CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
!"##$%"#&"'
(LẮP ĐẶT THIẾT BỊ CƠ KHÍ
)*(+, / 0)*
)12345(%+6+#7
89 59: 5;<
=>?@4?9
& Vẽ cấu tạo, nêu nguyên lý làm việc và phạm vi sử dụng
của kích thủy lực( kích dầu)
- Cấu tạo:
Kích thuỷ lực gồm: xi lanh, pit tông, van một chiều và van xả .
Vật được nâng lên khi đưa chất lỏng vào xi lanh của kích và
được hạ xuống nhờ chất lỏng ra qua van xả.Vận tốc hạ vật được
điều chỉnh bằng van xả.
Chất lỏng trong kích là dầu thuỷ lực.( dầu chịu áp lực cao )
Đưa dầu vào kích bằng bơm quay tay hoặc bơm dẫn động bằng
máy.
Bơm có thể đặt trực tiếp lên kích hoặc nối với kích qua hệ thống
ống dẫn.Một bơm có thể dẫn động một hoặc nhiều kích. (Hình 5
- 4): Giới thiệu sơ đồ một loại kích thuỷ lực có bơm đặt trực tiếp
lên kích, dẫn động bằng tay.
0.5
0.5
1. Xi lanh kích. 2. Pít tông kích. 3. Phớt chắn
dầu( vòng đệm kín).
4. Đầu kích. 5. Khoá xả( van xả). 6,11. Van một
chiều.
7. Xi lanh bơm. 8. Pit tông bơm. 9. Tay bơm.
van… ở đầu pít tông có lắp thêm vòng đệm bảo hiểm hoặc có
ren để lắp đai ốc hãm. Pít tông lên tới đâu, đai ốc hãm hạ tới đó
vì vậy pít tông tự hãm khi bị tụt bất ngờ.
- Phạm vi sử dụng:
+ Kích thuỷ lực dùng để nâng, hạ vật có trọng lượng lớn.
Một số kích thuỷ lực có thể tháo rời một số bộ phận dùng để:
nâng, lắp đặt, hiệu chỉnh thiết bị, uốn ống, vam tháo lắp ổ trượt,
ổ lăn.
+ Kích thuỷ lực được chế tạo với tải trọng lớn tới 750 tấn
nhưng trong trục lắp thường dùng kích có tải trọng ≤ 200 tấn,
chiều cao nâng từ 0,15 ữ 0,2 m. Khi làm việc, xi lanh kích có
thể chịu áp suất tới 5000at (át mốt phe). Hiệu suất làm việc của
kích 0,75 ÷ 0,8.
Khi nâng những kết cấu hoặc thiết bị lớn như lò cao, nhịp
cầu… thì dùng kích có bộ ống dẫn nối riêng tới máy bơm với
lực nâng trong các kích đồng nhất với nhau. Thiết bị khoá và
điều chỉnh trên mỗi kích cho phép nó có thể làm việc độc lập.
" Thiết lập công thức tổng quát tính lực kéo trên mỗi
nhánh dây, chiều dài cáp cần kéo để nâng vật nặng P lên tới độ
cao h của tổ múp.
"
* Công thức tổng quát(
Xét tổ múp làm việc theo sơ đồ (Hình 1)
Hình. 1
Vật nặng P được kéo lên bằng một nhánh dây.
0.5
Trong trường hợp này múp đơn được dùng để dẫn hướng
cáp.
Giả sử khi pu ly quay, giữa pu ly và trục không có ma sát.
Để nâng được vật nặng lên độ cao h, nhánh cáp ra tời phải chịu
và trục không có ma sát nhưng trong thực tế có lực ma sát xuất
hiện, vì vậy lực kéo trên mỗi nhánh dây trong tổ múp không
bằng nhau. Khi nâng hàng lực kéo trên nhánh cố định của tổ
múp ( S
1
trong Hình 2; Hình .3) là nhỏ nhất vì nhánh đó không
phải luồn qua pu ly nào. Lực kéo trên nhánh cáp ra tời là lớn
nhất vì nó còn phải cộng với toàn bộ trở lực ma sát trong các pu
ly của tổ múp. Lực kéo này được tính theo công thức:
AB%%%%%( 3)
C4
Trong đó: S - Lực kéo trên nhánh cáp ra tời ( tấn, KG)
P - Trọng lượng vật nâng ( tấn, KG)
K
ft
- Hệ số phụ thuộc ( hệ số này phụ thuộc vào số
nhánh dây làm việc, số pu ly làm việc và số pu ly dẫn hướng
trong tổ múp ).
* Tính chiều dài dây cáp:
Khi lồng dây cáp vào tổ múp, cần biết chiều dài cần thiết
để có thể nâng vật lên độ cao h. Chiều dài cáp được xác định
bằng công thức:
+B!D E&F=G'DD&# ( 4 )
Trong đó: L - Chiều dài dây cáp ( m )
n - Số nhánh dây làm việc.
h - Chiều cao nâng vật ( m ).
D - Đường kính pu ly ( m ).
l - Chiều dài cáp từ tâm múp dẫn hướng
. Kỹ thuật lắp đặt máy nghiền.
- Xác định tâm dọc và tâm ngang của máy căng dây, treo dọi
điều chỉnh đồng thời trùng tâm, độ thăng bằng, cao độ của máy
theo thiết kế với các sai số cho phép như yêu cầu kỹ thuật lắp
đặt trên. Khi căn chỉnh thăng bằng các vị trí kiểm tra theo sơ đồ
ở hình 1
0.5
0.5
0.5
Hình 1:Kiểm tra độ thăng bằng của máy nghiền hàm
1. Thân máy 2. thước cầu 3.Nivô
:!' H
=>4I
:!' 3
:!D' 10
, ngày…… tháng……năm 2012
G JKL-6M