SỞ GD & ĐT VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT YÊN LẠC
ĐỀ THI KHẢO SÁT KHỐI 10
Năm học: 2012-2013
MÔN: NGỮ VĂN
(Thời gian: 150 phút không kể thời gian giao đề)
Câu 1( 2 điểm):
Suy nghĩ của anh/chị về chữ “thẹn” trong bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm
Ngũ Lão.
Câu 2 ( 3 điểm):
Anh(chị) hãy viết một bài văn(khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ về câu tục ngữ: “ Thất bại là
mẹ thành công”.
Câu 3( 5 điểm):
“Sức cảm thông lạ lùng” của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du với những khổ đau và khát vọng
của con người qua hai đoạn trích “Trao duyên” và “Nỗi thương mình”( trích Truyện Kiều).
HẾT
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI:
Câu Nội dung Điểm
I
- Thẹn: là cảm xúc xấu hổ với người hoặc với mình khi chưa được bằng
người khác hoặc chưa làm được điều mình trông đợi.
- Trong bài thơ, “thẹn” chỉ cảm xúc của tác giả. Phạm Ngũ Lão xấu hổ
khi nghe chuyện Vũ Hầu – tức Gia Cát Lượng, vị quân sư tài giỏi đã
giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán. Có lẽ tác giả thấy mình chưa lập
được sự nghiệp lớn lao, chưa giúp đỡ được nhiểu cho vua, cho đất nước
như Vũ Hầu. Vì thế mà tác giả thấy thẹn với người đời, với chủ tướng
Trần Hưng Đạo với chính mình. Đây là cái thẹn của một nhân cách lớn.
- Nói thẹn với Vũ Hầu chính là gián tiếp muốn lấy Vũ Hầu là tấm gương
để nỗ lực noi theo. Vì thế, câu thơ có thể hiểu là lời thề suốt đời tận tụy,
suốt đời phấn đấu vì chủ tướng. Đằng sau chữ “thẹn” là khát vọng lập
công lớn lao, là lẽ sống cao đẹp của trai thời loạn.
người.
0,5
2
0,5
0,5
0,25
1
- Không phải thất bại nào cũng dẫn đến thành công. Vấn đề là ở chỗ con
người thu hoạch được điều gì sau mỗi lần thất bại. Yếu tố quan trọng vẫn
là nghị lực và trí tuệ của con người.
- Trên thực tế cũng có những người thành công dễ dàng, và dường như
chưa bao giờ thất bại. Tuy nhiên đó không phải là số nhiều.
3. Bài học nhận thức và hành động:
- Rèn luyện ý chí và không nản lòng trước thất bại. Xem thất bại là thử
thách đối với con người.
- Cũng không nên lấy câu nói này để chỉ tự an ủi mỗi lần thất bại trong
học tập và trong công việc. Phải biết biến “ thất bại” trở nên “ người mẹ
” của thành công.
0,5
0,25
0,5
III 1.Giải thích vấn đề:
- Sức cảm thông lạ lùng: Lời nhận xét rất đúng đắn thể hiện tập trung tư
tưởng nhân văn sâu sắc, mới mẻ của tác giả. Nguyễn Du nhập thân vào
Kiều, sống trong cảnh ngộ và tâm trạng của Kiều để rồi có niềm cảm
thông đặc biệt, hơn người và hơn đời với nàng Ông đã cảm thương trước
bi kịch của Kiều, khẳng định nhân cách đẹp đẽ của nàng, khẳng định sự
ý thức về nhân phẩm và sự ý thức cá nhân. Nói như Mộng Liên Đường chủ
nhân là từng câu thơ ở đây như có máu rỏ trên đầu ngọn bút của Nguyễn Du, như có
nước mắt của nhà thơ thấm qua trang giấy. Dẫu có bao lớp bụi thời gian phủ lên
* Trong nỗi thương mình: Bi kịch về nhân phẩm bị chà đạp và khát
vọng sống trong sạch. Đoạn trích cho ta thấy tình cảnh trớ trêu, đau đớn
của Thúy Kiều khi phải sống ở lầu xanh.:
+ Thương mình cô đơn giữa chốn nhơ nhớp “ cuộc say đầy tháng, trận
cười suốt đêm”…
+ Thương mình đến đau đớn khi nghĩ về thực tại phũ phàng, “ tan tác
như hoa giữa đường”… Nàng chua chát, tủi hổ, bẽ bàng cho thân phận
của mình.
+ Thương mình phải “vui gượng”, bởi “ ai tri âm đó mặn mà với ai”. Nỗi
sầu từ lòng người lan tỏa lên cảnh vật.
→ Nhà thơ cảm thương trước bi kịch của nàng Kiều, khẳng định nhân
cách đẹp đẽ của nàng, khẳng định ý thức về nhân phẩm và khát vọng
được sống là mình, đúng nghĩa con người của nàng Kiều.
3. Đánh giá chung
- Cả hai đoạn trích đều cho ta hiểu rõ về thân phận của người phụ nữ, của
những người “ tài sắc bạc mệnh” trong xã hội xưa.
- Cả hai đoạn trích đã thể hiện sự thành công ở việc sử dụng từ ngữ chọn
lọc, biện pháp ẩn dụ, câu hỏi tu từ, ngắt nhịp, đối, sử dụng cách nói ước
lệ…;
- Thề hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du trong việc miêu tả nội tâm
nhân vật.
→Tấm lòng đồng cảm, xót xa của Nguyễn Du trước cảnh ngộ của con
người là tư tưởng nhân đạo, nhân văn cao cả.
0,25
1,75
0,5
0,5
0,5
0,25
1