1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh xây dựng hiện nay, vấn đề tai nạn lao động (TNLĐ) trong quá
trình thi công của các nhà thầu luôn là vấn đề quan trọng, tuy nhiên họ cho rằng thời
gian hoàn thành (TGHT) dự án ảnh hưởng bởi tiến độ thi công, chi phí đầu tư, chất
lượng nghiệm thu, mà không ngờ vấn đề TNLĐ trong quá trình thi công có thể ảnh
hưởng đến TGHT dự án (nguồn: khảo sát từ các chuyên gia xây dựng).Dẫn chứng,
qua số liệu thống kê của Sở Lao Động – Thương Binh – Xã Hội tại Thành Phố Hồ
Chí Minh, trong năm (2007-2013).Cụ thể như sau:
Biểu đồ 1: Số vụ TNLĐ và TNCN từ năm 2007 đến 2013 tại Tp.HCM
(Nguồn:Sở LĐ-TB-XH Tp.HCM, 2014)
Tuy nhiên trong quá trình thi công, luôn xảy ra các rủi ro tiềm ẩn làm ảnh
hưởng đến sức khỏe và TNLĐ mà người quản lý không thể lường trước được.Chính
vì lý do đó mà sức khỏe và an toàn của công nhân bị suy giảm, có thể ảnh hưởng
đến tình trạng mệt mỏi, làm giảm năng suất, thậm chí tốn thời gian và chi phí vô
nghĩa để giải quyết các vụ TNLĐ, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công dẫn đến kéo
dài thời gian hoàn thành dự án “tác giả đã nhận thấy điều đó trên thực tế trong
quá trình thi công mà tác giả đã từng thực hiện”.
1 2 3 4 5 6 7
Series1
666 361 1319 892 1056 1568 822
Series2
117 87 102 102 81 98 90
666
361
1319
892
Hiện nay, có rất ít nghiên cứu định lượng về thời gian hoàn thành dự án thực
tế do những ảnh hưởng của tai nạn lao động trong ngành xây dựng kể cả trên thế
giới cũng như tại Việt Nam. Nếu thời gian thực tế để hoàn thành dự án của các vụ
tai nạn được nghiên cứu một cách cụ thể, thì công tác an toàn lao động trên công
trường chắc chắn sẽ được quan tâm và xem trọng hơn. Nếu không có những nghiên
cứu này, những nỗ lực của nhà thầu dành cho an toàn lao động rất khó được định
lượng cũng như rất khó thuyết phục các nhà thầu quan tâm vào công tác an toàn lao
động trên công trường.
Hinze và Parker (1978) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa an toàn lao động và
áp lực tiến độ, nhận thấy chúng có tương quan.Với các lý do nêu trên, nghiên cứu
của tác giả về “Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố gây ra TNLĐ đến TGHT
dự án xây dựng trong giai đoạn thi công”.Đề tài này là rất cần thiết và đáp ứng
được yêu cầu thực tiễn trong xây dựng hiện nay.
2. Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Nhận dạng và xếp hạng các “yếu tố gây ra TNLĐ” ảnh hướng đến TGHT dự
án xây dựng trong giai đoạn thi công.
- Xây dựng mô hình thể hiện sự ảnh hưởng các nhóm “yếu tố gây ra TNLĐ”
đến TGHT dự án.
3
- Đề xuất các biện pháp cải thiện sự ảnh hưởng của các nhóm “yếu tố gây ra
TNLĐ” đến TGHT dự án.
- Đánh giá xếp hạng tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp nhằm giảm
thiểu tai nạn lao động và cải thiện thời gian hoàn thành dự án trong giai đoạn
thi công tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Hiện nay mô hình CFA đã được ứng dụng trong ngành quản lý xây dựng, tuy
nhiên lại được ứng dụng rất nhiều trong các ngành kinh tế, quản trị, marketing,
- Tiến hành khảo sát, cập nhật thực trạng quản lý hiện nay
- Xác định rõ các mục tiêu cần đạt được và các vấn đề mang tính tai nạn lao
động trong quá trình quản lý dự án hiện nay
- Đề xuất ý tưởng, tham khảo cán bộ hướng dẫn và chuyên gia
- Xây dựng quy trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định các yếu tố
có gây ra TNLĐ ảnh hưởng đến TGHT dự án, xây dựng mối quan hệ tương quan
giữa các thành phần, xác định mối tương quan giữa các nhóm yếu tố với TGHT dự
5
án trong quá trình thi công. Từ đó đề xuất ra các giải pháp khách quan mang tính
chất định tính để cải thiện
triển.
1.1.1 Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên thế giới:
1. Shin M1, Lee HS, Park M, Moon M, Han S (2013) “A system dynamics
approach for modeling construction worker’s safety attitudes and
behaviors’’: Tai nạn xây dựng là do có hành vi không an toàn, trong khi đã
có cải thiện đáng kể trong việc tạo ra môi trường xây dựng an toàn hơn,
việc loại bỏ các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng ít được biết
đến. Để giải quyết sự thiếu hụt này, nghiên cứu nhằm mục đích phát triển
một hệ thống mô hình động (System Dynamics) dựa trên các quá trình hệ
thống động có thể giúp phân tích các cơ chế phản hồi và sự năng động, kết
quả liên quan đến thái độ an toàn và hành vi an toàn của người lao động,
công nhân xây dựng. Mô hình phát triển được áp dụng để kiểm tra tính hiệu
quả của ba chính sách cải thiện an toàn: Khuyến khích hành vi an toàn,
tăng khả năng của truyền thông và ngâm trong các tai nạn. Áp dụng mô
hình xác minh, tiềm năng mạnh mẽ của mô hình phát triển dùng để cung
cấp một sự hiểu biết tốt hơn về cách để loại bỏ hành vi không an toàn, và
có chức năng như một bài kiểm tra mạnh mẽ để đánh giá hiệu quả của các
chương trình an toàn hoặc các khóa đào tạo trước khi thực hiện. 8
2. Adeeba A. Raheem, Jimmie W. Hinze, Salman Azhar, Rafiq M. Choudhry,
Zainab Riaz, “Comparative Analysis of Construction Safety in Asian
Developing Countries”: Không còn nghi ngờ gì, thực tế là có một khoảng
cách rất lớn về hiệu suất công tác quản lý an toàn xây dựng giữa các quốc gia
phát triển và đang phát triển nhưng điều này cũng đúng vì tình trạng này vẫn
tồn tại ngay cả trong các quốc gia đang phát triển. Nó đã được thừa nhận rằng
có nhiều lý do kinh tế, xã hội và chính trị đằng sau hiệu suất an toàn xây dựng
kém này cần được giải quyết với một cách tiếp cận chủ động. Mặc dù thực tế
(i) ý nghĩa và cải tiến (10 tiêu chí), (ii) phù hợp của môi trường làm việc cho
người lao động (7 tiêu chí) và (iii) xem xét thái cơ bản (3 tiêu chí).Câu hỏi văn
hoá an toàn được phát triển tập trung vào các học viên nhận thức về tầm quan
trọng SH khí hậu an toàn.Ba mô hình xây dựng dựa trên 17 tiêu chí được thiết
kế: (i) cam kết và lãnh đạo (7 tiêu chí), (ii) động lực (6 tiêu chí) và (iii) thực
hành hệ thống quản lý an toàn (4 tiêu chí). Phát hiện này có ý nghĩa để tiếp
tục nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức của các học viên SH trên thái quan
trọng tại nơi làm việc với văn hóa an toàn.
4. Osama Ahmed Jannadi, Mohammed S. Bu-Khamsin, “Safety Factors
Considered by Industrial Contractors in Saudi Arabia”: Bài viết này trình bày
kết quả của một cuộc khảo sát câu hỏi, được phân phối cho các nhà thầu
trong công nghiệp phía Đông của Ả Rập Saudi, và các cuộc phỏng vấn chính
thức với các quan chức của nhà thầu chịu trách nhiệm về an toàn xây dựng.
Mục đích của cuộc điều tra là thu thập dữ liệu về những yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự hoạt động an toàn của các nhà thầu công nghiệp. Điều tra mẫu
bao gồm 28 công ty có liên quan đến khối lượng lớn các hoạt động xây dựng
công nghiệp, ở phía Đông.Báo cáo xác định 20 yếu tố chính và 85 phụ yếu tố
và xác định mức độ quan trọng dựa trên kết quả khảo sát và phân tích.
5. C. M. Tam, S. X. Zeng and Z. M. Deng, “Identifying Elements of Poor
Construction Safety Management in China”: Xây dựng là một trong những
ngành công nghiệp nguy hiểm nhất do tính chất độc đáo của nó. Đo bằng tiêu
chuẩn quốc tế, hồ sơ an toàn công trường xây dựng ở Trung Quốc là người
10
nghèo. Bài viết này nhằm mục đích để kiểm tra tình hình quản lý an toàn trong
ngành công nghiệp xây dựng của Trung Quốc, khám phá các hoạt động có
nguy cơ dễ bị trên các công trường xây dựng, và xác định các yếu tố ảnh
hưởng đến an toàn công trình xây dựng. Những phát hiện này cho thấy rằng
hành vi của các nhà thầu về quản lý an toàn là mối quan tâm nghiêm trọng,
toàn được đào tạo trên công trường.
7. Alasamri H, Chrisp M.T. and Bowles G (2012), “A framework for enhancing
and improving the safety culture on Saudi construction sites”: Cải thiện văn
hóa an toàn là cần thiết để giảm số người bị thương và tử vong trên các công
trường xây dựng quốc tế. Một nghiên cứu so sánh của tám nước phát
triển và Ả Rập cho thấy Saudi Arabia đang thực hiện nghèo nhất về tỷ lệ
thương nặng và tử vong, và một nền văn hóa an toàn trong thực tế
vẫn còn là một thách thức.Ba yếu tố chính của một mô hình văn hoá an toàn
được xác định từ các tài liệu: người (khí hậu an toàn), môi trường / tình hình
(hệ thống quản lý an toàn) và hành vi (hành vi an toàn).Những đã được thành
lập vào các mô hình văn hoá an toàn. Ngoài ra còn có một yếu tố thứ tư liên
quan đến tổ chức. Tuy nhiên, thiếu một nghiên cứu mà xem xét như thế nào
các thành phần này có thể được tích hợp vào một mô hình văn
hóa an toàn toàn diện.Một khuôn khổ khái niệm được đề nghị thông qua và
tích hợp các yếu tố này để áp dụng cho ngành công nghiệp xây dựng Saudi.
Khuôn khổ bao gồm ba yếu tố có nguồn gốc từ các khuôn khổ hiện có trong
các tài liệu, và yếu tố thứ tư của bối cảnh tổ chức. Khuôn khổ sẽ được phát
triển và thử nghiệm sử dụng công trình xây dựng Saudi và
dự kiến rằng các kết quả của nghiên cứu này sẽ có lợi cho các nhà thầu để đo
hiệu suất văn hoá an toàn của chính Saudi.
8. Emad Elbeltagi, Tarek Hegazy, “INCORPORATING SAFETY INTO
CONSTRUCTION SITE MANAGEMENT”: Ngành xây dựng liên quan đến
nhiều hoạt động có thể được rủi ro, nguy hiểm, và không lành mạnh. Số người
bị thương, tai nạn, bệnh tật và công việc liên quan báo cáo trên các công
trường xây dựng vượt quá đó của ngành công nghiệp sản xuất, góp phần chi
12
phí bổ sung và sự chậm trễ trong các dự án. Để đảm bảo rằng một công trường
xây dựng là an toàn cho các hoạt động, quy trình quản lý công trường thích
gian xảy ra tai nạn trong tuần thường rơi vào những ngày cuối tuần. Kết quả
này tương tự với nghiên cứu của Hinze (1997), với những thông tin thu được
này thì các nhà quản lý cần có kế hoạch giám sát chặt chẽ và nhắc nhở công
nhân thực hiện an toàn tốt hơn vào những thời điểm nhạy cảm dễ xảy ra tai
nạn như đề cập bên trên.
2. Nguyễn Trọng Hải (2010), “Ước tính chi phí của nhà thầu do tai nạn lao động
trong thi công xây dựng tại TP.HCM”: Xây dựng là ngành công nghiệp giữ
vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân dưới dạng công trình xây dựng.
Tuy nhiên, công việc xây dựng là công việc hết sức nguy hiểm và xây dựng là
ngành công nghiệp có nguy cơ xảy ra tai nạn cao. Điều này thể hiện rõ thông
qua các số liệu thống kê về tai nạn lao động trong các ngành công nghiệp. Số
vụ tai nạn lao động liên quan đến lĩnh vực xây dựng trung bình chiếm 40%
tổng số vụ tai nạn lao động. Kết quả này cho thấy thiệt hại cho TNLĐ trong
ngành xây dựng là rất lớn. Thiệt hại do TNLĐ tùy thuộc quy mô của công
trình, mức độ nghiêm trọng của vụ tai nạn. Thiệt hại do TNLĐ càng lớn khi tai
nạn càng nghiêm trọng. Chi phí trực tiếp trung bình của một vụ tai nạn phân
theo loại công trình là 62,074 triệu đồng đối với công trình sửa chữa, cải tạo;
64,209 triệu đồng đối với công trình xây dựng mới nhà dân và 81,872 triệu
đồng đối với công trình xây mới khác. Và việc kiểm định giả thuyết thống kê
cho thấy có sự khác biệt về chi phí do TNLĐ giữa công trình xây mới nhà dân
và xây mới các công trình khác. Chi phí trực tiếp trung bình cho một vụ tai
nạn phân theo đơn vị quản lý người lao động là 84,463 triệu đồng đối với
DNNN; 79,647 triệu đồng đối với công ty cổ phần; 75,171 triệu đồng đối với
công ty TNHH và 63,632 triệu đồng đối với các đơn vị khác (chủ yếu là các
nhà thầu tự do). Kết quả kiểm định giả thuyết thống kê cho thấy không có sự
khác biệt về chi phí của một vụ tai nạn giữa DNNN và các đơn vị khác (chủ
yếu là cái thầu tư nhân). Chi phí trung bình của một vụ tai nạn phân theo hợp
đồng lao động là 69,958 triệu đồng đối với trường hợp lao động không có
14
15
thấy các yếu tố có ảnh hưởng nhất là đánh giá hiệu quả chương trình an toàn
định kỳ. Kiểm tra t-test một đuôi với mức ý nghĩa 5% và giả thuyết H
0
:µ ≥ 4
để đánh giá có bao nhiêu yếu tố. Có mức ảnh hưởng tới chương trình an toàn
lao động là đáng kể. Kết quả có 9 yếu tố ảnh hưởng mạnh. Hơn nữa sử dụng
phân tích nhân tố, 8 yếu tố có thể được nhóm lại thành bốn yếu tố: Giám sát và
kiểm tra tính an toàn trên công trường thi công. Thực hiện và đánh giá chương
trình an toàn định kỳ. Đủ nguồn lực kết hợp giáo dục đào tạo, sự phối hợp tốt
các bên tham gia trên công trường. Để xác nhận các kết quả, ba trường hợp
nghiên cứu được tiếp tục tiến hành để kiểm tra tác động của những yếu tố
thành công về hiệu suất an toàn trên công trường xây dựng.
4. Trần Tiến Dũng (2011), “Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn trên những
công trường xây dựng tai việt nam”: Mục tiêu của nghiên cứu này là xem xét
mối quan hệ giữa chính các yếu tố an toàn và hiệu suất an toàn, để làm rõ các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn trên các công trường xây dựng tại Việt
Nam và đề xuất cho các công ty xây dựng Việt Nam để cải thiện hiệu suất an
toàn. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn cho các dự án cơ sở hạ tầng tại thành
phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương.Trong mô hình khái niệm của nghiên
cứu này, các chỉ số về hiệu suất an toàn của dự án được xác định bởi Teo,
Evelyn Lin Ai. et al., (2005) như mức độ an toàn trên các trang web xây
dựng.Các yếu tố an toàn quan trọng chủ yếu dựa trên các chỉ số phát triển bởi
SawachaE.et al., (1999).Những yếu tố này là yếu tố lịch sử, yếu tố kinh tế, yếu
tố thủ tục, yếu tố kỹ thuật và yếu tố tổ chức. Mô hình này được coi là mối
quan hệ trực tiếp giữa các yếu tố an toàn quan trọng và hiệu suất an toàn của
dự án. Sau khi tinh chỉnh các biện pháp thông qua chứng nhận phân tích nhân
tố (CFA), quy mô sử dụng để đo các cấu trúc lý thuyết trong nghiên cứu này là
18 yếu tố rủi ro được thiết kế và giữa đến nhóm chuyên gia gồm 7 người am
hiểu về cần trục tháp, và bằng phương pháp định lượng AHP tác giả đã xác
định trọng số ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro.Kết quả phân tích cho thấy
những yếu tố nào có trọng số cao là những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất.
17
6. Trần Anh Tuấn (2014), “Ứng dụng Balanced Scorecard để quản lý an toàn
lao động trong các dự án xây dựng dân dụng ở Tp.Hồ Chí Minh”: Ngành
công nghiệp xây dựng là một trong ngành công nghiệp nhiều nguy hiểm với
bản chất đặc thù riêng, trong vài năm gần đây những chương trình quản lý an
toàn đã trở thành một mối quan tâm đặc biệt của các bên tham gia dự
án.Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đề xuất mô hình quản lý an toàn theo
phương pháp thể điểm cân bằng với 4 khía cạnh: Quản lý, quá trình thực hiện,
khách hàng và học hỏi.Qua tham khảo các nghiên cứu trước và ý kiến của các
chuyên gia, nghiên cứu đã đưa ra 27 tiêu chí theo 4 khía cạnh.Nghiên cứu đã
thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát với 129 bảng trả lời hợp lệ từ
những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng.Quá trình phân tích cho
thấy không có sự khác biệt trong đánh giá các tiêu chí của các nhóm chủ đầu
tư/quản lý dự án, tư vấn giám sát và nhà thầu.Ngoài ra, kết quả còn cho thấy
không có sự khác biệt trong cách xếp hạng các tiêu chí giữa các nhóm.
Phương pháp phân tích nhân tố chính PCA được sử dụng nhằm nhóm những
tiêu chí có mức độ ảnh hưởng mạnh đến kết quả thực hiện an toàn.Kết quả
phân tích được 8 nhân tố chính.Trên cơ sở quá trình phân tích, nghiên cứu
kiến nghị mộ số giải pháp và hướng nghiên cứu tiếp theo.
7. Bùi Kiến Tín (2014), “Phân tích ảnh hưởng các nguyên nhân tai nạn lao động
bằng mô hình SEM”: Nghiên cứu đã chỉ ra rằng. Điều kiện và thiết bị làm việc
không phải là vấn đề quan tâm của cơ quan quản lý nhà nước và công nhân.Họ
cho rằng vấn đề này là việc của quản lý an toàn trên công trường.Một điều thú
vị khác đó là hệ thống văn bản pháp luật lại có ảnh hưởng âm lên sự tổ chức
[Đã trích dẫn từ luận văn của Bùi Kiến Tín, 2014]
Nước
Tác giả
(năm)
Vấn đề nghiên cứu
Nguyên nhân TNLĐ
được rút ra
Indonesia
Latief & et
al. (2011)
Tai nạn ngã cao trong
các công trình xây
dựng.
- Hành vi không an toàn
của công nhân.
Thổ Nhĩ
Arslan &
Tìm hiểu ý kiến công
-Công nhân có thái độ an
19
Kỳ
Kivrak
(2008)
nhân xây dựng về các
yếu gây tai nạn và kiến
thức an toàn của họ.
toàn kém.
-Điều kiện công trường
công nhân. -Nhận thức về
an toàn của quản lý an toàn
kém.
-Hành động thiếu an toàn.
Li & Xiang
(2011)
Thiết lập mối quan hệ
nguyên nhân dẫn đến
công trường kém đồng
thời phân tích các khía
cạnh của các nguyên
nhân từ vị trí và vai trò
khác nhau trong việc
quản lý an toàn.
-Điều kiện công trường
kém.
Maylaysia
Hamid,
Majid &
Nguyên nhân tai nạn tại
công trường.
-Do sự bất cẩn của công
nhân.
20
Singh
(2008)
- Công nhân không tuân
thủ quy trình công việc.
công nhân.
- Công trường kém an
toàn.
- Thiếu thiết bị PPE.
- Vật liệu kém chất lượng.
- Rủi ro trong công tác
quản lý.
Jordanian
Mashaleh &
Kiểm tra công tác an
-Thiếu đào tạo an toàn.
21
et al. (2010)
toàn tại Jordanian và
khuyến nghị cho nhà
thầu và chính phủ các
phương án cải thiện
hiệu suất an toàn
- Thiếu các cuộc họp an
toàn thường xuyên.
- Thiếu kiểm tra thường
xuyên.
- Thái độ sử dụng PPE của
công nhân kém.
- Không có biện pháp bảo
vệ an toàn. - Tối ưu hóa lợi
nhuận.
- Không tuân thủ quy trình
tế tại công trường.
- Thái độ an toàn công
nhân kém.
- Công nhân không sử
dụng PPE.
- Quản lý an toàn thiếu
kiểm tra giám sát.
Choudhry &
Đánh giá vấn đề thực
- Thiếu kiểm tra giám sát
22
et al. (2012)
hành an toàn trong
ngành công nghiệp xây
dựng tại Pakistan nhằm
mục đích cải thiện an
toàn trên các công
trường xây dựng.
thường xuyên.
- Thiếu cung cấp PPE.
- Mặt bằng thi công công
trường kém.
Palestine
Enshassi
(2008)
Xác định, đánh giá và
xếp hạng các yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu
tác cơ bản và phức tạp
của các yếu tố gây tai
nạn trong mối quan hệ
nhân quả.
- Kế hoạch thi công không
phù hợp.
- Thiếu kiểm soát quá trình
thi công
- Trình tự thi công không
đúng.
- Điều kiện công trường
kém.
23
- Hành vi không an toàn.
Toole
(2002)
Giảm sự không chắc
chắn của thiết kế và
chuyên gia an toàn trên
công trường bằng lý
thuyết phân tích
nguyên nhân gốc rễ tai
nạn.
- Thiếu đào tạo an toàn.
- Thiếu kiểm tra, giám sát.
- Thiếu thiết bị an toàn tối
thiểu.
- Phương pháp hoặc trình
toàn.
- Thiếu quan tâm về an
toàn trong thiết kế.
Mitropoulos,
Abdelhamid
& Howell
Phát triển mô hình quan
hệ tai nạn nhân quả hệ
thống của tai nạn, nó
- Thiếu quan tâm về an
toàn trong thiết kế.
- Công việc không thể tiên
24
(2005)
tập trung vào quá trình
sản xuất tạo ra tình
huống nguy hiểm và
hành vi không an toàn
của công nhân.
đoán.
- Sai lầm (lỗi) của công
nhân
Huang &
Hinze
(2006)
Tập trung vào các tác
động của chủ đầu tư đối
với hoạt động an toàn
an toàn.
Trần Hoàng
Tuấn (2008)
Phân tích nguyên nhân
tai nạn và đưa ra các
biện pháp cải thiện
ATLĐ về đặc điểm
nhân thân của công
- Đặc điểm của công nhân.
- Phương pháp người quản
lý.
25
nhân cũng như phương
pháp quản lý.
Lưu & et al.
(2009)
Nhân tố quan trọng ảnh
hưởng tới tai nạn trong
ngành xây dựng tại
Việt Nam
- 23 nguyên nhân được xếp
hạng
1.2 Xác định vấn đề còn tồn tại của nghiên cứu
Việc quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng là một phần công
việc trong quản lý thi công xây dựng.Ngoài ra TGHT dự án cũng rất quan trọng đối
với nhà thầu thi công, nó ảnh hưởng đến uy tín và năng lực của nhà thầu.Nếu không
quản lý tốt cả hai công việc này thì tai nạn sẽ rất dễ xảy ra, đồng thời tiến độ cũng bị