên tắc của truyện cổ tích là trong truyện
cổ tích chỉ có một nhân vật chính hoặc không bao giờ có hai nhân vật chính
đối lập nhau. Mặt khác, còn có lí do nghệ thuật là những cặp nhân vật ấy tuy
đối lập nhau về tính cách nhưng hoàn toàn không phải là đối thủ của nhau.
Một anh chàng Ngốc trong truyện cổ tích sinh hoạt thì đến bọn trẻ con cũng
lừa gạt được, chứ cần gì đến những nhân vật thông minh, mưu trí. Thông
minh láu lỉnh như Cuội lại đấu trí với một nhân vật ngốc nghếch nào đó thì
còn gì là một nhân vật thông minh láu cá nữa. Do vậy, nếu đưa cả hai nhân
vật ấy vào trong cùng một truyện, trong sự đối lập nhau thì các nhân vật
không thể bộc lộ những đặc điểm của bản thân, tức là đã không làm nổi bật
lên được tính ngốc nghếch, khờ khạo hay tính mưu trí lanh lẹ của nhân vật
trong truyện.

mâu thuẫn đặt ra trong mỗi truyện” [28; tr.16]. Điều đó có nghĩa là khi nào
yếu tố thần kỳ có vai trò quyết định hoặc chi phối đối với sự phát triển của cốt
truyện thì đó là truyện cổ tích thần kỳ. Còn ở truyện cổ tích sinh hoạt, mọi
xung đột, mâu thuẫn được phát sinh, phát triển và giải quyết bởi chính yếu tố
hiện thực, bởi chính sự tác động của con người tuân theo lôgic đời sống. Các
yếu tố thần kỳ trong truyện cổ tích sinh hoạt chỉ có thể là yếu tố trợ giúp chứ
không quyết định và chi phối. Nó không tham gia vào việc giúp nhân vật giải
quyết mâu thuẫn. Các nhân vật chính diện bất hạnh trong truyện cổ tích sinh
hoạt khi gặp khó khăn thử thách, phải tự mình tìm cách giải quyết để vượt
qua. Họ có thể vượt qua được những thử thách khó khăn mà họ gặp phải hoặc
cũng có thể họ không thể vượt qua, thậm chí họ phải đối diện với sự bế tắc bất
lực bằng cái chết bi thảm. Nhưng dù trong hoàn cảnh như thế nào thì yếu tố
thần kì không tham gia vào việc giúp họ giải quyết mâu thuẫn. Ví dụ như
22 truyện Sự tích chim hít cô (truyện số 5 - Phụ lục 1), bà cô và người cháu đã
bất lực trước hoàn cảnh sống nghèo khó không còn cái gì để ăn nên họ đã chết
vì đói khát. Kết thúc truyện người cháu hoá thành chim hít cô. Toàn bộ câu
chuyện không hề bị chi phối bởi một yếu tố thần kỳ nào cả. Sự hoá thân thành
con chim hít cô ở cuối truyện nhằm nhấn mạnh hiện thực xã hội phong kiến
lúc bấy giờ, nông dân đã chết trước cảnh nghèo khổ, chết vì đói khát.
Vì vậy, có thể nói rằng ở truyện cổ tích sinh hoạt, yếu tố thần kỳ chỉ là
những “đường viền” để câu chuyện thêm cuốn hút. Đúng như nhà nghiên cứu
Nguyễn Đổng Chi đã khẳng định rằng: “Yếu tố hoang đường chỉ có thể len
vào chút ít giúp cho tác giả giải quyết những trường hợp cần thiết. Thực ra
việc đưa yếu tố hoang đường (hay hư ảo) sẽ tạo cho câu chuyện không khí cổ
kính, đặc trưng không thể thiếu của truyện cổ tích nhưng đối với tiểu loại thế
sự thì không thể đưa vào quá nhiều làm ảnh hưởng đến bố cục của truyện” [2;
tr.324].

mắt xích cơ bản xâu chuỗi, kết dính các yếu tố, sự kiện và là nơi chủ yếu để
nhà văn thể hiện tư tưởng của mình. Vì vậy, việc xây dựng nhân vật trở thành
công việc quan trọng, đòi hỏi sự sáng tạo độc đáo. Với các tác giả thì hình
tượng mới có sự lôi cuốn, hấp dẫn bạn đọc. Muốn hiểu giá trị của tác phẩm
chúng ta đều phải bắt đầu từ hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Xung quanh
khái niệm nhân vật có rất nhiều những ý kiến khác nhau:
Trong cuốn Lí luận văn học, Hà Minh Đức định nghĩa về nhân vật như
sau: “Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó
không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề
nghiệp, tính cách Và cần chú ý thêm một điều: thực ra, khái niệm nhân vật
thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con
24 người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hoặc
chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài
vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của con người được dùng như
những phương thức khác nhau để biểu hiện con người” [6; tr.126].
Trong cuốn Lí luận văn học của Phương Lựu, Trần Đình Sử lại định
nghĩa như sau: “Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được miêu tả,
thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học. Đó là những nhân vật có
tên như Tấm, Cám, Thạch Sanh, Thúy Kiều Đó là những nhân vật không có
tên như thằng bán tơ trong Truyện Kiều, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu
thường thấy trong kịch. Đó là những con vật trong truyện cổ tích, đồng thoại,
thần thoại, bao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ, những con vật mang
nội dung và ý nghĩa con người Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một
cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi
bật trong tác phẩm Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ,
có những dấu hiệu để ta nhận ra” [14; tr.277 - 278].

sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc một phong
cách” [1; tr.249].
Như vậy, các nhà nghiên cứu lí luận văn học, bằng cách này hay cách
khác khi định nghĩa về nhân vật văn học vẫn căn bản gặp nhau ở những nội
hàm không thể thiếu của khái niệm này:
Thứ nhất, đó là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương
tiện văn học.
Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, đồ vật, sự vật,
hiện tượng mang linh hồn con người, đó là hình ảnh ẩn dụ về con người.
Thứ ba, đó là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời
sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người
nghệ sĩ tài năng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status