SỞ GIÁO DỤC HÀ TĨNH
TRƯỜNG THPT ĐỨC THỌ
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH KHỐI 10 NĂM
HỌC 2010- 2011
MÔN: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 180 phút
A, ĐỀ RA:
Câu1 ( 8 điểm): Đọc truyện Tấm Cám, anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái
thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu trong xã hội xưa và nay.
Câu 2 ( 12 điểm): Có ý kiến cho rằng: " Văn chương Nguyễn Trãi hội tụ hai nguồn cảm
hứng lớn của văn học dân tộc là tinh thần yêu nước và nhân đạo".
B, ĐÁP ÁN:
Câu 1:
1, Yêu cầu về kĩ năng:
- Mặc dù bài làm văn xuất phát từ một câu truyện cổ tích nhưng yêu cầu của đề chỉ bàn
đến thái độ về lẽ sống nên đây là một bài nghị luận xã hội.
- Bài viết phải có sự vận dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận.
2, Yêu cầu về kiến thức: ( HS có thể làm theo nhiều hướng nhưng phải có đầy đủ những
ý sau):
- Thiện là điều tốt đẹp mà tất cả mọi người trong cuộc sống đều hướng tới. Trái với
thiện là ác, ác là mọi suy nghĩ, hành động mang lại những điều trái với lẽ tự nhiên, trái
với lương tâm, đạo đức. Người tốt là người luôn làm điều thiện, kẻ ác luôn gieo rắc đau
khổ, chết chóc. Cái thiện luôn được trân trọng, đề cao. Đó là "mặt trời chân lý" để mỗi
hành động, việc làm của con người hướng tới. Ngược lại, cái Ác luôn bị lên án, ghét bỏ
kết tội.
- Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa kẻ xấu và người tốt vô cùng gian nan,
phức tạp. Người bình dân xưa đã thể hiện ước mơ, lí tưởng của mình về sự chiến thắng
của cái thiện, của người tốt trong nhiều câu chuyện cổ tích, tiêu biểu là " Tấm Cám".
- " Tấm Cám" là một cuộc chiến đấu đầy cam go, quyết liệt giữa cái thiện và cái ác,
người tốt và kẻ xấu. Lúc đầu cái thiện gần như bị chèn ép, ngưòi tốt chỉ biết khóc và dựa
vào sự phù trợ của ông Bụt. Những Bụt giúp Tấm được bao nhiêu thì bị cướp đi bấy
- Phân tích, chứng minh( Qua cuộc đời và thơ văn):
+ Tìm theo Lê Lợi dâng " Bình Ngô sách", tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
+ " Quân trung từ mệnh tập":
. Giao thiệp với tướng nhà Minh, thực hiện kế sách đánh vào lòng người(lập luận sắc
bén, mạnh mẽ, thuyết phục, có sức mạnh " mười vạn quân", tác động tư tưởng, tình cảm
đối phương, biết phân hoá các đối tượng để có cách viết phù hợp: Mã Kì, Phương Chính,
Vương Thông, Sơn Thọ ).
. Lòng yêu chuộng hoà bình, thiện chí với quân Minh( tạo điều kiện, phương tiện
cho chúng rút quân đảm bảo tính mạng)
-> Một tư tưởng sáng suốt, có tầm chiến lược sâu sắc, có tính chiến đấu, có ý nghĩa
lâu dài <-> Yêu nước- nhân đạo.
+ " Đại cáo bình Ngô":
. Phần 1: Nêu chính nghĩa của cuộc kháng chiến: Khẳng định chủ quyền lãnh thổ,
văn hiến dân tộc trên lập trường yêu nước, thương dânlàm sức mạnh tinh thần trong chiến
đấu.
. Phần 2: Tố cáo tội ác của quân giặc: Gây đau khổ, lầm than cho dân, thương xót
dân -> biến đau thương thành hành động.
. Phần 3: Quá trình chiến đấu và chiến thắng: sức mạnh của tinh thần yêu nước quật
khởi chống quân xâm lược, vượt khó khăn gian khổ, quân dân đoàn kết một lòng để
giành thắng lợi hoàn toàn. Nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, hiếu hoà, hiếu sinh vì nhân dân
và dân tộc.
. Phần 4: Tuyên bố thắng lợi, mở ra kỉ nghuyên hoà bình, độc lập mới cho dân tộc.
-> Tư tưởng nhân nghĩa mang nội dung yêu nước thương dân.
+ Lòng yêu nước biểu hiện qua tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người:
. " Bảo kính cảnh giới 43": Cảnh ngày hè: Hoà mình vào hương sắc mùa hè, lắng
nghe cuộc sống của dân, ước mơ xã hội thái bình, no ấm.
. Bạch Đằng hải khẩu: Tự hào về chiến công, anh hùng của dân tộc.
+ Suy nghĩ, triết lí sâu sắc về nhân sinh - > có lí tưởng nhân nghĩa cao cả, sống giản dị,
hiểu thời thế, biết giữ mình.
. Nếp sống thanh đạm.