BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.01/06-10
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 ĐỀ TÀI
QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ
VIỆT NAM - HOA KỲ
(KX.01.03/06-10)
BÁO CÁO TỔNG KẾT
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
GS.TS. NGUYỄN THIẾT SƠN
CƠ QUAN CHỦ TRÌ
VIỆN NGHIÊN CỨU CHÂU MỸ
8111
HÀ NỘI - 2011
3 Chng I
Những vấn đề lý luận và thực tiễn
trong nghiên cứu quan hệ kinh tế Việt Mỹ
K t khi bỡnh thng hoỏ quan h ngoi giao gia Vit Nam v Hoa
K, hp tỏc kinh t gia Vit Nam v Hoa K ngy cng gia tng v khụng
ngng m rng. Mc dự, quỏ trỡnh ny chu tỏc ng ca rt nhiu nhõn t,
nhng theo chỳng tụi, c s lý lun v thc tin to iu kin cho quan h
kinh t gia hai nc Vit Nam v Hoa K phỏt trin chớnh l nhng quan
im v hp tỏc phỏt trin, chớnh sỏch
i ngoi v chớnh sỏch kinh t ca c
hai nc Vit Nam v Hoa K.
Chớnh vỡ vy, trong phn ny, chỳng tụi trỡnh by quan im ca ng
v Chớnh ph v ng li hi nhp, chin lc phỏt trin kinh t hung v
xut khu, bờn cnh ú, chỳng tụi cng trỡnh by v nhn thc v chớnh sỏch
thng mi ca Hoa K. Tt c nhng vn ny ó l c s nh hỡnh cho
s phỏt tri
n ca tin trỡnh hp tỏc kinh t Vit Nam Hoa K trong sut
ninh”, trong đó mục tiêu phát triển được đặt lên hàng đầu vì chỉ có đẩy mạnh
phát triển kinh tế - xã hội mới có điều kiện vật chất để gi
ữ vững an ninh và
nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Điều đó không có nghĩa tuyệt đối hóa
mục tiêu phát triển và xem nhẹ mục tiêu an ninh và vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế, vì không thể phát triển được nếu như không có an ninh và vị
thế quốc tế thấp kém.
Để phát triển thuận lợi, hoạt động đối ngoại phải góp phần mở rộng tố
i
đa quan hệ quốc tế, tạo dựng mối quan hệ đan xen với các nước và các trung
tâm trên thế giới, tạo dựng môi trường ổn định ở bên ngoài. Trong 20 năm
Đổi mới, chúng ta đã mở rộng được đáng kể quan hệ hợp tác quốc tế về
5
“chiều rộng”; Đại hội X nhấn mạnh yêu cầu “đưa các quan hệ quốc tế đã
được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững”. Đồng thời, vì mục tiêu phát
triển, các hoạt động đối ngoại phải hướng mạnh vào các nhiệm vụ kinh tế - xã
hội thiết thực, như mở rộng thị trường, có thêm đối tác, tranh thủ tối đa vốn,
công nghệ
, kinh nghiệm quản lý. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà văn kiện
Đại hội đã nêu cao yêu cầu “đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại”.
Điểm mới nữa là Đại hội X đã nêu cao nhiệm vụ “chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế
kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương” vì nước ta
đang đứng trên
ngưỡng cửa của sự hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới.
Hội nhập không phải là mục tiêu tự nhiên hoặc do sự thúc ép nào từ bên
ngoài, mà là sự chọn lựa, là nhu cầu nội tại của bản thân nước ta, coi đó là
một trong những biện pháp cần thiết để đạt tới mục tiêu phát triển. Thực ra
hội nhập kinh tế không phải là chủ tr
là nhờ ở những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm và những đóng góp to lớn của dân tộc ta cho thời đại, nhờ ở đường
lối đúng đắn, đưa tới những thành tựu được cả thế giới công nhận, nhờ ở vị trí
địa - chính trị đặc thù của nước ta trong thế giới ngày nay, và nhờ ở chính
sách
đối ngoại có tính nguyên tắc và khôn khéo tranh thủ được lòng người.
Để đạt được những mục tiêu trên, chúng ta luôn luôn kiên trì tư tưởng
chỉ đạo là nắm vững nguyên tắc đi đôi với sự linh hoạt về sách lược. Nguyên
tắc ấy một lần nữa được nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội X là “tôn trọng
độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công
việc nội bộ c
ủa nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết
các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn
nhau, bình đẳng và cùng có lợi”. Còn sách lược, có thể nói là thiên biến vạn
hóa tùy theo từng vấn đề, từng tình huống, từng thời điếm, từng đối tác,
nhưng luôn luôn phục tùng những nguyên tắc chỉ đạo nói trên.
Việc xác định chuẩn xác mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng ch
ỉ đạo là rất
quan trọng, song một nhân tố không kém phần quan trọng là định ra những
7
phương châm hành động phù hợp trong một thế giới đầy biến động và cực
kỳ phức tạp. Một trong những phương châm ấy là “lấy phục vụ lợi ích đất
nước làm mục tiêu cao nhất”. Điều đó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta
theo đuổi một đường lối thực dụng, dân tộc hẹp hòi mà như Đại hội X đã
nhấn mạnh, chúng ta luôn cố gắng “góp phần tích c
ực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
xã hội” dưới hình thức thích hợp.
Một phương châm tích cực khác được Đại hội X khẳng định là kiên trì
Để thực hiện thành công đường lối, chính sách nói trên, Đại hội X đã
vạch ra bốn phương hướng hành động.
Một là, vận dụng bài học về tạo dựng sức mạnh tổng hợp, đại hội nêu ra
những nhiệm vụ đối ngoại cả về mặt Đảng lẫn Nhà nước và ngoại giao nhân
dân, nhấ
n mạnh yêu cầu phối hợp chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại;
đối ngoại, quốc phòng an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước.
Hai là, đặt cao yêu cầu tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo, tham
mưu về đối ngoại với sự tham gia và phát huy trí tuệ của các cơ quan nghiên
cứu và các nhà khoa học. Đây còn là điểm yếu của chúng ta, vì trong một thế
giới biến động không ngừng và cực kỳ phức tạ
p, không nghiên cứu và dự
báo kịp thời và chuẩn xác diễn biến tình hình, thì khó bề bảo đảm được tính
chủ động, xử lý các tình huống một cách thích hợp.
Ba là, nhân tố có ý nghĩa quyết định là đào tạo nguồn nhân lực vững
vàng về chính trị, có trình độ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và
phẩm chất tốt, do quan hệ đối ngoại của nước ta đang mở rộng nhanh chóng
cả
về các lĩnh vực hoạt động, lẫn các đối tác và địa bàn trong bối cảnh quốc
tế không đơn giản.
Bốn là, khẳng định cơ chế vận hành Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà
nước quản lý tập trung đối với hoạt động đối ngoại - một trong những lĩnh
vực thiết yếu và hết sức phức tạp của đất nước. Về mặ
t này, trong nhiệm kỳ
qua, lần đầu tiên đã xây dựng được quy chế quản lý thống nhất về hoạt động
9
i ngoi, vn t ra hin nay l hon thin v t chc thc hin tht tt
quy ch y.
Chỳng ta cú c s hy vng rng, vi nhng kinh nghim phong phỳ
xuất khẩu, từng bước tạo ra các sản phẩm có thương hiệu đáp ứng yêu cầu
của thị trường thế giới.
Thứ tư, Phát triển nhập khẩu theo hướng tập trung nguồn lực cho phát
triển đầ
u tư và sản xuất; kiềm chế mức nhập siêu hợp lý chủ yếu bằng các
giải pháp tăng kim ngạch xuất khẩu, không để ảnh hưởng đến cán cân thanh
toán và ổn định vĩ mô nền kinh tế.
Trên quan điểm đó, Chính phủ cũng đưa ra mục tiêu phát triển gồm:
Mục tiêu tổng quát: Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và
bền vững. Đẩy m
ạnh đầu tư phát triển sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có
lợi thế cạnh tranh, có khả năng chiếm lĩnh thị phần đáng kể trên thị trường
thế giới. Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu
những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; sản phẩm chế biến, chế tạo, sản
phẩm có hàm lượng công nghệ
và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất
khẩu thô; đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ.
Mục tiêu cụ thể:
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình
quân 17,5%/năm và đến năm 2010 đạt khoảng 72,5 tỷ USD.
- Đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ cả nước bình
quân 16,3%/năm và đến năm 2010
đạt khoảng 12 tỷ USD.
- Đến năm 2010, xuất khẩu các mặt hàng nông - lâm - thuỷ sản chiếm
khoảng 13,7%, nhóm hàng nhiên liệu - khoáng sản chiếm khoảng 9,6%,
nhóm hàng công nghiệp và công nghệ cao chiếm khoảng 54,0% và nhóm
hàng hoá khác chiếm 22,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá. Về
cơ cấu địa lý, xuất khẩu hàng hoá sang thị trường châu Á chiếm khoảng
45,0%, thị trường châu Âu chiếm khoảng 23%, thị trường châu Mỹ chiếm
11
Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành
12
viên; mở rộng các hình thức tín dụng, bảo đảm các điều kiện tiếp cận vốn và
các hình thức bảo lãnh thuận lợi hơn tại các ngân hàng thương mại; từng
bước thực hiện cho vay đối với nhà nhập khẩu có kim ngạch ổn định và thị
phần lớn, trước hết đối với hàng nông sản.
- Tổ chức thực hiện tốt cơ chế hoàn thuế
đối với các nhà nhập khẩu
nguyên liệu cung cấp cho các nhà sản xuất hàng xuất khẩu.
- Cải cách, hoàn thiện các định chế tài chính theo hướng tập trung cho
các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu và xúc tiến thương mại, tạo
điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu; tiếp tục
cải thiện các sắc thuế, phí và lệ phí; đẩy mạnh kinh doanh bả
o hiểm tài sản,
hàng hoá trong sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp.
- Điều hành tỷ giá sát tỷ giá thực tế, phù hợp sức mua của đồng Việt
Nam, đồng thời có chính sách gắn đồng Việt Nam với một số ngoại tệ
chuyển đổi có lợi để tránh rủi ro cho xuất khẩu.
3. Nâng cao hiệu quả điều hành công tác xúc tiến thương mại
- Đổi mới phương thức ho
ạt động và tổ chức quản lý, sử dụng Quỹ
ngoại giao kinh tế nhằm phát huy tác dụng của Quỹ này trong hoạt động
phát triển thị trường, tìm kiếm bạn hàng của cộng đồng doanh nghiệp.
- Đa dạng hoá và mở rộng các hình thức xúc tiến thương mại.
- Đổi mới chất lượng việc xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến
thương mại quốc gia hàng năm; phối h
ợp các hoạt động xúc tiến để tổ chức
các chương trình lớn liên ngành về xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch - văn
hoá, nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia, kể cả việc thông qua các kênh truyền
các Bộ quản lý sản xuất chủ động xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện)
dựa trên quan điểm, mục tiêu phát triển và các giải pháp định hướ
ng của Đề
án này, Chương trình dự báo, phân tích khả năng cạnh tranh nêu trên, đồng
thời phù hợp với chiến lược phát triển ngành hàng đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt trong giai đoạn đến năm 2010.
Việc xây dựng các đề án ngành hàng cụ thể phải được trao đổi, phối
hợp với Bộ Thương mại, Ủy ban nhân dân các tỉnh và các tổng công ty, tập
14
on ngnh hng liờn quan bo m tớnh kh thi v phự hp vi cỏc cam
kt quc t m Vit Nam l thnh viờn; phi chỳ trng n cỏc gii phỏp
thỳc y quỏ trỡnh liờn kt gia ngi sn xut nguyờn liu vi cỏc doanh
nghip sn xut, ch bin hng xut khu bng cỏc chớnh sỏch kinh t, nhm
gn kt lõu di li ớch v ngha v ca hai nhúm sn xut ny.
6. Hn ch nhp siờu
Da trờn quan i
m ca ỏn l kim ch mc nhp siờu hp lý,
khụng nh hng n cỏn cõn thanh toỏn v n nh v mụ nn kinh t,
bo m cỏc cam kt quc t m Vit Nam l thnh viờn, cỏc gii phỏp hn
ch nhp siờu c nh hng l:
- Thỳc y tng trng xut khu hng hoỏ v dch v, trc ht l i
vi cỏc th trng nhp siờu v xem õy l gii phỏp ch yu
hn ch
nhp siờu;
- Trờn c s bo m kh nng cnh tranh v d bỏo nhu cu th
trng, phỏt trin sn xut cỏc sn phm cú li th so sỏnh bo m nhu
cu trong nc; i mi cụng ngh sn xut v qun lý tit kim nguyờn,
nhiờn vt liu;
- iu hnh t giỏ v lói sut phự hp tỡnh hỡnh phỏt trin kinh t; hn
Có thể nói, lịch sử của chính sách thơng mại hiện đại Mỹ bắt nguồn từ
sau đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 với Đạo luật về các Hiệp định
thơng mại năm 1934 và những thảo luận lúc bấy giờ về Hiệp định chung về
Thơng mại và Thuế quan (GATT). Những đạo luật thơng mại về sau đều
có vai trò rất quan trọng đối với việc tiếp tục hoạch định và triển khai thực
hiện chính sách thơng mại của Mỹ. Đó là những đạo luật sau: Đạo luật mở
rộng thơng mại năm 1962 (Trade Expansion Act of 1962) và những kết quả
của vòng đàm phán Kennedy, Đạo luật Cải cách Thơng mại năm 1974
(Trade Reform Act of 1974) và những thành quả của vòng đàm phán Tokyo
16
(Export Administration Act 1979) và Vòng đàm phán Uruguay với sự ra đời
của WTO ngày 1/1/1995.
Sự ra đời của Đạo luật về các Hiệp định thơng mại năm 1934:
- Chúng ta đều biết rằng đầu những năm 30, thơng mại Thế giới và
xuất khẩu của Mỹ giảm sút nghiêm trọng do hậu quả hoạt động kinh tế giảm
sút vì ảnh hởng Đại khủng hoảng. Do thông qua Đạo luật biểu thuế Smoot -
Hawley năm 1930 (Smoot - Hawley Tariff Act), quy định mức thuế nhập
khẩu trung bình ở Mỹ cho đến năm 1932 sẽ tăng lên 59% gây nên các phản
ứng trả đũa của nớc ngoài. Kết quả là nhập khẩu của Mỹ năm 1932 giảm
còn bằng 31% so với mức năm 1929.
- Để chống lại xu hớng giảm sút đó, quốc hội Mỹ với chính quyền
Roosevelt đã thông qua Đạo luật về các Hiệp định thơng mại năm 1934.
Những nguyên tắc của Đạo luật này sẽ là cơ sở cho các quy định pháp luật
thơng mại sau này ở Mỹ. Đạo luật đã chuyển việc hoạch định chính sách
thơng mại từ quốc hội có tính chất chính trị nhiều hơn sang Tổng thống và
cho phép Tổng thống có quyền đàm phán với các nớc khác biểu thuế tơng
quan thấp hơn khoảng 50% mức thuế của Đạo luật biểu thuế Smoot -
Hawley. Đến năm 1974, thuế nhập khẩu trung bình của Mỹ thấp hơn khoảng
50% so với mức năm 1934. Đạo luật này đợc hoàn thiện 11 lần trớc khi
nghiệp trong nớc bị tổn hại do nhập khẩu đệ đơn lên Uỷ ban Thơng mại
Quốc tế (Uỷ ban Biểu thuế quan Mỹ-cho đến năm 1975). Uỷ ban này có thể
đề đạt Tổng thống bãi bỏ một số biểu thuế đợc giảm qua đàm phán.
- Điều khoản An ninh Quốc gia (The National Security Clause) cho
phép ngăn cản giảm biểu thuế (dù đã sẵn sàng đàm phán) nếu chúng gây tổn
hại đến các ngành quan trọng đối với quốc phòng.
Những yêu cầu này có thể có một số ý nghĩa nào đó, nhng nhìn chung
chúng mang tính chất hạn chế các hoạt động thơng mại, đặc biệt là điều
khoản giải toả và chúng ngày càng cản trở việc giảm nhiều hơn các mức thuế.
18
Đạo luật Mở rộng Thơng mại năm 1962 và vòng đàm phán Kennedy.
Đạo luật này ra đời là nhằm đáp ứng tình hình phát triển mới của cộng đồng
kinh tế Châu âu (EEC) hay thị trờng chung Châu Âu, nó đợc thay thế cho
Đạo luật về các Hiệp định Thơng mại.
Đạo luật cho phép Tổng thống đàm phán giảm biểu thuế đến 50% so
với mức năm 1962. Đồng thời đạo luật hỗ trợ cho ngời lao động và các
hãng khi bị tổn hại do việc giảm mức thuế gây nên. Nó thay thế thuyết không
đối sử bất công và qui định hình thức đợc trang bị trợ giúp cho ngời lao
động bị mất việc làm và giảm thuế cho vay lãi suất thấp cũng nh trợ giúp kỹ
thuật khác cho các hãng bị tổn hại.
Nguyên tắc điều chỉnh hỗ trợ là một trong những đặc điểm quan trọng
nhất của Đạo luật khuếch trơng Thơng mại năm 1962. Và đến đầu những
năm 70, khi các tiêu chuẩn trợ giúp đợc nới lỏng, rất nhiều ngời lao động
và các hãng có đủ điều kiện để đợc điều chỉnh trợ giúp. Trong những năm
80, vào năm cao điểm của chơng trình trợ giúp. Với Đạo luật này, dới sự
bảo trợ của GATT, Mỹ đã có nhiều cuộc đàm phán thơng mại đa phơng
trong khuôn khổ vòng đàm phán Kennedy. Đến năm 1967, sau 5 năm đàm
phán, mức thuế trung bình đối với hàng công nghiệp đợc cắt giảm 35% so
với mức 1962, và đến cuối năm 1972 khi Hiệp định đợc thực hiện đầy đủ mức
trì một số hàng rào thơng mại nhất định. 2) Nêu tiến trình rõ ràng về đàm
phán để có thể loại bỏ dần các hàng rào trên. 3) cho phép trả đũa bằng cách
hạn chế nhập khẩu từ những nớc mà đàm phán không đi đến kết quả nào.
2. Vòng đàm phán Uruguay và chính sách của Hoa Kỳ
2.1. Đặc điểm và xu hớng của chính sách thơng mại Hoa Kỳ
Vòng đàm phán thứ tám của GATT bắt đầu từ tháng 8 năm 1986 với
những mục tiêu: 1) Cắt giảm các hàng rào phi thuế quan đối với thơng mại.
2) Các nớc đang phát triển tham gia nhiều hơn vào đàm phán GATT. 3) Mở
20
rộng phạm vi áp dụng GATT sang các lĩnh vực thơng mại hàng dệt may,
dịch vụ, nông sản, sở hữu trí tuệ, mà các vòng đàm phán trớc cha đợc
thực hiện. Để tránh những tổn hại trong thuơng mại quốc tế, các nớc đã bỏ
phiếu tán thành những nguyên tắc quan hệ mới nh: mở của hơn nữa thị
trờng của các nớc thành viên, tự do hoá thơng mại nông sản phẩm, dịch
vụ, thực hiện thay đổi thuế suất trong thơng mại hàng dệt (thuế suất trung
bình đối với hàng dệt giảm từ 15,5% xuống 12,1%), chống bán phá giá, thực
hiện quyền sở hữu trí tuệ. Nguyên tắc cuối cùng, rất quan trọng đối với quan
hệ thơng mại quốc tế đã đợc các nớc thành viên nhất trí tán thành chuyển
Tổ choc Hiệp định chung về Thơng mại và Thuế quan thành Tổ chức Thơng
mại Thế giới (WTO), bắt đầu hoạt động từ 1-1-1995, WTO lúc này gồm 125
thành viên, chiếm 90% kim ngạch buôn bán thế giới. Kết quả của Vòng đàm
phán Uruguay đang tác động mạnh mẽ vào quá trình tự dó hoá thơng mại
toàn cầu, WTO đã nổi lên vai trò lớn trong diễn đàn kinh tế Quốc tế, làm lu
mờ vai trò của UNCTAD trớc đây vốn lớn mạnh hơn GATT rất nhiều.
Mục tiêu và thể chế của chính sách.
Mục tiêu của chính sách thơng mại Mỹ là duy trì các cam kết đối với
việc mở rộng và tự do hoá thơng mại đa phơng, cũng có nghĩa là thị trờng
thế giới phải đợc mở cửa, và với sức mạnh kinh tế của Mỹ, việc mở của thị
trờng trớc hết là để cho hàng hoá Mỹ tràn vào. Mỹ cũng tham gia ký kết
này, việc hồi phục lại các cuộc thơng thuyết của Vòng đàm phán Uruguay
vào mùa xuân năm 1991 có thể phải đối mặt với những khó khăn nghiêm
trọng.Fast track cũng đợc áp dụng trong thơng thuyết Hiệp định Thơng
mại Tự do Bắc Mỹ và đ
ợc mở rộng đối với chơng trình cam kết vì sáng
kiến Châu Mỹ nhằm thúc đẩy các Hiệp định thơng mại khác ở Châu Mỹ.
Đạo luật Lơng thực, Nông sản, Bảo quản và Thơng mại năm 1990
(Đạo luật Nông nghiệp) đã đợc gia hạn và mở rộng phạm vi hỗ trợ nông
nghiệp cũng nh các chơng trình trợ giúp xuất khẩu hiện tại trong 5 năm.
22
Các điều khoản của nó đợc Đạo luật Điều hoà Ngân sách Tổng hợp năm
1990 (Ommibus Budget Reconciliation Act of 1990) trợ giúp, trong đó cha
đựng điểm chốt của Vòng đàm phán Uruguay, theo đó, nếu Hiệp định về
nông nghiệp không đợc ký kết vào 30/6/1992, thì chính quyền Mỹ sẽ đợc
yêu cầu tăng trợ cấp xuất khẩu lên 1tỷ USD/năm cho các năm tài chính 1994
và 1995, và phải đẩy mạnh hơn nữa các trợ giúp đối với sản phẩm nông
nghiệp đặc biệt của Mỹ.
Đạo luật điều hoà ngân sách tổng hợp năm 1990 cũng bao hành một
điều khoản thử nghiệm quan trọng với tên gọi trả trớc khi đi/pay as you
go. Theo điều khoản thử nghiệm này, bất kỳ đề nghị uỷ thác nào làm mất
lợi nhuận bởi một cơ quan Chính phủ, phải đợc bù đắp bằng cách giảm sự
chi tiêu uỷ thác khác hoặc bằng cách tăng lợi nhuận, mặc dù điều khoản thử
nghiệm này không áp dụng trong các chơng trình giảm thuế của vòng đàm
phán Uruguay với những thoả thuận đa phơng, nhng nó dợc áp dụng
trong các hiệp định của vòng đàm phán này về các biện pháp miễn giảm
thuế, các hiệp định thơng mại tự do, các chơng trình u đãi thuế quan,
cùng các điều luật khác. Điều khoản thử nghiệm này có thể buộc Chính phủ
phải ký các hiệp định thơng mại quốc tế hoặc ban hành các biện pháp tự do
hoá thơng mại tự quản.
Chẳng hạn trong vòng đàm phán Uruguay, Mỹ đã tham gia đầy đủ vào
tất cả các lĩnh vực đàm phán và trong khi chờ đợi kết quả cuối cùng của vòng
đàm phán, Mỹ đã tiến hành một số hoạt động đơn phơng, nh Đạo Luật về
thuế quan và Thơng Mại năm 1990, bao gồm những biện pháp miễn thuế
tạm thời, gia hạn việc miễn thuế đới với một số mặt hàng hoá (nh một số
loại hoá chất) cho đến hết năm 1992.
2.2. Một số đặc điểm
Đặc điểm chính sách thơng mại Mỹ đợc thể hiện qua các biện pháp
hoạt động thơng mại với các nớc khác (nh các quy định về MFN, GSP),
24
các hiệp định thơng mại u đãi, các hoạt động đơn phơng và quy chế giải
quyết tranh chấp.
Quy chế tối huệ quốc (MFN)
Mỹ luôn sử dụng Quy chế Tối huệ quốc là quyền u đãi chung nh
những công cụ chính sách thơng mại trong quan hệ với các nớc ràng buộc
họ phải có những cải cách thích hợp về kinh tế và thơng mại.
Trên thực tế, thuế quan có MFN và thuế quan không có MFN có sự
khác biệt lớn, do đó việc khớc từ cấp Quy chế MFN là một công cụ quan
trọng khi việc đàm phán thơng mại với nớc khác gặp bế tắc, hoặc đối tác
không có những bớc tiến cụ thể.
Nội dung cơ bản của Mục 301 đợc quy định trong Đạo Luật Thơng
mại năm 1974 bao hàm toàn bộ những hoạt động của các ngành liên quan
đến hàng hoá, dịch vụ, đầu t, quyền sở hữu trí tuệ. Chính phủ Mỹ theo dõi
và xử lý những vi phạm các cam kết với Mỹ của nớc ngoài, đợc tiến hành
ở Mỹ, ở ngay chính bên nớc ngoài, hoặc đợc tiến hành ở nớc thứ ba. Mục
đích của nó nhằm thi hành các quyền của Mỹ theo các thoả thuận thơng
mại đã đợc ký kết, đồng thời nhằm quy trách nhiệm cho các hoạt động
thơng mại của nớc ngoài không theo cam kết.
Phần này cho phép Đại diện Thơng mại Mỹ thực hiện các hoạt động