Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cao su Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời Mở Đầu

1.Tính cấp thiết của đề tài.
Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày,có khả năng thích ứng rộng,tính chống
chịu với điều kiện bất lợi cao và mang giá trị kinh tế lớn do chất lỏng tiết ra từ cây
hay còn goi là “mủ cao su” là nguyên liệu công nghiệp chính sản xuất ra cao su .Việt
Nam và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á có được lợi thế vô cúng lớn từ khí
hậu,đất đai thuận lợi cho sự phát triển của cây cao su.Bởi vậy cây cao su đã trở thành
nguồn lợi kinh tế lớn đặc biệt cho ngành và cho sự phát triển của đất nước.
Nhìn nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của cây cao su,Việt Nam đã chú trọng
trồng trọt,khai thác chế biến cao su rộng rãi trên cả nước.Các sản phẩm cao su không
chỉ nhằm phục vụ cho nhu cầu trong nước và đồng thời đóng góp một tỷ trọng lớn
vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước,có mặt ở hầu hết tất cả các thị trường trên thế
giới.
Tuy nhiên sản phẩm cao su của Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại năng lực cạnh
tranh còn yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Thái
Lan,Malayxia,Indonexia.. cũng như năng lực cạnh tranh của ngành còn yếu kém so
với các ngành kinh tế khác
Do đó, làm sao phát huy hết nội lực, hết lợi thế để cao su Việt Nam có thể đứng
vững và phát triển trên thị trường thế giới vẫn là một câu hỏi bất cập cần có lời giải
đáp.
Đề tài “Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cao su Việt
Nam “ mà em chọn là một đóng góp nhỏ ý kiến của bản thân mong góp phần giải
quyết câu hỏi đó.
Em xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo-Ths Nguyễn Hà Hưng về sự hướng dẫn
hết sức tận tình và quý báu, giúp em trong suốt quá trình hoàn thánh báo cáo. Em
cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú và anh chị trong Vụ kinh tế Nông nghiệp –
Bộ kế hoạch đầu tư đã giúp em trong thời gian qua
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
1

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm rất phổ biến của kinh tế, là một đặc trưng
của nền sản xuất hàng hóa. Cạnh tranh, hiểu theo nghĩa khái quát, là sự ganh đua giữa
những người theo cuối cùng mục đích nhằm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi
thế nhiều nhất. Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các
chủ thể kinh tế ganh đua , tìm mọi biện pháp( cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn)
để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, tối đa hóa
lợi ích, nâng cao vị thế…Trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc
đẩy kinh tế phát triển. Cạnh tranh khiến cho các nguồn lưc được phân bổ một cách có
hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng tối ưu các nguồn
lực, hạn chế các méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập và nâng cao
phúc lợi xã hội. Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc
đi đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh
nghiệp luôn cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới tổ
chức, quản lý để thích ứng với những biến động của thị trường. Nâng cao năng lực
cạnh tranh đã trở thành tiền đề, động lực và mục tiêu theo đuổi liên tục trong suốt quá
trình phát triển doanh nghiệp. Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự
lựa chọn rộng rãi hơn về chủng loại, chất lượng, giá cả, mẫu mã của hàng hóa và dịch
vụ. Cạnh tranh bảo đảm rằng cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt
giá cả một cách tùy tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường và
lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội. Trên bình diện quốc tế, cạnh tranh thúc ép các
doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích như tiêu thụ, đầu tư, huy
động vốn, lao động, công nghệ, quản lý…trên thị trường thế giới. Thông qua cạnh
tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy được những lợi thế so sánh cùng những yếu
kém của mình để hoàn thiện và phát triển. Như vậy, cạnh tranh cũng như các quy
luật, hiện tượng kinh tế, xã hội khác chỉ xuất hiện và phát triển khi có các điều kiện
như nhu cầu cạnh tranh, môi trường cạnh tranh và vận hành tốt khi có môi trường
cạnh tranh hiệu quả .
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
3

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường của các doanh nghiệp,
vấn đề sản phẩm bán tới tay khách hàng được coi trọng hàng đầu. Bởi sản phẩm là
đại diện cho thương hiệu của doanh nghiệp, cho sự lớn mạnh hoặc yếu kém trong
lĩnh vực cung cấp mặt hàng cùng công cụ sử dụng. Cạnh tranh về sản phẩm thường
được thể hiện qua các mặt:
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để
chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ
của sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình
độ sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh về chất lượng: Tùy theo từng sản phẩm với đặc điểm khác nhau
để lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng khác nhau. Nếu tạo ra nhiều lợi thế cho chỉ
tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi cạnh tranh trên thị trường.
- Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh
nghiệp còn phải lựa chọn cơ cấu sản phẩm phù hợp, lựa chọn cơ cấu hàng hóa và cơ
cấu chủng loại hợp lý.
- Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm. Doanh nghiệp sử dụng công cụ
này để đánh trực tiếp vào trực giác của người tiêu dùng.
- Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kỳ sống của sản phẩm. Sử dụng biện
pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ra một sản
phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
1.2. Một số vấn đề lý luận về khả năng cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm về khả năng cạnh tranh
Theo đề án quốc gia về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch
vụ Việt Nam” (do Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế của Việt Nam thực
hiện) thì năng lực cạnh tranh (hay khả năng cạnh tranh, tính cạnh tranh) được xem xét
ở ba cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành/ doanh
nghiệp và năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ. Năng lực cạnh tranh quốc

tranh quốc gia.
Tóm lại, hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa ba cấp độ này để thấy được sự
khác biệt trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh ở từng cấp độ cũng như sự tác động
qua lại giữa năng lực cạnh tranh ở một cấp với năng lực cạnh tranh ở hai cấp độ còn
lại. Đối tượng của khóa luận là năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành. Do vậy, nó sẽ
chịu tác động qua lại của cả năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam và năng
lực cạnh tranh của các sản phẩm trong chính ngành cao su
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngành hàng nông sản
Năng lực sản phẩm của ngành hàng nông sản được thể hiện thông qua nhiều
chỉ tiêu. Thật khó để xác định chỉ tiêu nào là bao quát, là quyết định. Ngành hàng có
rất nhiều tác nhân tham gia nên để đánh giá vai trò và mức độ tác động của chúng quả
là điều không đơn giản.
1.2.2.1 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Ta biết rằng sản phẩm là đại diện cho một ngành sản phẩm chỉ khi sản phẩm
có năng lực cạnh tranh thì mới chứng tỏ ngành sản phẩm đó có khả năng tồn tại và
phát triển được
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm thể hiện ở lợi thế cạnh tranh của nó tức là
sự biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về chất lượng, cơ chế vận hành của nó trên thị
trường, tạo nên sức hấp dẫn và thuận lợi cho khách hàng trong quá trình dùng sản
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phẩm. Một phẩm chất không thể thiếu được trong thời đại ngày nay là phải đảm bảo
tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường, tạo sự an toàn cho người tiêu dùng, không thể thiếu
được trong đời sống thường nhật thì nó phải là sản phẩm có tính an toàn cao. Sản
phẩm có năng lực cạnh tranh cao được sản xuất ở các doanh nghiệp có khả năng cạnh
tranh cao.
Điều mà người tiêu dùng quan tâm đầu tiên ở sản phẩm là chất lượng sản
phẩm, giá cả, khối lượng. Một hàng hóa có khả năng cạnh tranh là hàng hóa đó phải
thỏa mãn và tạo niềm tin cho khách hàng hiện tại, thuyết phục khách hàng trong

Các yếu tố nguồn lực là yếu tố đầu vào quan trọng của mỗi quá trình sản xuất.
Trong ngành hàng nông sản thì điều thì điều này thể hiện rõ nét hơn. Ngành hàng nào
mà huy động được nhiều các yếu tố nguồn lực vào quá trình sản xuất sản phẩm thì
chắc chắn có điều kiện tạo ra năng lực cạnh tranh cho ngành.
Số lượng và chất lượng của các yếu tố nguồn lực được huy động vào quá trình
sản xuất của một ngành hàng là nói lên khả năng phát triển của ngành đó. Tỷ lệ tham
gia của mỗi yếu tố nguồn lực vào quá trình sản xuất từng loại nông sản tùy thuộc vào
các tính chất của quy trình kỹ thuật và tiến bộ công nghệ. Điều đó có nghĩa là tùy
thuộc vào tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong ngành hàng đó
mà quyết định những tỷ lệ về số lượng và chất lượng của mỗi yếu tố nguồn lực được
huy động vào sản xuất.
Ngành hàng nông sản chịu tác động rất lớn của các yếu tố nguồn lực vì xuất
phát từ những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Khả năng cạnh tranh của một
ngành sản phẩm nông nghiệp tùy thuộc vào mức độ huy động được nhiều các yếu tố
đó với chất lượng cao thì khả năng cạnh tranh của nó sẽ tăng lên. Nhưng đây chỉ là
điều kiện cần, còn điều kiện đủ là các chủ thể trong ngành hàng phải có trình độ quản
lý, biết tổ chức sử dụng có hiệu quả các yếu tố nguồn lực.
1.2.2.3 Các mối liên kết
Ta biết rằng bất kỳ một chuỗi ngành hàng, hiệu quả của nó được quyết định
bởi mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi. Các mối quan hệ này có ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm cuối cùng do tác động trực tiếp đến chi phí
trung gian, điều kiện giao nhận hàng và chất lượng của sản phẩm. Giá thành của sản
phẩm cuối cùng là tổng chi phí của tất cả các khâu trong chuỗi cộng với chi phí giao
dịch giữa các khâu và chi phí này được quyết định bởi mối quan hệ từng khâu. Ngành
sản phẩm là chuỗi các tác nhân tham gia vào ngành. Giữa các tác nhân có mối quan
hệ rất chặt chẽ với nhau. Sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất của các tác nhân này
là sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất của các tác nhân tiếp theo. Ngành hàng
chỉ phát triển được khi quá trình sản xuất của các tác nhân được thông suốt, diễn ra
liên tục, không bị gián đoạn ở bất kỳ tác nhân nào.
Một đặc điểm kinh doanh nông nghiệp là chịu nhiều rủi ro cao. Do đó ngoài

hoặc ngang bằng thì người tiêu dùng chắc sẽ lựa chọn sản phẩm mà giá thành thấp
hơn. Muốn có giá bán thấp hơn thì giá thành của sản phẩm phải thấp. Do đó để nâng
cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì phải hạ giá thành của sản phẩm. Muốn làm
được điều này thì tất cả các tác nhân trong ngành cùng tìm các biện pháp để hạ giá
thành trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình.
Với những sản phẩm nông nghiệp thì chất lượng sản phẩm thể hiện trên nhãn
mác, bao bì, hương vị, mùi, cấu trúc bên ngoài và sự mới lạ, chúng làm tăng hoặc
giảm tính hấp dẫn của sản phẩm.
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Giá thành của sản phẩm nông nghiệp thường do nhiều tác nhân chi phối. Do
đó muốn hạ giá thành của sản phẩm thì các tác nhân trong chuỗi ngành hàng nông sản
cùng chủ động mổ xẻ, phân tích từng khâu trong quy trình sản xuất và tiêu thụ để
phát hiện ra những mặt yếu kém, từ đó áp dụng những biện pháp hữu hiệu nhằm vừa
nâng cao chất lượng sản phẩm vừa hạ giá thành sản phẩm.
Chỉ tiêu năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng lên, thị phần của sản phẩm
được mở rộng, doanh thu bán hàng tăng…Khi một sản phẩm mà thị phần của nó
tăng, doanh thu bán hàng không ngừng tăng lên là một tín hiệu tốt cho doanh nghiệp,
chứng tỏ việc kinh doanh của doanh nghiệp đang tiến triển tốt đẹp nhưng cũng cần
lưu ý xem xét đây là giai đoạn nào của chu kỳ sống của sản phẩm để có phương án
kinh doanh hợp lý.
1.2.3.2 Huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực
Việc huy động các yếu tố nguồn lực chủ yếu được các tác nhân ban đầu trong
chuỗi ngành hàng thực hiện, đó là các hộ nông dân trực tiếp sử dụng các yếu tố đầu
vào cho quá trình sản xuất sản phẩm. Cũng không thể không kể đến các doanh nghiệp
thực hiện vai trò chế biến sản phẩm. Để huy động được nhiều yếu tố nguồn lực thì
các doanh nghiệp phải biết tận dụng những nguồn lực sẵn có và không ngừng tìm
kiếm các nguồn lực khác. Nhưng điều không kém phần quyết định trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh là phải sử dụng có hiệu quả của các nguồn lực đó. Điều đó

1.2.4. Kinh nghiệm về nâng cao khả năng cạnh tranh ngành cao su của một số nước
Với mục đích có được định hướng và giải pháp đúng đắn để phát triển ngành
cao su của Việt Nam một cách bền vững,dưới đây là kinh nghiệm của một số nước
sản xuất và xuất khẩu cao su đã đạt được những thành công trong thời gian qua như
Thái Lan,Indonexia,Malayxia để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trên con
đường phát triển
1.2.4.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
a) Khái quát tình hình sản xuất và xuất khẩu cao su.
Thái Lan hiện nay là nước sản xuất và xuất khẩu cao su lớn nhất trên thế
giới.Về khai thác mủ cao su hiện nay diện tích trồng cao su của Thái Lan lên đến 2,28
triệu ha(năm 2007),sản lượng tương ứng đạt trên 3,02 triệu tấn,xét cả giai đoạn từ
năm 2002 trở về đây ,sản lượng cao su của Thái Lan thu được trung bình trên 2 triệu
tấn với năng suất thu hoạch cao su là 1.600-1.800 kg/ha/năm.
Về công nghệ chế biến cao su,Thái Lan được đánh giá là nước có trình độ công
nghệ chế biến cao và hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á,điều này thể hiện rõ
ràng qua chủng loại cao su được sản xuất ra,cao su RSS,STR là chiếm thị phần cao
nhất trong các chủng loại cao su.Đấy là hai sản phẩm đã được chế biến ở mức độ cao.
Từ năm 2002-2008 sản lượng xuất khẩu cao su của Thái Lan luôn đạt mức
doanh thu trung bình là 2,3 tỷ USD.Thị phần cao su xuất khẩu của Thái Lan luôn đạt
khoảng 35% nhiều nhất so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thế giới.Thị trường
nhập khẩu cao su của Thái Lan với số lượng lớn như Trung Quốc,Nhật Bản,Mỹ…
tương ứng với mức xuất khẩu là 827.000 tấn,405.000 tấn,213.000 tấn
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đạt được những kết quả như trên nhờ vào chiến lược phát triển của Thái Lan cụ
thể như sau:
b) Các công cụ biện pháp của chính phủ Thái Lan
Thái Lan xác định nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân và không
chỉ có thế,mục tiêu cốt lõi là tạo ưu đãi”tam nông”để ổn định chính trị xã hội.Trong

12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+Thúc đẩy phát triển công nghệ.
Tại hội chợ gạo năm 2007,Thủ tướng Thái Lan Sarayud Chulanon nhấn
mạnh”Thái lan sẽ đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ kĩ thuật hiện đại đồng thời
kết hợp kinh nghiệm truyền thống để ổn định sản lượng theo triết lỹ”kinh tế đầy
đủ”.Có thể nói việc đầu tư áp dụng khoa học công nghệ mới đã quyết định tốc độ
tăng trưởng của quốc gia Đông Nam Á này trong suốt thời gian qua.Do diện tích đất
nông nghiệp có hạn nên Thái Lan không thể mãi tiếp tục theo đuổi phát triển nông
nghiệp theo hướng mở rộng đất canh tác mà thay vào đó là đưa công nghệ áp dụng
tiến bộ khoa học kĩ thuật cải tạo đất trồng,lai tạo các giống cây mới siêu năng suất,có
khả năng thích ứng với vùng đất canh tác bạc màu,khô hạn.Hữu cơ hóa đất nông
nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón hữu cơ,phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh
học cải tạo đất thoái hóa,nâng cao độ màu mỡ của đất.Điều này vừa giúp sử dụng quỹ
đất hiệu quả,giảm nhập khẩu phân bón lại nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản
sạch
+Thu hút đầu tư
Mở cửa thị trường khi thích hợp;chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư thu hút
mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để
phát triển ngành công nghiệp chế biến,thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn
hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh với các chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy
chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ tầng như:cảng kho lạnh,sàn đấu giá,đầu tư
vào hoạt động nghiên cứu và phát triển
1.2.4.2 Kinh nghiệm của Indonexia
a) Khái quát chung về tính hình sản xuất và xuất khẩu cao su
Indonexia là một đất nước quần đảo,bao gồm hơn 13.600 đảo lớn nhỏ với
tổng diện tích đất tự nhiên lên đến 1,9 triệu km2.Hơn 2/3 dân số sống ở vùng nông
thôn và lao động nông nghiệp chiếm 54% tổng lao động xã hội.Trong đó sản xuất và
xuất khẩu cao su đã đóng góp rất lớn vào ngân sách Nhà nước.Trên thế giới
Indonexia là nước sản xuất và xuất khẩu cao su lớn thứ 2 sau Thái Lan

tích đất trồng cao su không lớn chỉ đạt khoảng 1,35 triệu ha nhưng cùng với năng
suất khai thác cao 1.430kg/ha/năm.Do vậy Malayxia thu được sản lượng khá lớn và
ổn định ở mức trên 2.000 tấn cao su.Cao su của Malayxia được khai thác chủ yếu là
phục vụ cho hoạt động xuất khẩu.Bởi vậy đến nay vị thế của Malayxia vẫn đứng
vững so với tất cả các nước xuất khẩu cao su.
b) Các biện pháp và công cụ.
+Về tổ chức sản xuất
Các vườn cây cao su được tổ chức theo nhóm có thể được trợ giúp dưới hình
thức tín dụng,được cung ứng các yếu tố đầu vào và các điêù kiện tiếp thị.Malyaxia đã
thành lập hội đồng ngành cây cao su nhằm mục đích xúc tiến sự liên kết giữa các khu
vực Nhà nước và tư nhân.Mạng lưới của Hội đồng ngành gồm có các đại diện của
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các cục,công ty,trường Đại học, và các đơn vị tư nhân có liên quan đến sự phát triển
của ngành cao su,tạo nên sự liên kết chặt chẽ có trách nhiệm trong các khâu sản
xuất,chế biến và xuất khẩu
+Về hỗ trợ sản xuất:
Nhận thức được tầm quan trọng của sản xuất cao su và những thuận lợi có được
Chính phủ Malayxia đã đưa ra những chính sách đầy hấp dẫn về tài chính,đầu tư,thuế
nhằm hỗ trợ và bảo hộ người sản xuất và nhiều chương trình hỗ trợ cho sự phát triển
như hỗ trợ về tài chính,kĩ thuật,công nghệ và tư vấn sản xuất,tư vấn tiếp thị.Sau khi
nhận thấy giới hạn của sự phát triển cao su với tốc độ cao Malayxia đã điều chỉnh
chính sách khuyến khích về tài chính tiền tệ nhằm phát triển sản xuất và xuất khẩu
những nông sản có quy mô lớn,đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.Tất cả các đơn vị
tham gia vào việc trồng cây bao gồm HTX,các tổ hợp,các nông hội,các công ty cổ
phần……đều có quyền được hưởng các khuyến khích về thuế.Chẳng hạn các đơn vị
mới tham gia kinh doanh được miễn trừ thuế trong vòng 5 năm kể từ khi bắt đầu thực
hiện dự án nông nghiệp đi vào hoạt động,được bộ tài chính chấp thuận,các chi phí cơ
bản ban đầu cũng được khấu trừ về khai hoang,trồng mới,xây dựng đường xá,cầu

-Về thu hút đầu tư. Việt Nam nên tập trung thu hút đầu tư từ các nước nhập
khẩu cao su lớn của Việt Nam như Trung Quốc,Hàn Quốc…..Bên cạnh đó nên tăng
cường thu hút đầu tư từ các nước có nhu cầu nhập khẩu cao su lớn của Việt Nam
nhưng thị phần của Việt Nam tại các nước này còn thấp.Từ đó ta sẽ hiểu được nhu
cầu thị trường và đáp ứng được một cách hiệu quả tối đa.Cuối cùng là việc thu hút
đầu tư chủ yếu vào việc phát triển dây chuyền chế biến và sản xuất cao su
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA
NGÀNH CAO SU VIỆT NAM
2.1.Tổng quan về ngành cao su thế giới
Tình hình Cung – Cầu cao su tự nhiên thế giới tương đối cân bằng trong năm
2009. Nguồn cung cao su tự nhiên toàn thế giới năm 2009 đạt 9,36 triệu tấn, giảm
6,21% so với năm 2008 do các nước sản xuất chính cùng nhau cắt giảm sản lượng để
nâng đỡ giá. Nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên tiếp tục sụt giảm 1,7% so với năm 2008
đạt 9,56 triệu tấn.
Giá cao su tự nhiên biến động mạnh trong năm 2008 theo biến động của giá dầu.
Sau khi đạt đỉnh vào giữa năm đã quay đầu rớt mạnh và duy trì ở mức thấp. Tuy
nhiên, từ quý 2/2009 giá cao su tự nhiên có xu hướng tăng lại.
Ngành cao su chia làm 2 mảng chính: cao su tự nhiên và cao su nhân tạo. Thành
phần chính của cao su tự nhiên là mủ khai thác từ cây cao su. Cao su nhân tạo có
nguồn gốc từ dầu mỏ. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên chiếm khoảng 40-
45% tổng nhu cầu cao su toàn thế giới.
Nguồn gốc cây cao su có xuất phát từ các nước Nam Mỹ nhưng các quốc gia ở
Châu Á mới là các nước sản xuất chính
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368

triệu tấn, giảm 1,6% so với năm trước đó. Đây cũng là lần giảm sút đầu tiên trong
những năm gần đây. Nguyên nhân chính từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Năm 2009, kinh tế thế giới tiếp tục sụt giảm làm giảm nhu cầu hàng hoá, trong
đó có mặt hàng ô tô. Nhu cầu tiêu thụ cao su từ các nhà sản xuất ô tô tại các thị
trường quan trọng như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản giảm trong năm nay cộng với giá cao
su tổng hợp giảm do giá dầu thô đứng ở mức thấp đã tác động mạnh đến nhu cầu tiêu
thụ cao su tự nhiên.
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất trên thế giới, tỷ lệ tiêu thụ
chiếm hơn 26% tổng mức tiêu thụ cao su toàn cầu. Thị trường Trung Quốc có tốc độ
tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu cao su năm 2008 lớn nhất thế giới, ở mức 39,27%.
Năm 2009, trong khi các thị trường tiêu thụ chính như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Hàn
Quốc… đều có sự sụt giảm lớn nhưng Trung Quốc vẫn là thị trường tiềm năng nhập
khẩu cao su lớn trên thế giới
Mỹ là thị trường tiêu thụ cao su tự nhiên lớn thứ hai thế giới, trong 6 tháng đầu
năm 2009 thị trường này sụt giảm mạnh về nhu cầu tiêu thụ. Nhập khẩu cao su tự
nhiên giảm 78,7% về lượng, giảm 34,7% về giá trị. Tình hình này cũng diễn ra tương
tự ở Nhật Bản, thị trường tiêu thụ cao su lớn thế ba thế giới. Tổng tiêu dùng cao su tự
nhiên của Ấn Độ (thứ tư thế giới về tiêu thụ cao su) năm 2009 dự kiến giảm hơn 2%
so với năm 2008 do sự giảm sút đáng kể của ngành ô tô nước này.
Nhập khẩu cao su tự nhiên của các nước (nghìn tấn)
Nguồn: báo cáo ngành cao su quý 3/2009,AGRO
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.3.Giá cao su tự nhiên trên thị trường thế giới
Từ năm 2002 giá cao su tự nhiên trên thị trường thế giới tăng liên tục
và đạt mức đỉnh vào cuối quý 2/2008 (trên 3000USD/tấn). Tuy nhiên, bước sang quý

Việt Nam từ năm 1897 đã đang và sẽ là một cây công nghiệp quan trọng của nước
ta.Ngành cao su đang dần trở thành ngành sản xuất và xuất khẩu mũi nhọn của Việt
Nam.Theo thống kê hàng năm cho thấy lượng cao su xuất khẩu luôn đứng ở vị trí thứ
4 trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.Mỗi năm đem lại
nguồn lợi ,doanh thu lớn khoảng 1,3 tỷ USD và tăng lên nhanh chóng giữ tỷ trọng ở
mức 4% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.Diện tích trồng cao su cũng
tăng lên 750.000 ha trong năm 2008 gấp 2 lần so với năm 2002.Cao su là ngành sản
phẩm có định hướng sản xuất để xuất khẩu so vậy khoảng 85-95%là xuất khẩu chiếm
5,4% thị phần cao su toàn thế giới.Cao su được đánh giá là ngành có năng lực cạnh
tranh khá.
Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính chống
chịu với điều kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ môi trường nên được nhiều nước có
điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội thích hợp quan tâm phát triển trên qui mô diện tích
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lớn. Hiện nay, Việt Nam chỉ trồng và khai thác cây cao su tự nhiên. Các giống cao su
đang được trồng là GT1, PR 225, PR 261, Hevea brasiliensis…. và một số giống mới
như RRIV 4, RRIV 2.
Thời gian khai thác của cây cao su thường kéo dài khoảng 20 năm. Giai đoạn
thiết kế cơ bản của lô cao su tính từ năm trồng được qui định tuỳ theo mức độ thích
hợp của vùng đất canh tác, trung bình giai đoạn này kéo dài từ 6-8 năm. Giai đoạn
này đòi hỏi nhiều sự đầu tư về vật chất, kỹ thuật, phân bón cũng như là sự chăm sóc.
Tuy nhiên, đây là giai đoạn cây cao su cho ít mủ nhất. Lô cao su kiến thiết cơ bản
Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và một số khu vực tại Nam
Trung Bộ là những nơi có điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp với cây cao su, nên
diện tích cao su phần lớn được trồng ở các khu vực này. Trong đó, Đông Nam Bộ là
khu vực có diện tích lớn nhất.
Mặc dù cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ, nhưng các quốc gia ở Châu Á mới là
các quốc gia sản xuất chính ngành hàng này. Trong đó Malaysia, Thái Lan,

cao su, tùy thuộc vào kinh nghiệm và sức khỏe của công nhân. Nguồn lực lao động
dồi dào, chi phí lao động thấp cộng với việc áp dụng phương pháp canh tác hiệu quả
nên đã tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngành cao su so với các ngành khác.
SV: Nguyễn Thị Thường KTNN & PTNT 48
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các giống cây cao su được trồng chủ yếu ở Việt Nam:
STT Tên giống Năng suất trung bình
(kg/ha/năm)
1 PB235 1.685
2 GT1 1.225
3 PB260 1.522
4 RRIM600 (ươm trồng tại Tây 1.275
Nguyên)
5 VM515 1.708
6 PB255 1.918
2.2.1.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm.
a) Thị trường tiêu thụ trong nước
Thị trường tiêu thụ cao su tự nhiên trong nước khá nhỏ bé so với thị trường xuất
khẩu. Nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên của thị trường trong nước chiếm khoảng 10-
15% tổng sản lượng mủ cao su sản xuất hàng năm. Do công nghiệp chế biến cao su
còn thấp nên hiện nay chỉ có khoảng 20% cao su tự nhiên được chế biến để xuất
khẩu. Các sản phẩm chế biến từ cao su tiêu thụ tại thị trường trong nước chủ yếu bao
gồm: các loại săm lốp, găng tay y tế, băng chuyền, đai, phớt dùng trong sản xuất
công nghiệp…
Trong nước có 3 doanh nghiệp lớn sản xuất các sản phẩm từ cao su: Công ty cao
su Sao Vàng (SRC), Công ty cao su Miền Nam (CSM) và Công ty cao su Đà Nẵng
(DRC). Ngoài ra các công ty liên doanh sản xuất các sản phẩm từ cao su gia tăng
đáng kể những năm gần đây.
b) Thị trường xuất khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status