Nghiên cứu phân biệt đặc điểm thực vật, thành phần hóa học của hai loài nưa thuộc chi amorphophallus, họ ráy ( araceae) - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
CAO THỊ THU HẰNG

NGHIÊN CỨU PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM
THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC
CỦA HAI LOÀI NƢA THUỘC CHI
AMORPHOPHALLUS, HỌ RÁY
(ARACEAE)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SỸ HÀ NỘI – 2014
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI CAO THỊ THU HẰNG

NGHIÊN CỨU PHÂN BIỆT ĐẶC ĐIỂM
THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Sinh viên

Cao Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. TỔNG QUAN VỀ HỌ RÁY (ARACEAE) 3
1.1.1. Vị trí phân loại họ Ráy (Araceae) 3
1.1.2. Đặc điểm thực vật và phân bố của họ Ráy (Araceae) 3
1.2. TỔNG QUAN VỀ CHI AMORPHOPHALLUS 4
1.2.1. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Amorphophallus 4
1.2.2. Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi Amorphophallus 5
1.2.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam về chi Amorphophallus 10
CHƢƠNG 2: NGUYÊN LIỆU, PHƢƠNG TIỆN VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU. 13
2.1. NGUYÊN LIỆU, PHƢƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 13
2.1.1. Nguyên liệu nghiên cứu 13
2.1.2. Phương tiện nghiên cứu 13
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.2.1. Nghiên cứu về mặt cảm quan của hai loài Nưa 14
2.2.2. Nghiên cứu về vi phẫu củ và vi học bột củ của hai loài Nưa 14
2.2.2. Nghiên cứu về hóa học bột củ của hai loài Nưa 15
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 16
3.1. NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT CỦA HAI LOÀI NƢA 16
3.1.1. Mô tả về đặc điểm hình thái của hai loài Nưa 16

KH&CN: Khoa học và công nghệ.
KM: Khoai môn.
Mẫu N
1
: Mẫu Nưa 1.
Mẫu N
2
: Mẫu Nưa 2.
Mẫu N
3
: Mẫu Nưa 3.
Mẫu N
4
: Mẫu Nưa 4.
Mẫu N
5
: Mẫu Nưa 5.
Mẫu N
6
: Mẫu Nưa 6.
Mẫu N
7
: Mẫu Nưa 7.
Mẫu N
8
: Mẫu Nưa 8.
Nxb: Nhà xuất bản.
P. Ư: Phản ứng.
TT: Thuốc thử.
UV: Ultra violet.

H 3.1.3. Cụm hoa Nưa mẫu N
2
.
19
7
H 3.1.4. Cụm quả Nưa mẫu N
2
.
19
8
H 3.2.1. Cây Nưa mẫu N
6
.
20
9
H 3.2.2. Củ Nưa mẫu N
6
.
20
10
H 3.2.3. Cụm hoa Nưa mẫu N
6
.
20
11
H 3.2.4. Cụm quả Nưa mẫu N
6
.
20
12

39
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Vì vậy, nước
ta có thảm thực vật phong phú và có nhiều tiềm năng về cây thuốc. Theo thống kê
sơ bộ của viện dược liệu nước ta có khoảng 14.000 loài thực vật, nấm tảo trong đó
có gần 4000 cây thuốc.
Họ Ráy (Araceae) là một họ thực vật một lá mầm, có đặc điểm hình thái đa
dạng và phong phú. Theo PGS. TS Phạm Hoàng Hộ, Việt Nam có khoảng 30 chi,
135 loài Ráy [12].
Chi Nưa (Amorphophallus) là một chi thuộc họ Ráy, được trồng nhiều ở các
tỉnh vùng núi, trung du, miền Nam và miền Bắc. Cây cho năng suất cao và chịu được
điều kiện khắc nghiệt. Trước kia, ở một vài địa phương cây thường được trồng lấy củ
và lá dùng làm lương thực, thức ăn trong chăn nuôi. Hiện nay, với sự phát triển của
mô hình bệnh tật tăng cao, một số loài trong chi Nưa đã được nghiên cứu và sử dụng
làm thuốc. Nhiều nghiên cứu về thành phần và vai trò củ Nưa cho thấy trong bột củ
có chứa glucomannan là hợp chất có nhiều công dụng quý, có tác dụng tốt đến bệnh
ung thư, tim mạch, béo phì, cao huyết áp Ở nhiều nước trên thế giới củ Nưa đã
được nghiên cứu, sử dụng và đem lại nguồn lợi lớn. Ở nước ta cây Nưa ít được
nghiên cứu và khai thác sử dụng hợp lý [13]. Mặc dù có rất nhiều loài Nưa nhưng hầu
hết các nghiên cứu chỉ tập trung về hai loài Amorphophallus kojac C. Koch và
Amorphophallus peaoniifolius (Denst.) Nicols. Các loài khác ít được quan tâm đến,
đặc biệt là về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học cũng như cách phân biệt chúng.
Nhằm góp phần phát hiện, phân biệt và nâng cao giá trị sử dụng của từng loài
Nưa thuộc chi Amorphophallus và góp phần bảo tồn, phát triển nguồn gen quý để
phát triển đề tài “Thu thập nguồn gen và tri thức bản địa các nguồn gen nghiên

khí sinh thõng xuống. Lá thường đơn, có bẹ, gân lông chim, chân vịt hay song song.
Cụm hoa bông mo nạc, không phân nhánh, mang nhiều hoa. Mo thường có màu sặc
sỡ, một số có mùi thơm. Trục hoa có thể mang hoa khắp bề mặt hay kết thúc bằng
một phần không mang hoa, thường có hoa cái ở dưới, hoa đực ở trên. Hoa nhỏ
không cuống hay cuống không rõ rệt, đơn tính, lưỡng tính hay tạp tính. Hoa lưỡng
tính thường có 3 vòng hoa, mỗi vòng có 3 bộ phận; hoa đơn tính có bao hoa tiêu
giảm hay trần. Bộ nhị có 2 vòng, mỗi vòng có 3 nhị có khi còn 1 nhị ở hoa đơn tính.
Bộ nhụy thường có 2-3 lá noãn, có khi chỉ 1 lá noãn ở hoa đơn tính, chứa 1-nhiều
noãn đảo, cong hay thẳng [7], [24].
Quả mọng một hoặc nhiều hạt. Hạt có nội nhũ nạc [7], [24].
Theo sách thực vật, cây phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, một số là ôn đới.
Việt Nam có khoảng 30 chi, 135 loài mọc hoang và được trồng làm thức ăn cho lợn (Ráy,
Nưa), lương thực (Khoai sọ), rau ăn (các loại Môn, Sọ), cây cảnh (Vạn Niên Thanh…). Có
12 loài thường dùng làm thuốc trong đó có 4 loài thường dùng trong công nghiệp dược là
Bán hạ, Thạch xương bồ, Thủy xương bồ, Thiên niên kiện [7].
4

Một số chi điển hình của họ ráy [7]:
Chi Acorus Chi Algaonema
Chi Amorphophallus Chi Aresonema
Chi Colocasia Chi Epipremnum
Chi Homalomena Chi Pinellia
Chi Pistia Chi Pothos
Chi Rhaphidophora Chi Typhonium
1.2. TỔNG QUAN VỀ CHI AMORPHOPHALLUS
1.2.1. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Amorphophallus
1.2.1.1. Đặc điểm thực vật chi Amorphophallus
Cây ưa ẩm, chịu bóng, thường mọc dưới tán cây rừng ẩm trên núi đất và núi
đá vôi, đất xốp nhiều màu, pH từ trung bình đến kiềm. Cây ra hoa hàng năm tái sinh
chủ yếu bằng hạt. Cây mọc từ hạt sau 2-3 năm mới có hoa. Phần trên mặt đất tàn lụi

Tên khác: Củ Nưa, Khoai na, Khoai ngát.
Đặc điểm thực vật và phân bố
Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao 50-70cm. Thân củ to, mặt trên lõm, mặt
dưới lồi và mang nhiều u tròn, vỏ ngoài màu nâu, ruột trằng vàng. Lá mọc thẳng từ
thân củ, sau khi cây ra hoa, thường chỉ có 1 (ít khi 2 lá) có cuống dài và mập, màu
nâu, có những điểm đốm trắng, phiến lá chia thành 3 nhánh, các nhánh lại phân chia
tiếp và chẻ thùy sâu hình lông chim, hai mặt nhẵn. Cụm hoa mang trên cuống mập
dài, mọc thẳng đứng, cao 30-40cm, có mo to, mặt ngoài màu lục, mặt trong màu đỏ
tía, mép uốn lượn, bông mo dài gấp đôi mo mang phần hoa cái ở dưới ngắn, phần
hoa đực ở giữa dài hơn và phần phụ ở trên dài gấp 3-4 lần phần kia. Hoa không có
bao hoa, hoa đực có nhị rời, hoa cái có bầu hình trứng. Hoa có mùi khó ngửi. Quả
mọng [1], [14]. Cây mọc hoang ở rừng thưa, ven suối, chỗ ẩm, đất nhiều mùn. Có
nơi trồng lấy củ để ăn và nuôi lợn [16].
Các bộ phận đều có dịch ngứa. Cuống lá và củ ăn được. Củ làm thuốc chữa
bệnh đường tiêu hóa và trúng độc cấm khẩu. Mùa hoa từ tháng 3-5 [1], [14].
Bộ phận dùng
6

Thân củ, thu hoạch vào tháng 9-11 cạo sạch vỏ, và rễ con, đồ chín hay sấy khô.
Khi dùng ngâm cho mềm, thái mỏng, ngâm nước phèn và gừng (cứ 1kg củ Nưa cần
300g gừng tươi và 50g phèn chua) trong 24 giờ rồi sao thơm cho hết ngứa [1].
Thành phần hóa học
Tinh bột (thành phần chủ yếu là Konjacmannan), chất gây ngứa [14], [16].
Công dụng
Củ Nưa có vị cay và ngứa, có tác dụng diệt khuẩn, tiêu viêm, hạ sốt, giải độc.
Tinh bột dùng để nấu ăn và nấu rượu [1], [16].
Tác dụng dược lý
Tác dụng kháng khuẩn: Dịch chiết ethanol của củ Nưa trên môi trường nuôi
cấy có tác dụng ức chế Bacillus diphtheria, Bacillus typhi, Streptococus
hemolyticus, nồng độ ức chế 3 chủng vi khuẩn trên lần lượt là là 62,5g/l; 5,25g/l;

1.2.2.2. Amorphophallus paeoniifolius (Denst.) Nicols
Tên khác: Nưa chuông, Khoai na.
Đặc điểm thực vật và phân bố
Cây thảo sống hàng năm có thân củ nằm trong đất; có hình bán cầu rộng, đường
kính tới 20cm, mặt dưới lồi mang một số rễ phụ, và có những nốt như củ khoai tây
xung quanh có 3-5 mấu lồi. Vỏ củ có màu nâu, thịt trắng vàng và cứng. Lá mọc sau
khi đã có hoa, thường chỉ có 1 lá có cuống cao tới 1,5m, màu xanh thẫm có đốm bột
trắng; phiến lá chia làm 3 nom tựa như lá đu đủ. Cụm hoa gồm một mo không cuống
hoặc cuống ngắn dài khoảng 70cm, bông mo màu đỏ xanh có đốm trắng, mặt trong
đỏ thẫm, bao lấy một bông mo là một phần mang phần hoa cái ở dưới phần hoa đực ở
trên. Phần hoa cái có hình trụ, phần hoa cái hình nón ngược. Hoa có mùi khó ngửi.
Quả mọng, màu xanh, khi chín có màu vàng cam tới đỏ [10], [24].
Cây thường phân bố ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia,
Malaixia và Philiphin. Ở Việt Nam cây mọc hoang và trồng phổ biến ở các tỉnh
Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hòa Bình, Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh vào tới Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế [9], [10].
Bộ phận dùng
Thân củ thu hoạch sau khi cây tàn, cạo sạch vỏ ngoài thái mỏng [16].
Thành phần hóa học
Tinh bột (thành phần chủ yếu glucomannan), chất gây ngứa [16].
8

Tác dụng dược lý
Tác dụng chống oxy hóa: Nghiên cứu cho thấy, dịch chiết ethanol của
Amorphophallus paeoniifolius (Denst.) Nicols có tác dụng ức chế peroxyd lipid
giảm từ 4,3% đến 67,2% phụ thuộc vào liều. Khả năng peroxyd lipid của dịch chiết
cồn của chúng dựa trên gốc tự do 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl-2 (DPPH) và khả
năng ức chế tỷ lệ phần trăm dựa trên 2,2-azinobis-(-3-ethyl) benzo-thiozoline-6-
sulfonate (ABTS +) và H
2


(1,5mg/kg) đã được tìm thấy tương ứng là 24 giờ và 20 giờ. Phenobarbiton và
diazepam được biết đến thuốc giảm đau thần kinh trung ương và cũng cho thấy hoạt
động trầm cảm thần kinh trung ương một cách phụ thuộc vào liều. Một tác dụng
hiệp đồng đáng kể của các dịch chiết ether dầu hỏa với diazepam đã được tìm thấy
trong khi có rất ít tác dụng hiệp đồng với phenobarbiton. Dịch chiết ether dầu hỏa
của Amorphophallus paeoniifolius (Denst.) Nicols gây ra hoạt động trầm cảm đáng
kể lên thần kinh trung ương và hoạt động đó phụ thuộc vào liều [26].
Tác dụng chống viêm: Dịch chiết methanol của Amorphophallus paeoniifolius
(Denst.) Nicols có hoạt động chống viêm nổi bật trong khi dịch chiết cloroform có tác
dụng nhẹ hơn. Ba giờ sau khi tiêm carrageenan, dịch chiết methanol với liều 200 và
400mg/kg sản xuất 37,5% và 45,83% ức chế khi so sánh với nhóm đối chứng [20].
Tác dụng giảm đau: Phát hiện dịch chiết methanol của Amorphophallus
paeoniifolius (Denst.) Nicols ở liều 250 và 500mg/kg trọng lượng cơ thể dùng màng
bụng có tác dụng giảm đau đáng kể [21], [27].
Tác dụng kháng khuẩn: Dịch chiết ethanol của Amorphophallus paeoniifolius
(Denst.) Nicols có tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, và các tác nhân gây độc tế bào [23].
Tác dụng diệt giun: Dịch chiết methanol từ củ của Amorphophallus
paeoniifolius (Denst.) Nicols đã được nghiên cứu chống lại antihelmintic pheretima
posthuma và tubifex. Dịch chiết methanol với nồng độ 25, 50 và 100 mg/ml đã được
thử nghiệm trong các xét nghiệm sinh học, có liên quan đến xác định thời gian tê
liệt và thời gian gây chết của giun [21].
Công dụng
Củ Nưa chuông có vị cay, tính nóng, có độc. Củ có tác dụng lợi tiêu hóa bổ
dưỡng hồi phục sức khỏe, lợi trung tiện, dùng để chữa trị kiết lỵ. Nếu dùng tươi có
tác dụng kích thích làm long đờm và có thể dùng để trị thấp khớp cấp tính. Nưa
chuông có thể dùng với công dụng như củ Nưa, được trồng chủ yếu để lấy bột. Dọc
Nưa chuông cũng ăn được, nhưng phải ngâm nước vo gạo cho hết ngứa [16].
11

lượng tươi, tương đương 25% và 50% trọng lượng khô. Đồng thời, phát hiện được quần thể
loài Nưa konjac ở Việt Nam tại 2 huyện Đồng Văn và Quản Bạ tỉnh Hà Giang [32].
Năm 2013, trong “Nghiên cứu quy trình tách chiết, cấu trúc hóa học và hoạt tính
sinh học của glucomannan từ cây Nưa-Amorphophallus sp. (họ ráy-Araceae)” của TS.
Trần Thị Ý Nhi (Viện hóa học –Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã
nghiên cứu và xác định được tên khoa học của 3 loài Nưa ở Việt Nam
là: Amorphhophallus konjac C. Koch ; Amorphophallus corrugatus N. E. Br và
Amorphophallus paeoniifolius (Dennst.) Nicolson. Trong đó loài Amorphophallus
konjac C. Koch mới được phát hiện ở Việt Nam năm 2012. Hàm lượng glucomannan
trong thân (củ) của mỗi loài Nưa tại Việt Nam đã được nghiên cứu và xác định bằng
phương pháp so màu thuốc thử 3,5-DNS. Kết quả của nghiên cứu là cơ sở xây dựng quy
trình tách chiết glucomannan quy mô phòng thí nghiệm từ 3 loài Nưa trên. Trong nghiên
cứu này cấu trúc hóa học tính chất hóa lý của sản phẩm cũng đã được xác định [29].
Năm 2014, trong “Nghiên cứu hàm lượng, chất lượng, tác dụng dược lý và xây
dựng quy trình sản xuất glucomannan trong củ Nưa-Amorphophallus sp. (họ Ráy-
Araceae) trồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế” thuộc Sở KH&CN tỉnh Thừa Thiên Huế đã
xác định được các đặc điểm sinh học, các chỉ tiêu sinh trưởng, điều kiện sinh thái và
quy mô trồng trọt của loài Nưa hiện có tại Thừa Thiên Huế. Mẫu nghiên cứu lấy tại
xã Quảng Thọ. Tại đó hiện nay có gần 10ha Nưa được trồng trong vụ đông, đem lại
thu nhập 5-7 triệu đồng/sào/vụ, bình quân mỗi ha Nưa thu nhập trên 100 triệu
đồng/vụ. Cây Nưa là cây có khả năng chịu được điều kiện khắc nghiệt, thời gian sinh
trưởng ngắn, và có thể trồng trái vụ nên được người dân đưa vào trồng và đã mang lại
giá trị kinh tế cao. Đề tài đã làm sáng tỏ thành phần hóa học, tính chất của
glucomannan, sản phẩm bột glucomannan thu được có dạng hạt mịn, trắng, hiệu suất
tách chiết đạt tỷ lệ 30,4% trên khối lượng củ Nưa khô. Đề tài cũng đã nghiên cứu
được tác dụng hạ đường huyết của glucomannan từ củ Nưa trên chuột bị gây đái tháo
đường bằng streptozocin, tác dụng hạ cholesterol máu bằng thử nghiệm trên chuột đã
gây tăng cholesterol ngoại sinh và thỏ đã gây tăng cholesterol nội sinh và khả năng

Nguyên liệu nghiên cứu gồm 8 mẫu dược liệu sau:
- Mẫu Nưa 1 (ký hiệu mẫu N
1
) thu hái ở Đan Phượng- Hà Nội vào 10/2013.
- Mẫu Nưa 2 (ký hiệu mẫu N
2
) thu hái ở Nho Quan-Ninh Bình vào 1/2014.
- Mẫu Nưa 3 (ký hiệu mẫu N
3
)

thu hái ở Nho Quan-Ninh Bình vào tháng 1/2014
(mẫu này có nguồn gốc ở Hà Tĩnh và được trổng ở Ninh bình một năm tính đến
thời điểm thu hái).
- Mẫu Nưa 4 (ký hiệu mẫu N
4
)

thu hái ở Nho Quan-Ninh Bình vào tháng 1/2014
(mẫu này có nguồn gốc ở Huế và được trổng ở Ninh bình một năm tính đến thời
điểm thu hái).
- Mẫu Nưa 5 (ký hiệu mẫu N
5
) thu hái tại vườn Quốc Gia Ba Vì vào tháng 2/2014.
- Mẫu Nưa 6 (ký hiệu mẫu N
6
) thu hái tại vườn Quốc Gia Ba Vì vào tháng 2/2014.
- Mẫu Nưa 7 (ký hiệu mẫu N
7
) thu hái tại vườn Quốc Gia Ba Vì vào tháng 2/2014.

2.1.2.2. Thiết bị dùng trong nghiên cứu
- Kính hiển vi Labomed.
- Cân kỹ thuật Sartorius.
- Cân phân tích Precisa.
- Tủ sấy.
- Máy chấm sắc ký CAMAG LINOMAT 5.
- Máy chụp ảnh sắc ký CAMAG REPROSTAR 3.
- Máy vi tính với phần mềm winCATS và VideoScan.
- Máy ảnh Canon, Sony.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm và kiểm định theo tiêu chuẩn
Dược Điển Việt Nam IV [8].
2.2.1. Nghiên cứu về mặt cảm quan của hai loài Nƣa
Quan sát, mô tả dược liệu về đặc điểm thực vật, hình dạng, màu sắc, mùi vị,
kích thước bằng mắt thường và chụp ảnh [4].
2.2.2. Nghiên cứu về vi phẫu củ và vi học bột củ của hai loài Nƣa
Đặc điểm vi phẫu: Mẫu Nưa (củ) được cắt vi phẫu bằng dụng cụ cắt cầm tay,
tẩy và nhuộm theo phương pháp nhuộm kép, quan sát dưới kính hiển vi xác định
đặc điểm vi phẫu và chụp ảnh các đặc điểm vi phẫu dưới kính hiển vi sau đó vẽ sơ
đồ tổng quát [2], [4], [17].
15

Soi bột: Mẫu Nưa (củ) được thu hoạch, sửa sạch, sấy khô, được nghiền nhỏ
thành bột bằng thuyền tán và cối sứ, rây lấy bột mịn, lên tiêu bản và quan sát, chụp
ảnh dưới kính hiển vi để xác định các đặc điểm bột [2], [17].
2.2.2. Nghiên cứu về hóa học bột củ của hai loài Nƣa
Hai mẫu Nưa sau khi thu hái được rửa sạch, cạo vỏ, sấy khô và nghiền thô
bằng thuyền tán để làm các phản ứng kiểm nghiệm bằng phương pháp hóa học như
sau:
- Định tính các nhóm chất hữu cơ có trong dược liệu bằng phản ứng hóa học theo

như củ khoai tây. Lá mọc từ thân củ. Cuống lá hơi sần có nhiều đốm trắng trên nền
xanh nhạt. Phiến lá có màu xanh nhạt, chẻ thùy 3, thùy xẻ lông chim nhiều lần.
Cụm hoa mọc từ củ, cụm hoa mo màu đỏ xanh có đốm trắng, mặt trong đỏ thẫm,
bao lấy một bông mo là một phần mang phần hoa cái ở dưới phần hoa đực ở trên.
Quả mọng hình bầu dục, màu vàng cam.
Dược liệu là thân củ, có đường kính 20cm, màu nâu nhạt, củ non có thịt trắng,
củ già có thịt màu trắng vàng. Củ gây ngứa nhẹ, ăn không ngứa chỉ hơi tê đầu lưỡi.
Hình ảnh đặc điểm hình thái của mẫu N
2
được trình bày ở các hình 3.1.1,
3.1.2, 3.1.3, 3.1.4 (tr.19).
Mẫu N
6
: Cây cỏ cao 50-70cm, sống hàng năm có thân củ một phần nổi lên trên
mặt đất. Củ dài, chia thành từng đốt, màu nâu đến đen, đường kính của mặt cắt
ngang củ khoảng 3-6cm. Lá mọc từ thân củ. Cuống lá nhẵn. Cuống và phiến lá có
màu xanh đậm. Phiến lá chẻ thùy 3, thùy xẻ lông chim nhiều lần. Cụm hoa mọc từ
củ, cụm hoa mo màu trắng xanh. Quả mọng màu xanh.
Dược liệu là thân củ dài, khi cắt bề mặt các lát cắt nhớt, màu nâu vàng chia
thành từng khúc hình cầu. Củ non có thịt màu trắng xám, củ già có thịt màu trắng
vàng. Củ gây ngứa nhẹ.
Hình ảnh đặc điểm hình thái của mẫu N
6
được trình bày ở các hình 3.2.1,
3.2.2, 3.2.3, 3.2.4 (tr.20).
Nhận xét: Sau khi quan sát các đặc điểm thực vật của 2 mẫu Nưa ta có thể sơ
bộ phân biệt được các đặc điểm thực vật của 2 mẫu Nưa dựa vào các đặc điểm được
trình bày ở bảng 3.1 (tr. 18).
Sau khi phân tích các đặc điểm hình thái của các bộ phận của hai loài Nưa mẫu N
2

thành đám. Loại 1 có kích thước 0,148mm (4). Loại 2 có kích thước 0,048mm (5).
Có nhiều mảnh mạch (5), (6), (7). (hình 3.3 tr.21)
Mẫu N
6
:
- Đặc điểm bột: Bột màu xám đen, không mùi, không vị.
- Soi trên kính hiển vi thấy có các đặc điểm sau:
Tinh bột xếp riêng lẻ hay thành đám, có dạng kép bội. Tinh bột đơn có kích
thước từ 0,004mm đến 0,006mm (9), (10). Mảnh mô mềm có thành mỏng chứa tinh
bột và tinh thể canxi oxalat (1), (2). Có hai loại tinh thể canxi oxalat hình kim đứng
riêng rẽ hoặc thành đám. Loại 1 có kích thước 0,328mm (6). Loại 2 có kích thước
18

0,036mm (8). Tinh thể canxi oxalat hình cầu gai có kích thước 0,024 mm (7). Và có
nhiều mảnh mạch (3), (4), (5). (hình 3.4 tr.21)
Nhận xét:
Khi quan sát hai bột trên kính hiển vi, ta cơ bản phân biệt được 2 bột dựa vào
các đặc điể m được thống kê trong bảng 3.2 (tr.18).
Bảng 3.1. Sự khác nhau về đặc điểm hình thái của hai loài Nƣa

Đặc điểm
Mẫu N
2
Mẫu N
6

Cuống lá
Hơi sần, có nhiều đốm trắng.
Xanh nhẵn.
Củ

thước nhỏ hơn
Tinh thể
canxi oxalate
Có 2 loại tinh thể canxi
oxalate hình kim. Loại 1 có
kích thước 0,148mm. Loại 2
có kích thước 0,048mm.
Có 3 loại tinh thể canxi oxalat
gồm 2 loại hình kim. Loại 1 có
kích thước 0,328mm. Loại 2 có
kích thước 0,036mm. Tinh thể
canxi oxalat hình cầu gai có kích
thước 0,024 mm.

Mẫu
Mẫu

Trích đoạn Định tính coumarin ĐỊNH TÍNH DỊCH CHIẾT HAI LOÀI NƢA BẰNG SẮC KÝ LỚP
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status