Quản lý thông tin và tài khoản khách hàng tập trung với việc mở rộng và nâng cao hiệu quả huy động vốn tại VPBank - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Khi nhân loại bớc sang một nền văn minh thứ ba-văn minh trí tuệ, cùng
với xu thế quốc tế hoá nên kinh tế thì tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trên
toàn thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng đều có những biến đổi lớn.
Các doanh nghiệp không chi cạnh tranh với đối thủ trong nớc mà cả các đối
thủ nớc ngoài. Doanh nghiệp chiến thắng là doanh nghiệp mà sản phẩm của
họ chỉ có một phần nhỏ tỷ trọng lao động chân tay còn tỷ trọng trí tuệ và công
nghệ thì rất cao. Để làm đợc việc này thì một yếu tố không thể thiếu đợc đối
với doanh nghiệp là vốn. Vốn để mua nguyên vật liệu, mua dây chuyền công
nghệ, mở rộng thị trờng
Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, nguồn
vốn của ngân hàng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là đối tợng kinh doanh
chủ yếu. Bên cạnh việc tạo ra các hoạt động cho ngân hàng, nguồn vốn của
ngân hàng còn góp phần tạo nên nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp thông
qua hoạt động cho vay. Ngân hàng có thể tạo lập nguồn vốn cho mình bằng
nhiều hình thức: huy động, phát hành giấy tờ có giá, đi vay,Với tỷ trọng 70-
80% tổng nguồn vốn, vốn huy động trở nên vô cùng quan trọng đối với bất kỳ
ngân hàng nào, bởi sự dồi dào và chi phí thấp của nó. Các ngân hàng luôn tìm
mọi cách để thu hút nguồn vốn này sao cho hiệu quả, nhất là khi công nghệ
thông tin ngày càng phát triển. Cũng nh tất cả các ngân hàng thơng mại Việt
Nam, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân
hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng luôn đợc VPBank quan
tâm hàng đầu. Song thực hiện đợc nó không phải là vấn đề đơn giản.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên em đã chọn đề tài:
Quản lý thông tin và tài khoản khách hàng tập trung với việc mở
rộng và nâng cao hiệu quả huy động vốn tại VPBank Thực trạng và giải
pháp.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Đề tài chủ yếu tập trung vào việc phân tích thực trạng huy động vốn của
VPBank trong khoản thời gian từ năm 2001 đến năm 2004. Song không vì thế

chúng dới nhiều hình thức ký thác hay hình thức khác, số tiền mà họ dùng cho
chính họ vào các nghiệ vụ chứng khoán tín dụng hay dịch vụ tài chính (luật
ngân hàng 1941). Còn trong luật ngân hàng của Đan Mạch 1930 lại định
nghĩa: Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác, buôn bán vàng
bạc, hành nghề thơng mại và hành nghề địa ốc, các phơng tiện tín dụng và hối
phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm,
ở Việt Nam trong nghị định 49/NĐCP về tổ chức ngân hàng thơng mại
đã nêu: NHTM là tổ chức tín dụng có hoạt động chủ yếu và thờng xuyên là
nhận tiền gửi, cho vay, cung ứng các phơng tiện thanh toán và các dịch vụ
ngân hàng khác.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngày nay trong tiến trình phát triển chung của nền kinh tế, cùng với sự
thông thoáng trong quy định lĩnh vực, phạm vi kinh doanh phù hợp với xu thế
hội nhập, các tổ chức kinh tế phi ngân hàng càng tham gian nhiều vào lĩnh vực
kinh doanh tiền tệ. Tuy nhiên vẫn tồn tại một ranh giới nhất định giữa ngân
hàng với các tổ chức phi ngân hàng ở chỗ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền
chủ yếu là tiền gửi không kì hạn. Chính từ hoạt động này đã tạo nên chức năng
tạo tiền đề thông qua hệ số nhân tiền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đó là
đặc trng cơ bản để phân biệt NHTM với các tài chính tín dụng.
1.1.2 Chức năng của Ngân Hàng Thơng Mại
Khi xét đến tầm quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào ngời ta
cũng đều xét đến chức năng của nó đầu tiên. Xét ở nhiều giác độ khác nhau,
chức năng của NHTM đợc đề cập đến là khác nhau. Tuy nhiên, xét về bản
chất thì chức năng của ngân hàng thơng mại gồm 3 chc năng cơ bản sau: chức
năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, và chức năng tạo tiền.
a) Chức năng trung gian tín dụng
NHTM làm chức năng trung gian tín dụng bởi nó là cầu nối giữa cung
và cầu vốn; giữa ngời có vốn d thừa và ngời có nhu cầu về vốn. Thông qua
việc huy động vốn của các chủ thể có vốn d thừa NHTM đã hình thành nên
một quỹ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đi vay của các chủ thể cần vốn. Với

khác để thanh toán hàng hoá dịch vụ, thanh toán công nợ khi khách hàng có
lệnh yêu cầu. Hoặc đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt.
Thực hiện chức năng này chính là ngân hàng đã thực hiện chức năng làm
thủ quỹ cho xã hội. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài
khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề cho chức năng này. Ngoài ra, nó còn
thực hiện trên cơ sở khắc phục tính kém hiệu quả của thanh toán trực tiếp giữa
các chủ thể trong xã hội, xuất phát từ những rắc rối nẩy sinh nh: chi phí thanh
toán cao, rủi ro trộm, cớp
Chức năng trung gian thanh toán của ngân hàng thơng mại có ý nghĩa to
lớn trong mục tiêu nâng cao tỉ trọng thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
kiệm chi phí lu thông cho toàn xã hội, tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền
kinh tế. Thực hiện chức năng này làm tăng uy tín của ngân hàng và do đó làm
tăng khả năng huy động vốn, tăng khả năng cạnh tranh cho ngân hàng.
c) Chức năng tạo tiền
Từ một lợng tiền cơ sở tăng lên, thông qua hệ thống ngân hàng một lợng
tiền mới đợc tạo ra.
Sở dĩ ngân hàng thơng mại có thể tạo ra tiền là xuất phát từ hai chức năng
cơ bản là chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán,
ngân hàng có một quỹ cho vay tập trung toàn bộ lợng vốn nhàn rỗi của nền
kinh tế. Thông qua chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng có thể trích tài
khoản tiền gửi của chủ thể này chi trả cho chủ thể khác. Chính quá trình thanh
toán tiền giữa các chủ thể trong ngân hàng thông qua tài khoản tiền gửi tại
ngân hàng đã tạo ra tiền bút tệ (tiền ghi sổ).
Thực hiện nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán, ngân hàng đã tạo
ra đợc loại tiền này thông qua khả năng biến mức tiền gửi ban đầu của một
ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn gấp nhiều lần. Khi
một ngân hàng cho vay thông qua tài khoản tại ngân hàng khác, nó làm giảm
vốn tại ngân hàng cho vay đồng thời tăng tiền gửi tại ngân hàng kia. Cứ nh
vậy, lợng tiền gửi duy trì trên hệ thống ngân hàng từ một lợng tiền nhất định

động đơc trong nền kinh tế, bằng hoạt động tín dụng, ngân hàng thơng mại sẽ
cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu một cách kịp thời
cho quá trình tái sản xuất. Nh vậy, nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng
thơng mại mà đặc biệt là hoạt động tín dụng các tổ chức kinh tế và cá nhân
trong nền kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ,
nâng cao năng suất lao động từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.
b) Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trờng
Khi hoạt động trong nền kinh tế thị trờng, các doanh nghiệp tất yếu phải
đối mặt với sự tác động mạnh mẽ của các quy luật của thị trờng nh quy luật
cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá cả. Đồng thời không đợc tự do
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
lựa chọn sản xuất hàng hoá, mà phải sản xuất trên cơ sở thoả mãn đợc các nhu
cầu của thị trờng trên mọi phơng diện: Số lợng, chất lợng, giá cả Tức là phải
sản xuất theo những cái gì khách hàng cần, không sản xuất cái gì mà mình có.
Để đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, để đứng vững
trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt, các doanh nghiệp phải thờng xuyên đổi
mới, nâng cao chất lợng và hoàn thiện sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng
bằng việc nâng cao chất lợng lao động, cải tiến công tác quản lý, công tác kế
toán, đặc biệt là phải đầu t trang thiết bị máy móc, dây truyền công nghệ tìm
nguồn nguyên liệu mới với chi phí và chất lợng phù hợp Và để thực hiện đợc
những điều kiện trên thì không thể thiếu đợc một yếu tố Vốn rất lớn.
Một trong những nguồn đáp ứng tốt nhu cầu vốn cần thiết cho doanh nghiệp
đó là đi vay ngân hàng. Đi vay ngân hàng giúp doanh nghiệp nhận đợc vốn
nhanh, chi phí rẻ, và nhận đợc cả những lời t vấn tốt từ ngân hàng.
Nh vậy thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã giúp doanh nghiệp
nắm bắt đợc toàn bộ nhu cầu của thị trờng, có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu
của thị trờng, đứng vững trên thị trờng. Điều đó đã chứng minh ngân hàng là
cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trờng.
c) Ngân hàng thơng mại là công cụ quan trọng để nhà nớc điều tiết vĩ mô
nền kinh tế

kinh tế của mỗt quốc gia; đóng vai trò vào sự hội nhập và giao lu kinh tế quốc
tế.
1.1.4 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thơng mại
Sở dĩ ngân hàng thơng mại có chức năng, vai trò quan trọng nh vậy là do
hệ thống các sản phẩm dịch vụ mà nó cung cấp, do nó thực hiện nhiều nghiệp
vụ nhất trong nền kinh tế, ngân hàng thơng mại có bao nhiêu nghiệp vụ và đó
là những nghiệp vụ gì?
Quan điểm Marketing chỉ ra các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thơng
mại đợc phân loại theo tiêu chí: theo khách hàng. Tuy nhiên, quan điểm phân
loại nghiệp vụ của ngân hàng thơng mại dựa trên bảng cân đối kế toán của nó,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghĩa là ta chia nghiệp vụ của ngân hàng thơng mại làm hai mảng chính là:
nghiệp vụ tài sản có, nghiệp vụ tài sản nợ và vốn tự có.
a) Nghiệp vụ tài sản có.
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm
đảm bảo an toàn, cũng nh tìm kiếm lợi nhuận của các ngân hàng thơng mại.
Nội dung của nghiệp vụ này bao gồm:
* Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ ngân quỹ là nghiệp vụ đợc ngân hàng thơng mại thực hiện
thông qua việc duy trì các quỹ dự trữ, quản lý việc sử dụng các quỹ này để
đảm bảo yêu cầu của pháp luật và yêu cầu trong kinh doanh.
*Nghiệp vụ cho vay:
Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng thơng mại. Nghiệp vụ này bao gồm các khoản tín dụng
ngắn hạn và tín dụng trung- dài hạn đối với nền kinh tế.
*Nghiệp vụ đầu t tài chính:
Là nghiệp vụ mà các ngân hàng thực hiện quá trình đầu t bằng vốn của
mình thông qua các hoạt động: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán
trên thị trờng.
*Nghiệp vụ khác:

khấu.
* Vốn tự có:
Vốn tự có của ngân hàng thơng mại là những giá trị tiền tệ do ngân hàng
tạo lập đợc thuộc sở hữu của ngân hàng hay đợc quyền sử dụng nh vốn của
chủ sở hữu hay những khoản vốn đợc duy trì lâu dài và thờng xuyên tại các
ngân hàng mà các ngân hàng đợc phép sử dụng để bù dắp trong quá trình hoạt
động.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Theo luật các tổ chức tín dụng, vốn tự có của ngân hàng thơng mại gồm
hai thành phần cơ bản: Vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Vốn tự
có giữ vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng thông qua
ba chức năng cơ bản là: tạo lập, bảo vệ, phát triển hoạt động. Với ba chức
năng này tuy chiếm tỉ trọng rất nhỏ, song vốn tự có là đòn bẩy cho hoạt động
của ngân hàng thông qua một loạt các chỉ tiêu: D nợ cho vay tối đa một
khách hàng / vốn tự có; d nợ tối đa / vốn tự có; giá trị mua sắm tài sản cố định
/ vốn tự có;
Do đó vấn đề bảo toàn và không ngừng phát triển vốn tự có của ngân
hàng theo nhu cầu của sự phát triển là một mục tiêu hớng tới của toàn bộ
ngân hàng thơng mại.
c) Các nghiệp vụ trung gian
Đây là những nghiệp vụ không đợc phản ánh trực tiếp trên bảng cân đối
kế toán, tuy nhiên nó góp phần quan trọng cho kết quả kinh doanh của ngân
hàng, ảnh hởng tới chi phí của ngân hàng cũng nh hỗ trợ các dịch vụ cho
ngân hàng.
Các nghiệp vụ trung gian bao gồm các nhóm nghiệp vụ sau:
o Nhóm các nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nớc.
o Nhóm các nghiệp vụ kinh doanh hối đoái.
o Nhóm các nghiệp vụ liên quan đến vấn đề môi giới và đại lý
chứng khoán.
o Nhóm các nghiệp vụ t vấn tài chính.

động, mở rộng việc cung cấp dịch vụ ngân hàng ra thị trờng. Từ đó làm tăng vị
thế và hình ảnh của ngân hàng trên thị trờng. Và không thể không kể đến một
ý nghĩa đặc biệt quan trọng là mở rộng khả năng tạo tiền trong toàn bộ hệ
thống ngân hàng.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
c) Đối với nền kinh tế
Với tiềm lực tài chính nhàn rỗi trong dân c là rất lớn (nguồn tiết kiệm của
dân c ), song vấn đề dặt ra cho các ngân hàng là làm thế nào để có thể thu hút
vào ngân hàng, để từ đó thực hiện việc đầu t phát triển kinh tế xã hội.
Đó không chỉ dừng lại ở trách nhiệm của các nhà ngân hàng, mà của toàn
xã hội trong việc tác động từng bớc làm thay đổi thói quen cất trữ tiền, vàng
Do thị trờng chứng khoán Việt Nam cha thực sự phát triển, tâm lý đầu t vào
giấy tờ có giá còn e ngại ( do thời gian dài ), nên họ vẫn u tiên cho việc gửi
vào ngân hàng để hởng lãi. Đối với doanh nghiệp mở và sử dụng tài khoản tiền
gửi là rất cần thiết, mà chủ doanh nghiệp nào cũng có ý thức đợc. Song đối với
cá nhân thì vấn đề lại khác- tâm lý và thói quen cất trữ tiền mặt vẫn ăn sâu vào
tiềm thức của họ. Nhng nếu làm đợc và làm tốt điều này thì có ý nghĩa rất lớn
trong việc nâng cao lợi ích của xã hội và của nền kinh tế.
Thứ nhất, việc mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng sẽ nâng
hiệu quả thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó mà việc quản lý và điều tiết
cung tiền dễ dàng hơn.
Thứ hai, mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng đảm bảo việc
chi trả giữa các chủ thể trong nền kinh tế nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, qua
đó tăng tốc độ chu chuyển vốn, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2 Các loại tiền gửi và tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân
hàng
Ngân hàng có thể huy động vốn qua nhiều hình thức khác nhau nh: nhận
tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay. So với phát hành giấy tờ có giá và đi
vay thì nhận tiền gửi là một hình thức huy động vốn đợc ngân hàng chú ý
nhất. Thực tế cho thấy, nguồn vốn huy động thông qua nhận tiền gửi chiếm tỉ

điểm nhất định có thể tài khoản này d nợ nếu giữa ngân hàng và khách hàng
thoả thuận với nhau sử dụng hình thức thấu chi tài khoản. D nợ khi số tiền rút
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ra lớn hơn số tiền nộp vào, thực chất là một khoản nợ mà khách hàng nợ ngân
hàng. Số tiền nợ này chỉ đợc nằm trong phạm vi hạn mức mà ngân hàng và
khách hàng đã thoả thuận. D có khi khách hàng gửi tiền vào lớn hơn số tiền
rút ra. Số d này không bị ngân hàng khống chế .
Với đặc điểm lỡng tính, vừa huy động vốn bên có, vừa sử dụng vốn bên
nợ, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn đã thực hiện tốt chức năng vay để cho
vay với chi phí huy động thấp. Và chính qua tài khoản này mà hệ thống ngân
hàng tạo đợc đồng tiền ghi sổ hay bút tệ , vừa làm tăng phơng tiện lu thông
thanh toán cho nền kinh tế, vừa giúp mở rộng thanh toán không dùng tiền
mặt ở tầm vĩ mô, lại vừa cho phép mỗi ngân hàng tận dụng đợc nguồn vốn
trong thanh toán mà nguồn này chủ yếu do doanh nghiệp cung cấp nên khối l-
ợng rất lớn, chi phí lại rất rẻ sẽ hạ thấp chi phí đầu vào bình quân, tăng lợi
nhuận ở tầm vi mô. Trong thanh toán thẻ, séc,tài khoản này là không thể
thiếu.
b) Tiền gửi có kỳ hạn- tài khoản tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngời gửi tiền chỉ đợc lĩnh tiền khi
đáo hạn. Đối tợng chủ yếu của tiền gửi loại này là doanh nghiệp và các tổ
chức.
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn tạo cho ngân hàng
một nguồn vốn ổn định, vững chắc, nên mức lãi suất áp dụng thờng cao hơn
tiền gửi thanh toán. Ngân hàng thực hiện đa dạng hoá các kỳ hạn: 3 tháng, 6
tháng, 12 tháng hay dài hơn nữa; tơng ứng với mỗi mức kỳ hạn là một mức lãi
suất phù hợp để thu hút nguồn tiền này.
Đặc điểm của tiền gửi có kỳ hạn là ngời gửi tiền chỉ đợc lĩnh tiền khi đến
hạn và đợc hởng lãi suất tiền gửi có kỳ hạn khi lĩnh tiền đúng hạn. Tuy nhiên,
do những lý do khác nhau mà khách hàng có thể rút tiền trớc hạn với hai khả
năng chủ yếu xảy ra:

chỉ đợc rút tiền khi đáo hạn. Tiết kiệm có kỳ hạn ngoài mục đích hởng lãi suất
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thì còn nhằm vào mục đích khác nh
mua sắm tài sản, xây dựng nhà ở trong tơng lai.
Đây là loại tiền gửi mang lại tính ổn định cao nhất cho nguồn vốn của
ngân hàng trong tất cả các loại tiền gửi ở trên.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đợc phản ánh trên tài khoản tiền gửi tiết
kiệm dới 12 tháng và tiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng.
1.1.3 Khái quát cơ chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của khách hàng
taị ngân hàng
a) Khái quát cơ chế mở tài khoản tiền gửi taị ngân hàng
Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng là hệ thống các chỉ tiêu hạch toán
kế toán ngân hàng, nó đợc xây dựng có căn cứ khoa học và thực tiễn. Trong
đó, các tài khoản đợc mở để phản ánh liên tục, kịp thời, theo dõi các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh thuộc về hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn. Ngoài ra các
tài khoản đợc mở còn để giao dịch với khách hàng theo chức năng và nhiệm
vụ của ngân hàng. Chính vì vậy, ngân hàng phải xây dựng chế độ mở và sử
dụng tài khoản kế toán nhằm đảm bảo tính hợp pháp trong quan hệ kinh tế
giữa khách hàng và ngân hàng.
Nghị định 64/CP của Chính Phủ quy định về mở và sử dụng tài khoản
tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng nh sau:
Để mở tài khoản tiền gửi các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức đoàn thể,
đơn vị vũ trang, công dân Việt Nam và ngời nớc ngoài hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam (gọi tắt là khách hàng) gửi cho ngân hàng nơi mở tài khoản những
giấy tờ sau:
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ
trang có:
- Giấy đăng ký mở tài khoản do chủ tài khoản (chủ tài khoản là tổng giám
đốc, giám đốc, chủ doanh nghiệp, thủ trởng đơn vị) ký tên và đóng dấu trong
đó ghi rõ:

*Khi có sự thay đổi chữ ký của ngời đợc uỷ quyền trên các chứng từ
thanh toán với ngân hàng hoặc thay đổi mẫu dấu, chủ tài khoản phải gửi cho
ngân hàng nơi mở tài khoản bản đăng ký mẫu dấu mới thay thế mẫu đăng ký
trớc đây, trong đó ghi rõ ngày thay đổi mẫu dấu cũ.
* Cách thức lập giấy đăng ký mở tài khoản: Lập giấy đăng ký theo mẫu
dấu và chữ ký do ngân hàng hớng dẫn cụ thể cho khách hàng thực hiện .
* Khi nhận đợc giấy đăng ký mở tài khoản của khách hàng, ngân hàng có
trách nhiệm giải quyết việc mở tài khoản tiền gửi của khách hàng ngay trong
ngày làm việc. Sau khi đã chấp nhận việc mở tài khoản, ngân hàng thông báo
cho khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
b) Nguyên tắc sử dụng tài khoản tiền gửi
* Đối với chủ tài khoản
- Chủ tài khoản có quyền sử dụng số tiền trên tài khoản tiền gửi, trong
phạm vi số d tài khoản tiền gửi và tuỳ theo yêu cầu chi trả, chủ tài khoản có
thể thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng hoặc rút tiền mặt để sử
dụng.
- Chủ tài khoản chịu trách nhiệm về việc chi trả vợt số d tài khoản tiền
gửi và chịu phạt theo điều 15 của thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt (30%
số tiền vợt ); chịu trách nhiệm về số sai sót, lợi dụng trên các giấy tờ thanh
toán, các chữ ký và dấu phải đúng mẫu đã đăng ký tại ngân hàng.
- Chủ tài khoản tự tổ chức hạch toán, theo dõi số d tiền gửi tại ngân
hàng. Trong phạm vi 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận giấy báo nợ, giấy báo
có về các khoản giao dịch trên tài khoản tiền gửi cuối tháng do ngân hàng gửi
đến, chủ tài khoản phải đối chiếu với sổ sách của mình, nếu có chênh lệch thì
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
báo ngay cho ngân hàng biết để cùng nhau đối chiếu, điều chỉnh lại số liệu
cho khớp.
* Đối với ngân hàng
- Việc trích tài khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các khoản chi
trả phải có yêu cầu của chủ tài khoản, trừ trờng hợp chủ tài khoản vi phạm luật

đến là:
- CNTT tạo ra sức mạnh, tạo ra năng lợng cho hoạt động ngân hàng,
thiếu năng lợng đó thì hoạt động của ngân hàng chẳng khác gì hoạt động của
một chiếc xe thiếu nguyên liệu, nh hoạt động của cơ thể suy nhợc, có nghĩa là
hoạt động của ngân hàng sẽ bị đình trệ.
- CNTT làm thay đổi môi trờng hoạt động của ngân hàng, từ môi trờng
chứng từ giấy sang môi trờng chứng từ điện tử hoặc không có chứng từ, từ đó
làm thay đổi điều kiện, quá trình xử lý và phơng pháp kinh doanh của ngân
hàng.
- CNTT xóa bỏ khoảng cách giữa các ngân hàng về không gian và thời
gian, phạm vi, làm cho ngân hàng dài ra, phạm vi rộng ra. Bởi nhờ có
CNTT mà các ngân hàng có thể trao đổi thông tin với nhau hoặc thực hiện
quản lý thông tin với nhau, và hai ngân hàng dù có cách xa nhau (giữa vùng
này với vùng khác hoặc giữa quốc gia này với các quốc gia khác...) thì vẫn có
thể trao đổi thông tin với nhau một cách dễ dàng. Hơn thế nữa việc trao đổi
thông tin có thể chỉ trong giây lát (trong thời gian vô cùng ngắn) thực hiện
ngay nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Chính vì vậy mà các ngân hàng hiện nay
đang chuyển dần từ phân phối sản phẩm dịch vụ qua kênh giao dịch tại chi
nhánh sang các kênh phân phối hiện đại.
- CNTT tạo ra các tiện ích hết sức to lớn cho khách hàng nh: ATM, thẻ
debit card, telephone banking,Sở dĩ có đợc những tiện ích này là do các NH
thực hiện cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng thông qua các kênh
phân phối hiện đại nh: kênh phân phối thông qua máy tính (PC Banking), kênh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
giao dịch tự phục vụ, kênh phân phối thông qua điện thoại, kênh phân phối
dịch vụ qua InternetMà để thực hiện đợc các kênh phân phối này thì không
thể không áp dụng công nghệ thông tin.
- CNTT tạo khả năng quản lý tốt hơn, ảnh hởng to lớn hơn đến thành
công hay thất bại của ngân hàng, đặc biệt trong môi trờng cạnh tranh gay gắt
nh hiện nay bởi công nghệ thông tin có thể tạo ra những khả năng mới trong

tập trung hoá tài khoản của khách hàng. Theo đó tài khoản của khách hàng sẽ
đợc quản lý theo quy mô tập trung: mọi thông tin của khách hàng đăng ký tại
chi nhánh đều đợc truyền về trung ơng để quản lý. Trung ơng quản lý sổ cái,
tài khoản khách hàng do chi nhánh mở và quản lý theo quy định của trung -
ơng. Việc quản lý tập trung tài khoản có ý nghĩa rất lớn đối với tất cả các chủ
thể trong nền kinh tế.
*Đối với ngân hàng: Tập trung hoá tài khoản thanh toán sẽ đẩy khả năng
tích tụ và tập trung vốn; nâng cao hiệu suất sử dụng vốn trong kinh doanh, đẩy
nhanh tốc độ thanh toán không dùng tiền mặt; xoá bỏ tình trạng khan hiếm
tiền mặt giả tạo; giảm chi phí điều chuyển vốn nội bộ; giúp nhà nớc quản lý và
điều hành chính sách tiền tệ một cách có hiệu quả.
*Đối với ngời mở và sử dụng tài khoản: Có thể giao dịch với ngân hàng
mọi lúc mọi nơi; tiết kiệm đợc chi phí giao dịch với ngân hàng: chi phí cho
thời gian giao dịch, chi phí về phơng tiện đi lại,đặc biệt là giảm đợc chi phí
cơ hội khi giao dịch với ngân hàng; không bị bỏ lỡ các cơ hội trong kinh
doanh; cùng một lúc có thể tiếp cận với nhiều loại hình dịch vụ do hệ thống tài
khoản đợc tập trung hoá;
* Đối với nền kinh tế: góp phần bình ổn giá trị của đồng tiền; giúp ổn
định kinh tế vĩ mô; nâng cao khả năng huy động vốn; tăng cờng vai trò quản
lý và kiểm soát của các ngân hàng trong việc thực hiện chính sách tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng; tăng tốc độ lu thông và chu chuyển vốn toàn xã hội; cải
tiến phơng thức thanh toán; thúc đẩy đầu t; tạo điều kiện để ngân hàng Việt
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Nam hội nhập; đặc biệt là làm tăng tổng phơng tiện thanh toán của nền kinh
tế.
Tập trung hoá tài khoản là xu thế tất yếu trong chơng trình hiện đại hoá
công nghệ ngân hàng, và là tác động căn bản giữ vai trò tiền đề quan trọng
khác cho các tác động của công nghệ thông tin trong việc mở và sử dụng tài
khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng .
- Hai là: Hiện đại hoá công nghệ thông tin trong ngân hàng giúp cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status