Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Dệt may là một ngành sản xuất và xuất khẩu lâu đời trên thế giới. Ngay
từ thời xa xưa con người đã chú ý đến vấn đề ăn mặc trong sinh hoạt hàng
ngày và cả trong giao tiếp. Họ đã có không ngừng cải tiến về kiểu dáng, màu
sắc, mẫu mã để cho ra đời những bộ trang phục ngày càng gọn nhẹ, sang
trọng và hợp thời.
Dệt may Việt Nam cũng là ngành lâu đời của Việt Nam. Việc sản xuất
phục vụ nhu cầu cho người tiêu dùng trong nước đã tồn tại từ lâu nhưng việc
xuất khẩu sang thị trường nước ngoài thì mới thực sự phát triển trong mấy
năm gần đây. Cùng với sự phát triển của ngành Dệt may thế giới, Việt Nam
cũng không ngừng đổi mới và hoàn thiện mình. Nếu như trước đây dệt may
Việt Nam chỉ xuất hiện tại các nước Đông Âu thì hiện nay đã xuất hiện ở
khắp nơi trên thế giới đặc biệt là các thị trường Mỹ và EU và trở thành nhà
cung cấp có uy tín trên thế giới hiện nay.
Sau khi hiệp định dệt may giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, EU được ký kết
mở đường thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu dệt may vào hai thị trường này,
dệt may Việt Nam không ngừng phát triển và ngày càng tăng doanh thu cho
đất nước. Tuy nhiên đến năm 2005, khi hiệp định dệt may trong khuôn khổ
WTO chấm dứt thì tình hình xuất khẩu dệt may Việt Nam đã có nhiều biến
động và gặp rất nhiều khó khăn. Kim ngạch trong những tháng đầu năm 2005
liên tục giảm do chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà xuất khẩu lớn: Trung
Quốc, Ấn Độ…
Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu dệt may, mới
được thành lập (2002), công ty TNHH Thương mại quốc tế Việt Phượng cũng
không tránh khỏi những khó khăn trong thời kỳ “hậu hạn ngạch’.
Nhằm nghiên cứu những khó khăn của Việt Nam và công trong thời kì
hậu hạn ngạch và những thách thức mới của dệt may Việt Nam và công ty
trong thời gian tới, Tôi đã nghiên cứu và hoàn thành đề tài: “Tác động của
việc chấm dứt của hiệp định dệt may trong khuôn khổ WTO đối với hoạt
động xuất nhập khẩu của công ty TNHH Thương mại quốc tế Việt
chi phối bởi nhiều chế độ quốc gia khác nhau và phức tạp. Một số nước phát
triển viện lý do cán cân thanh toán gặp khó khăn sau chiến tranh để áp dụng
thuế suất cao, thủ tục thuế quan nặng nề, và rất nhiều biện pháp hạn chế số
lượng nhập khẩu. Từ những năm 1950 trở đi, các hàng rào mậu dịch dần dần
Phạm Thị Thu TMQT44
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
được cắt giảm để tiến đến tự do hóa thương mại qua các vòng thương thuyết
trong khuôn khổ tổ chức GATT. Song song với xu hướng này và sự phục hồi
của cán cân thanh toán trong các nước phát triển, Nhật Bản cũng tham gia trở
lại vào thương mại dệt may thế giới. Cùng lúc, một số nước nghèo bắt đầu
xuất khẩu hàng dệt và trong chừng mực ít hơn, các hàng may mặc. Nhờ nhân
công và nguyên liệu rẻ, các nước này nhanh chóng xuất ngày càng nhiều các
hàng dệt may bằng bông sợi sang các nước phát triển, cạnh tranh ồ ạt với
ngành sản xuất nội địa của họ. Trước nguy cơ lỗ lãi, phá sản đe dọa việc làm
của cả một ngành sản xuất, gây ra căng thẳng trong xã hội, một số nước phát
triển thương thuyết song phương với 4 nước xuất khẩu chính lúc ấy - Nhật,
Hồng Kông, Ấn Độ và Pakistan - để ép họ phải tự giới hạn lại. Những thỏa
thuận "hạn chế xuất khẩu tự nguyện" (voluntary export restraint) này trở
thành biện pháp phổ biến để ngăn chặn nhập khẩu, không chỉ cho hàng dệt
may mà còn trong nhiều ngành khác.
Năm 1959, theo yêu cầu của Bộ trưởng tài chính Mỹ Douglas Dillon, tổ
chức GATT bắt đầu họp bàn về vấn đề "nhập khẩu tăng vọt trong thời gian
ngắn cho vài mặt hàng và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế,
chính trị và xã hội trong nước nhập khẩu". Năm 1960, các thành viên GATT
công nhận hiện tượng "xáo trộn thị trường" (market disruption), định nghĩa
gồm một số điều kiện cụ thể, cho phép nước nhập dùng biện pháp phòng
chống (safeguard) để bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Hai vấn đề chú ý trong
các điều kiện này là "nhập khẩu xuất phát từ một số nguồn cụ thể" và "sự khác
biệt về giá cả giữa hàng nhập và hàng nội không do nước xuất khẩu bán phá
khuynh hướng này cũng tác động lên các nước đang phát triển, họ cũng muốn
gia tăng giá trị xuất khẩu của mình và bắt đầu tham gia vào ngành vải sợi hóa
học. Do đó hiệp định MFA không chỉ chi phối sợi bông mà còn áp dụng cho
cả len và sợi hóa học, vì thế mới gọi là multifibre.
2. Nội dung
2.1. Hiệp ước MFA
Như hai hiệp định trước, MFA cho phép áp đặt hoặc duy trì hạn ngạch,
với điều kiện phải gia tăng 6% một năm. Ngoài ra, trước khi có thể viện lý do
là thị trường bị xáo trộn, các nước nhập khẩu phải hội ý với nước xuất khẩu
Phạm Thị Thu TMQT44
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
và tuân theo một số điều kiện và chuẩn ghi trong MFA. Một Cơ quan Kiểm
soát Hàng dệt (Textiles Surveillance Body - TSB) được thành lập để quản lý
hiệp định và giám sát sự thi hành. Các nước áp đặt hạn ngạch phải thông báo
mỗi biện pháp mới lên TSB và hàng năm báo cáo tình hình. Cơ quan TSB
cũng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp, và hàng năm phải báo cáo hoạt
động của mình lên Ủy ban Hàng dệt (Textiles Committee) của GATT.
Vì MFA đi ngược lại hai qui tắc căn bản của GATT là trong suốt và
không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được
quản lý bởi GATT, nhưng chỉ áp dụng cho các nước liên can chứ không cho
toàn thể các nước thành viên. Cũng vì yếu tố biệt lệ này mà Trung Quốc, tuy
không là thành viên, cũng tham gia, từ đầu thập niên 1980. MFA được gia
hạn 4 lần: năm 1977, 1981, 1986 và 1991, sau khi được thương thuyết lại và
mỗi lần đều kèm theo nhiều điều lệ mới. Trong những năm cuối, tham gia
MFA có 8 nước phát triển ("nước nhập khẩu") - Áo, Canada, Cộng đồng kinh
tế châu Âu EEC, Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thụy Sĩ và Na Uy, và 36 nước đang
phát triển, với tư cách nước xuất khẩu. Trên 8 nước nhập khẩu này, chỉ có
Nhật và Thụy Sĩ là không hề áp dụng hạn ngạch. Trong 21 năm thi hành, từ
1974 đến 1994, MFA thật ra là công cụ của các nước giàu ngăn chặn nhập