Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu vấn đề ruộng đất là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa
phương Đông, và Việt Nam là một bộ phận của vùng đất phương Đông rộng
lớn đó. Thông qua chính sách ruộng đất của các triều đại sẽ cho chúng ta một
bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam, từ khi hình thành Nhà nước đầu tiên
(Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc) cho đến khi chế độ phong kiến Việt Nam sụp
đổ (vào nửa đầu thế kỷ XIX) và cho đến tận ngày nay, khi nền kinh tế nông
nghiệp vẫn giữ một vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước. Chính
sách ruộng đất sẽ góp phần, phản ánh tình hình kinh tế xã hội của nước ta qua
các triều đại khác nhau, từ đời sống của nhân dân cũng như của giai cấp địa
chủ phong kiến, cho đến tình hình văn hoá xã hội diễn ra và biến đổi như thế
nào. Sở dĩ ruộng đất có tầm quan trọng đặc biệt như vậy là vì Việt Nam và
các quốc gia có chung điều kiện về vị trí và điều kiện tự nhiên tức là cùng
chịu sự chi phối chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa đã ảnh hưởng
mạnh mẽ đến sự phát triển, nền tảng hình thành Nhà nước và nền kinh tế của
đất nước chính là dựa trên cơ sở của sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp
với cây lúa nước là chính. Tất nhiên, trong giai đoạn hiện nay từ sau khi nước
ta tiến hành thực hiện chính sách đổi mới, đưa đất nước phát triển theo con
đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bên cạnh việc ưu tiên cho phát triển
công nghiệp và dịch vụ để đưa đất nước nhanh chóng hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới, vì vai trò và vị trí của nền kinh tế công nghiệp, trong
đó có các chính sách về ruộng đất luôn giữ vững vị trí của mình trong suốt
quá trình đó.
Nghiên cứu về ruộng đất là một vấn đề vô cùng to lớn, do vậy với khả
năng còn hạn chế của mình tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nghiên cứu chính
sách ruộng đất dưới thời Lê Sơ (1428-1527). Có thể nói Lê Sơ là một trong
1
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
những triều đại phong kiến khá phát triển thịnh đạt ở nước ta, dưới sự trị vì
của các vị vua thời Lê Sơ, Đại Việt đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ về mọi
thức đoàn kết thống nhất của nhân dân khi xảy ra nạn ngoại xâm. Mặc dù vậy
Hồ Quý Ly được xem là người đi tiên phong trong lịch sử nước ta, ông đã đưa
ra những cải cách và kiên quyết thực hiện với mong muốn cứu vãn tình thế
khó khăn và phức tạp của đất nước.
Trước tình hình đó, năm 1406 nhà Minh chính thức đem quân sang
xâm lược nước ta, với “binh cường, lực mạnh” nhà Minh nhanh chóng đánh
bại nhà Hồ. Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Đại Việt rơi vào ách đô hộ của phong
kiến phương Bắc trong hai thập kỉ (1407-1427), có thể nói đây là cuộc Bắc
thuộc lần thứ hai.Trong hai mươi năm đô hộ nhà Minh đã để lại những dấu ấn
sâu đậm trong xã hội lịch sử Đại Việt. Ngay cả trong giai đoạn sau này, khi
nhà Lê khôi phục nền độc lập chính trị, nền văn hóa đó vẫn còn đọng lại, ở
một mặt nào đó còn được bổ sung thêm tạo lên một sự chuyển đổi mô hình
thiết chế, từ nền quân chủ Phật giáo quý tộc sang nền quân chủ Nho học giáo
điều. Đây là một bước ngoặt lịch sử. Tuy nhiên, trong môi trường xã hội bị
cưỡng bức và áp đặt văn hóa Trung Hoa nên cuộc đấu tranh văn hóa và chính
trị của người Việt chông đô hộ không ngừng tiếp diễn. Phong trào đấu tranh
chống quân Minh với hình thức phong trào quần chúng nổ ra đông đảo, rộng
khắp, đã phối hợp và dọn đường cho khởi nghĩa Lam Sơn phát triển và dành
được thắng lợi cuối cùng. Sau hơn mười năm (1416 – 1427) kiên trì đấu tranh
dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi và bộ chỉ huy Lam Sơn, cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn toàn thắng, đất nước trở lại thanh bình, vương triều nhà Lê
( Lê sơ) độc lập tự chủ được thiết lập. Đại Việt dưới thời Lê Sơ (1428 – 1527)
đã có những chuyển biến mới với những thành tựu rực rỡ trong công cuộc
khôi phục kinh tế ,ổn định xã hội và xây dựng quốc gia Đại Việt độc lập tự
chủ. Thời Lê Sơ được tính từ khi Lê Lợi lên ngôi (1428) đến khi Mạc Đăng
3
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
Dung cướp ngôi (1527) gồm 11 đời vua, trong đó Lê Thái Tổ là người sáng
lập, Lê Thánh Tông là người đưa vương triều nhà Lê đến giai đoạn thịnh nhất.
Trong khuôn khổ một quốc gia nông nghiệp với chế độ quân chủ mới
hữu. Thời Lê Sơ nền kinh tế tiểu nông – sản xuất nhỏ làng xã được duy trì và
khuyến khích, với sự bảo hộ của nhà nước. Tuy nhiên trong lĩnh vực kinh tế
công thương nghiệp, Nhà nước thời Lê Sơ lại tỏ thái độ dè dặt không khuyến
khích, Nhà nước tham gia vào việc nắm độc quyền giao thương với nước
ngoài. Như vậy với những lời thế vượt trội của mình nền kinh tế nông nghiệp,
gắn liền là vấn đề ruộng đất vẫn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong sự phát
triển đất nước thời Lê Sơ.
Về văn hóa - xã hội: Sự biến đổi về chính trị cùng với những thành tựu
bước đầu đạt được trong lĩnh vực kinh tế và đặc biệt trong xã hội Lê Sơ bấy
giờ vẫn còn sót lại những tàn dư của phong kiến phương Bắc, cho nên văn
hóa Đại Việt thời kì này cũng có những biến đổi sâu sắc. Phật giáo và Đạo
giáo thời Lý - Trần được thay bằng một hệ tư tưởng mới, giữ vai trò độc tôn
trong xã hội là Nho giáo. Đây cũng chính là thời kì diễn ra sự phân dòng văn
hóa, dòng văn hóa dân gian làng xã không được nhà nước khuyến khích, đã
tách ra khỏi nền văn hóa cung đình. Sự phân dòng này phản ánh sự phân tầng
đẳng cấp ngoài xã hội. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Đông Á
nhưng trên thực tế xã hội Đại Việt thời Lê Sơ “chưa bao giờ hoàn toàn là một
xã hội phong kiến Đông Á Nho giáo thuần nhất. Nó là sự hỗn dung, lai ghép
mang tính đối trọng giữa một mô hình ngoại nhập và mô hình thực thể bản
địa”
1
.
Như vậy, với những nét cơ bản về chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội
của xã hội Đại Việt thời Lê Sơ đã phản ánh, thời Lê Sơ về mô hình thiết chế,
hệ tư tưởng cũng như về mặt thực thể kinh tế - xã hội, những yếu tố kinh tế đã
1 Nguyễn Quang Ngọc (cb), “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, Nxb Giáo Dục, tr130.
5
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
chiếm ưu thế. Chế độ phong kiến mà nhà nước quan liêu Đại Việt đã xác lập
vững chắc, khoảng cách giữa danh giới và thực (giữa mô hình và thực thể) ở
quan trọng để đoàn kết toàn dân đánh giặc bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh những chuyển biết tích cực, chính sách ruộng đất của nhà Lê
sơ cũng không tránh khỏi những sai lầm và hạn chế, dẫn đến những chuyển
biến mang tính chất tiêu cực, điều này được thể hiện rõ trong gia đoạn sau của
nhà Lê sơ, nhất là từ sau đời Lê Thánh Tông (1460 – 1479) bắt đầu có biểu
hiện của sự suy thoái, nhà vua tỏ ra ít quan tâm đến vấn đề triều chính mà chủ
yếu tập trung vào các thú vui hưởng lạc, vấn đề ruộng đất bị bỏ bê, đời sống
nhân dân cực khổ. Phải chăng đây chính là hệ quả của nền quân chủ quan
liêu, quyền lực tối cao tập trung trong tay nhà vua, với sự phân hóa diễn ra
khá xâu sắc trong xã hội, bởi vậy sự sụp đổ của một triều đại vào đầu thế kỉ
XVI (1527) là một tất yếu phải xảy ra. Như vậy trên thực tế chính sách ruộng
đất của nhà Lê sơ được ban bố sửa đổi và mở rộng chủ yếu tập trung trong gia
đoạn đầu (Lê Thánh Tông trở về trước đây là giai đoạn đạt được nhiều thành
tựu lớn trong các lĩnh vực khác nữa, về chính trị, kinh tế và văn hóa xã hội
đều đạt được những thành tựu đáng kể. Song điều đó không có nghĩa là các vị
vua trong giai đoạn sau của nhà Lê sơ hoang toàn không quan tâm đến tình
hình ruộng đất của đất nước, về cơ bản họ vẫn tiếp tục duy trì những chính
sách đã được ban bố trong các thời đại trước, chứ không chú ý sửa đổi cho
phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, bởi lẽ các chính sách đó không
phải lúc nào cũng đúng vào có thể áp dụng được trong mọi thời kì, mọi giai
đoạn, phải chăng đây cũng là một nhân tố dẫn đến sự sụp đổ của nhà Lê sơ.
Chính sách ruộng đất của nhà Lê sơ được ban bố như thế nào? Sự kế
thừa và ban bố những chính sách mới trong thời kỳ này ra sao? Và những
chuyển biết tích cực cũng như tiêu cực của đất nước thông qua việc thực hiện
ruộng đất này ra sao? Trả lời những câu hỏi này cũng chính là nội dung chính
7
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
mà bài viết này phải làm sáng tỏ. Chính sách ruộng đất của nhà Lê sơ (1428 –
1527) diễn ra như sau:
I - Chính sách của nhà Lê sơ đối với bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu
8
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
• Ruộng đất công làng xã
• Ruộng đất tư hữu
II - Chính sách của nhà Lê sơ đối với ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước
Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước bao gồm tất cả các loại ruộng đất tịch
thu được của chính quyền đô hộ và bọn ngụy quan, ruộng đất không chủ đều
thuộc sở hữu của nhà nước. Tuy không có số liệu thống kê cụ thể về diện tích
ruộng đất của nhà Lê sơ nhưng căn cứ vào chế độ phong cấp ruộng đất cho
quan lại (sẽ được trình bày ở phần sau) ta có thể biết là số ruộng công chiếm
một số diện tích khá lớnso với diện tích toàn quốc. Theo Nguyễn Khắc Đạm
trong bài “ Góp mấy ý kiến về vấn đề ruộng tư trong lịch sử Việt nam” (tạp
chí NCLS tháng 5/1964, tr31) có viết: “…diện tích ruộng tưthời Lê sơ phải rất
nhỏ, nhỏ hơn thời cuối Trần, trước khi xảy ra phép hạn điền nhiều và cũng vì
thế nên nhà Lê mới không đánh thuế ruộng tư. Nếu ruộng tư thời Lê sơ lớn
hơn ruộng công mà nhà nước vẫn miễn thuế ruộng tư, thì thử hỏi, nó sẽ lấy
tiền đâu ra để chí phí?”. Như vậy, ruộng thuộc quyền sở hữu nhà nước Lê sơ
là rất lớn, nắm trong tay số ruộng đất này nhà Lê sơ đã nuôi sống bộ máy
quan lại đồ sộ mà không phải dựa vào việc thu thuế ruộng đất tư.. Nhà Lê đã
khẳng định quyền sở hữu tối cao của mình với lãnh thổ quốc gia. Đầu năm
1429nhà Lê đã nắm trong tay một số ruộng đất lớn trong nước, cùng với số
đinh ghi được là 700 suất, tổng diện tích ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước ddã
tăng lên và chắc chắn đã chiếm ưu thế trong tổng diện tích của cả nước.Nhà
nước trung ương có điều kiện thuận lợi thi hành một số chính sách cần thiết,
phù hợp với lợi ích của gia cấp mình, để giải quyết các vấn đề do lịch sử đặt
ra..Với số lượng rất lớn đó nhà Lê sơ đã sủ dụng dưới các hình thức sau:
1.1. Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lí, (ruộng quốc khố)
1.2. Ruộng cấp cho công thần, quan lại (tùy theo chức tước mà phân
cấp cụ thể)
9
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
nước, có nghĩa là nhà nước phong kiến chỉ áp dụng chính sách đó khi tổng số
ruộng tư không lớn. Như vậy có thể thấy rằng vào đầu thế kỉ XV quyền sở
hữu tối cao của nhà nước về ruộng đất được xác lập hoàn toàn. Lần đầu tiên
trong lịch sử nhà nước chính thức tuyên bố quyền lực đó và hàng loạt các điều
luật cấm biến ruộng công thành ruộng tư. Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất
của nhà nước còn là đặc trưng của xã hội phương Đông nói chung. Bên cạnh
quyền quản lí về lãnh thổ quốc gia, nhà nước trung ương luôn chú trọng xác
lập quyền sở hữu tối cao của mình tới toàn bộ đất đai. Điều đó phản ánh ý
nguyện muốn thâu tóm mọi quyền lợi vào trong tay người cầm quyền. nhà
nước là nhân tố cơ bản trong việc trợ giúp công cuộc khai phá ruộng đất và tổ
chức quản lý xây dựng các công trình thủy lợi, từ đó tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân tiến hành canh tác. Vì vậy trên mỗi thửa ruộng mà người nông
dân cày cấy đều hàm chứa một phần công sức của nhà nước, thể hiện vai trò
to lớn trong các chính sách về ruộng đất. Một trong những chính sách được
ban bố ngay sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi là ban thưởng ruộng đất cho tướng sĩ
có công lớn trong cuộc đấu tranh chống quân Minh.
1.2. Chính sách ban thưởng ruộng đất cho các công thần
Đối tượng của chính sách này tập trung vào những người có công lớn
với triều đình, đó là những binh lính, tướng sĩ đã tham gia đấu tranh chống
nhà Minh, giành độc lập dân tộc và bộ phận những người có công lớn với
triều đình trong giai đoạn trấn hưng và phát triển đất nước. Chính sách ban
thưởng ruộng đất cho tầng lớp quý tộc và quan lại (hay ruộng lộc) sẽ được
trình bày cụ thể trong phần sau.
1.2.1. Chính sách ban thưởng ruộng đất cho các công thần khai quốc
Việc ban thưởng ruộng đất cho binh lính, tướng sĩ có công lớn trong
kháng chiến không phải mới được thực từ sau khi nhà Lê thành lập (1428) mà
ngay trong giai đoạn còn chiến tranh Lê Lợi đã thực hiện chính sách ban
thưởng ruộng đất này, thông qua lệnh thu thuế ruộng đất công để tích trữ vào
11
4 Theo gia phả của dòng họ Lưu Nhân Chí, Lưu Trung, Nguyễn Như Sơn
12
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
Như vậy thông qua việc ban thưởng ruộng đất trên của nhà Lê sơ, mà
cụ thể là Lê Thái Tổ ngay sau khi ông lên ngôi, là chính sách mang tính toàn
diện, số ruộng đất cùng với bổng lộc chức tướcđã được ban thưởng một cách
công bằng cho những người có công khá hậu. Phải chăng với chính sách hợp
lòng dân này nên Lê Lơi đã nhanh chóng thu phục được lòng dân, tập trung
được quyền lực tối cao trong tay mình. Song hành cùng với quá trình thiết lập
quyền lực, ông cũng nhanh chóng thiết lập lại đất nước, ban bố những chính
sách mới. Bởi vậy sau khi đất nước đi vào ổn định, phát triển trong chính sách
ban thưởng ruộng đất cũng có sự thay đổ, lúc này ruộng ban thưởng chủ yếu
là ruộng bỏ hóa có thể khai phá được, điều này không chỉ giúp mở rộng diện
tích đất nông nghiệp trongh toàn quốc, hạn chế tình trạng lãng phí ruộng đất,
trong khi phần lớn nông dân chưa có ruộng đất để cày cấy, mà vẫn giữ được
tính chất ban thưởng của triều đình cho công thần. Theo Lê Quý Đôn trong
“Kiều văn tiểu lục” thì số ruộng đất cập cho Ngyuễn Thế Chuẩn ( công thần
khia quốc) như sau: “cho phép lấy ruộng tuyệt tự của nhà thế gai truyền trước
và ruộng đất bỏ hoang ở xã thuộc huyện Tống Sơn thưởng cho Thế chuẩn làm
tư sản, cộng 470 mẫu”. “Đó là chứng cứ cho thấy số ruộng đất triều đình cấp
cho công thần: ít khi lấy vào ruộng công hiện canh đã thành thuế lệ”
5
Nói tóm lại trong cả hai cách ban thưởng phần nhiều là ruộng đất của
các họ tuyệt tự trong chiến tranh, ruộng hoang hóa, nói cách khác là không
lấy đất công đang được cày cấy và chịu thuế để phong thưởng cho các công
thần. Trên thực tế trong số đó có cả số ruộng đất mà nhà Lê sơ đã dùng quyền
lực để chiếm đoạt của nông dân, nông nô, nô tỳ… để biến thành ruộng đất của
riêng mình. Chính sách này đã đạt được nhiều kết quả đáng kể đó là: khôi
phục và phát triển nền kinh tế, giải quyết tình trạng không có việc làm, không
có ruộng đất. Đặc biệt về việc thiết lập hệ thống bị trị, nhà Lê sơ đã xây dựng
Tông là người đưa vương triều Lê đến giai đoạn phát triển thịnh trị nhất, dưới
sự cai trị của mình ông đã ban thưởng cho hàng loạt các tướng soái và con
6 Ái Châu binh kì
14
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
cháu của họ đề được phong thưởng rất nhiều ruộng đất. Nói chung, việc
phong thưởng không hạn chế ở công lao về quân sự mà còn trong nhiều lĩnh
vực khác, việc này mang lại nhiều hiệu quả tích cực góp phần phát triển đất
nước. Cũng chính trong triều Lê Thánh Tông, Tả thị bộ lễ kiêm nhà toán học
nổi tiếng Vũ Hữu có công tính toán việc xây dựng lại các cửa Đoan môn Đại
Hưng và Đông Hoa mà được thưởng một trăm mẫu ruộng ở huyện Nam
Xương – Nam Định
7
.
Một điều đáng chú ý trong chính sách ban thưởng ruộng đất cho công
thần nhà Lê sơ đó là nhà nước Lê sơ không chỉ áp dụng chính sách này với
một loại đối tượng là công thần mà còn mở rộng diện áp dụng đến những
vùng sâu, vùng dân tộc miền núi, nơi mà các con cháu của các công thần trấn
giữ. Với việc cấp đất cho họ sinh sống lâu dài ở những vùng này nhà Lê sơ
thể hiện sự tập chung quyền lực tối cao của mình. Chính sách này không chỉ
xây dựng được lòng tin đối với bộ phận quan lại này, khiến họ hết lòng “phò
Vua giúp nước” gây dựng thế mạnh cho triều đình, mà còn giúp chính quyền
trung ương thiết lập một hệ thống tay sai đắc lực từ trung ương đến địa
phương. Không phải ngẫu nhiên mà nhà Lê sơ lại ban bố một chính sách
ruộng đất mang tính chất toàn diện đến như vậy, thông qua chính sách phong
thưởng đó, nhà Lê đa chia nhỏ đất nước ta ra thành từng bộ phận nhỏ và sử
dụng chính những công thần được ban thưởng ruộng đất làm người đứng đầu
cai trị và thực chất là thu địa tô cho triều đình, tất cả đều là sự phân chia
quyền bóc lột nhân dân lao động giữa nhà nước với các quan lại. Nói một
cách khác trong triều đại nào cũng vậy, nông dân và những tầng lớp ở đáy
đất cho công thần tập chung vào binh lính, tướng sỹ có công với triều đình thì
ruộng lộc điền lại được áp dụng cho bô phận quan lại cao cấp (từ Tứ Phẩm trở
lên), thường là các vị giữ trọng chức trong triều đình hay đứng đầu các khu
vực hành chính và đặc biệt là những người thân thuộc gần gũi với nhà vua
( như Hoàng tử, Công chúa, …). Đây là loại ruộng do nhà nươc phong kiến
16
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ (1428-1527) Vũ Thị Khánh Linh
trực tiếp ban cấp. Chế độ lộc điềnhững trước hết là đặc quyền của tầng lớp
cao nhất trong giai cấp thống trị.
Lộc điền gồm có ruộng, đât, ao, hồ, đầm…Tuy nhiên số lượng đất được
dùng để ban cấp làm lộc điền không phải chủ yếu là ruộng đất hoang hóa như
chế độ ban cấp ruộng đất cho các công thần mà là ruộng đất công làng xã.
Chính sách ban cấp lộc điền đã được ban hành từ các đời Vua trước nhưng
phải đến Lê Thánh Tông chế độ ban cấp lộc điền mới được quy định rõ rệt cụ
thể. Lộc điền bao gồm hai loại, một loại ban cấp vĩnh viễn cho phép lưu
truyền cho con cháu gọi là ruộng đất thế nghiệp (Thế nghiệp điền, thế nghiệp
thổ) trở thành ruộng đất tư. Một loại được cấp tạm thời cho hưởng dụng suốt
đời nhưng sau khi chết ba năm phải trả lại cho nhà nươc, loại này gồm một số
ruộng đất gọi là tứ điền cùng với một số ao hồ, bãi dâu,…chiếm phần lớn diện
tích ruộng ban cấp. Lộc điền nằm trong chế độ bổng lộc nói chung, là một
hình thức trả lương của nhà nước. Thời Lý Trần loại ban thưởng ruộng đất
này cũng đã được thực hiện, phải chăng trên cơ sở kế thừa những yếu tố đã có
Lê Thánh Tông đã phát triển nó đến đỉnh cao. Tuy nhiên về đối tượng được
ban cấp lại hoàn toàn khác nhau, nếu như nhà Lý Trần phong cấp Thái Ấp
nghĩa là kẻ được cấp có quyền chi phối về con người, thành viên của Thái Ấp
thì nhà Lê sơ chỉ cấp ruông thế nghiệp để phát canh thu tô. Căn cứ vào chế độ
phong cấp thời Lê sơ, có thể thấy bộ phận Tôn thất được cấp nhiều ruông thế
nghiệp, quan lại thì được ít. Thí dụ bậc thân vương được cấp sáu trăm mẫu
ruộng thế nghiệp và 40 mẫu đất thế nghiệp để làm nhà, vườn và 1530 mẫu
ruộng công để thu tô. Còn viên quan nhất phẩm chỉ được 18 mẫu đất, 15 mẫu
cấp thời Lê số với chế độ thực phong thời Lý Trần thì chế độ lộc điền là một
bước tiến quan trọng trong quan hệ sở hữư ruộng đất. Với chế độ thực phong
nhà nước ban cấp ruộng đất và cấp cho cả người nong dân trên ruông đất ấy,
đưa đến sự hình thành những đại điền trang to lớn thời Lý Trần. Chế độ thực
phong gắn liền với chế độ đại điền trang tồn tại trong xã hội phong kiến còn
18