Luận văn thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lí ở thành phố Cần Thơ - Pdf 29

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5. Kết cấu của đề tài 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG,
NHÀ NƯỚC TA VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 4
1.1 Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý 4
1.2 Vị trí, vai trò của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị 6
1.3 Về chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của
Đảng và Nhà nước 9
CHƯƠNG 2 .THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ CÁN NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở THÀNH PHỐ CẤN THƠ 13
2.1 Những thành tựu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
Thành phố Cần Thơ thời gian vừa qua và nguyên nhân của những thành tựu đó 13
2.2 Những hạn chế về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
ở Thành phố Cần Thơ trong thời gian vừa qua và nguyên nhân của những hạn chế
đó 28
CHƯƠNG 3. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ Ở THÀNH PHỐ CẤN THƠ TRONG THỜI GIAN TỚI 36
3.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị các cấp ở Thành phố
Cần Thơ về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý 36
3.2 Đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ
nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần Thơ 39
3.3 Thực hiện bình đẳng giới trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng
đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần Thơ 49

triển đội ngũ cán bộ nữ. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng do nhiều nguyên nhân, tỷ
lệ cán bộ nữ các cấp các ngành, trong Thành phố Cần Thơ hiện nay vẫn còn thấp,
chưa tương xứng với yêu cầu công tác cán bộ nữ đòi hỏi cần phải có những giải
pháp khắc phục kịp thời, hiệu quả và đề ra những chính sách nhằm nâng cao hiệu
quả xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần
Thơ.
2
Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ
lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần Thơ giai đoạn hiện nay – Thực trạng và giải
pháp” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Khái quát những vấn đề lý luận và chính sách của Đảng, Nhà nước về xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý. Từ đó, đánh giá đúng thực
trạng của việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành
phố Cần Thơ trong thời gian qua và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành
phố Cần Thơ trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ của đề tài:
Một là, tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý luận và chính sách của Đảng,
Nhà nước ta về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý.
Hai là, phân tích, đánh giá đúng thực trạng xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần Thơ trong thời gian vừa qua.
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển
đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần Thơ trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo,
quản lý ở Thành phố Cần Thơ”.
Phạm vi nghiên cứu: xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
ở Thành phố Cần Thơ từ năm 2006 đến năm 2013 và những năm tiếp theo.

thức, có kinh nghiệm ở lĩnh vực phụ trách, có tầm nhìn biết quy tụ nhân tài, vật lực.
Một số cán bộ lãnh đạo được gọi là lãnh tụ, chính khách. Đó là những cán bộ
lãnh đạo xuất sắc, có mức độ ảnh hưởng lớn, có tiếng nói, uy tín rất cao trong toàn
cộng đồng xã hội.
Cán bộ lãnh đạo là người chịu trách nhiệm về một đối tượng cụ thể hay một
bộ phận cụ thể trong hệ thống tổ chức quản lý, là người đại diện và là đại biểu lợi
ích cho Đảng, Nhà nước, tập thể, tổ chức nào đó. Dựa vào bộ máy quản lý, vào hệ
thống tổ chức, cán bộ lãnh đạo theo hướng hoạt động của tổ chức, tập thể vào
những nhiệm vụ được giao phó. Cán bộ lãnh đạo chịu trách nhiệm cá nhân về giải
quyết kịp thời những vấn đề cơ bản, phối hợp hoạt động với các hệ thống quản lý,
tổ chức các công tác nhằm thực hiện các quyết định quản lý.
Trên đây là quan niệm chung nhất về người cán bộ lãnh đạo. Tuy nhiên, trong
mỗi giai đoạn cách mạng, ngoài những yêu cầu thì yêu cầu cụ thể về phẩm chất,
năng lực của cán bộ lãnh đạo khác nhau. Hơn nữa, cũng còn có yêu cầu cụ thể với
từng loại cán bộ lãnh đạo trong xã hội. [11, trang 11-12]
* Cán bộ quản lý
Đó là những người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu
gắn với việc thực hiện chức năng quản lý, là người điều hành, hướng dẫn tổ chức
những quyết định của cán bộ lãnh đạo. Họ được trao quyền đánh giá một cách độc
5
lập, chỉ đạo hoạt động, công việc của người khác, hay của một đơn vị tổ chức, một
khâu trung gian trong một quá trình quản lý kinh tế, xã hội, v.v
Để điều hành tốt công việc, cán bộ quản lý cần phải giỏi chuyên môn, có năng
lực, phẩm chất điều khiển, tố chức công việc và đoàn kết tập thể họ trực tiếp làm
việc với đối tượng quản lý, trực tiếp tổ chức thực hiện các quyết định của lãnh đạo
nên cán bộ quản lý, trực tiếp tổ chức thực hiện các quyết định của lãnh đạo nên cán
bộ quản lý cần thường xuyên thu nhận thông tin từ trên xuống cũng như từ dưới lên.
Họ cần có khả năng nhận ra sự đúng, sai trong các chủ trương, chính sách khi tổ
chức thực hiện. Do vậy, họ cũng là những người có thể tham mưu cho cán bộ lãnh
đạo chấn chỉnh, điều chỉnh, hoàn thiện quyết định cũ hoặc ra quyết định mới. Cán

(chiếm 16/7%); cấp phó có 3/23 là nữ (chiếm 13,04%); 4/6 đơn vị như Tổ chức,
Tuyên giáo, Văn phòng, Đối ngoại không có nữ lãnh đạo. Nhìn chung số phụ nữ giữ
các cương vị lãnh đạo chủ chốt cấp trung ương có xu hướng ngày càng giảm, tuổi
đời cao, báo động về sự hụt hẫng đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý. Ở các cấp địa
phương, tỉ lệ ủy viên ban chấp hành đảng bộ nhiệm kỳ 2005 – 2010: cấp tỉnh là
11,75% (tăng 0,43% so với nhiệm kỳ trước), nữ bí thư có 5/63 (chiếm 7,93%), tỷ lệ
nữ phó bí thư là là 7,04%; cấp trưởng các ban Đảng tỉnh, thành ủy là phụ nữ chiếm
tỷ lệ thấp: trưởng ban dân vận là 18%, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra là 22%, ban tuyên
giáo là 6,55%, ban tổ chức là 8% ; cấp huyện, tỷ lệ nữ tham gia ban chấp hành là
14,74% (tăng 1,85% so với nhiệm kỳ trước) và ở cấp xã là 15,08% (tăng 3,2% so
với nhiệm kỳ trước). Đánh giá tổng quát về tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy là: cấp trung
ương giảm, cấp địa phương tăng không đáng kể. Điều đặc biệt là ở những nơi khó
khăn như miền núi thì tỷ lệ cán bộ nữ cao hơn đồng bằng.
Trong cơ quan dân cử, tỷ lệ cán bộ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam được
đánh giá là khá cao so với khu vực và thế giới. Tỷ lệ trung bình trong suốt những
năm 1976-2007 khoảng 23%. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, Việt Nam có tỷ lệ nữ đại
biểu Quốc hội là 27,3%, tính trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam
đứng thứ hai, chỉ sau Niu Dilân (29,2%). Tuy nhiên, trừ Quốc hội khóa V (1975-
1976) đạt 32%, chưa có khóa nào tỷ lệ đại biểu nữ đạt 30%. Nhiệm kỳ khóa XII, tỷ
lệ nữ đại biểu Quốc hội của Việt Nam là 25,76%, mặc dù giảm 1,55% so với khóa
trước song vẫn được xếp vào loại cao trong khu vực châu Á. Hiện nay, ¼ phó chủ
tịch Quốc hội là nữ (chiếm 25%), tỷ lệ phụ nữ là chủ nhiệm các ủy ban của Quốc
hội chiếm 22,22% và phó chủ nhiệm của các ủy ban là 6,45%. Đáng mừng là tất cả
7
các ủy ban của Quốc hội đều có các thành viên là nữ. Trong các cơ quan dân cử ở
địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia hội đồng nhân các cấp những nhiệm kỳ vừa
qua có xu hướng tăng dần song cũng chưa có nhiệm kỳ nào đạt 25%. Nhiệm kỳ
2004 - 2009, tỷ lệ nữ đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh đạt 23,83%, cấp huyện đạt
22,94% và cấp xã đạt 20,10%, tỷ lệ ở cả ba cấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước
nhưng càng xuống cấp dưới, tỷ lệ nữ càng giảm. Tính đến đầu năm 2009, chủ tịch

là 8,84%. Với tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan quản lý nhà nước như trên, có thể
thấy vai trò ra quyết định và chỉ đạo thực hiện của phụ nữ ở các cơ quan hành pháp
các cấp còn hạn chế.
Những con số thống kê trên cho thấy tỷ lệ cán bộ nữ không ổn định lúc tăng,
giảm, tăng không đáng kể, chủ yếu ở cấp phó, song nhìn chung thường là giảm; còn
rất nhiều vị trí ở các ngành, các cấp không có nữ đảm nhận nên việc ra quyết định
thiếu tiếng nói của cả hai giới. Điều đó giải thích vì sao việc lồng ghép giới trong
các lĩnh vực có nhiều có khăn.
Mặc dù tỉ lệ cán bộ nữ trong hệ thống chính trị hiện nay còn hạn chế song nhìn
chung, sự gia tăng số lượng cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước và các hoạt động
chính trị trong những năm qua chứng tỏ năng lực của cán bộ nữ ngày càng được
nâng cao. Nhìn lại chặng đường đã qua, phụ nữ Việt Nam đã không ngừng phấn đấu
nỗ lực vươn lên; mặt khác, sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước đã tạo
môi trường thuận lợi để chị em có cơ hội phát triển toàn diện và tham gia hầu hết
trên các lĩnh vực xã hội. Những đóng góp tích cực và cụ thể của phụ nữ và thành
quả của công cuộc đổi mới đã dần làm thay đổi những định kiến về vai trò phụ nữ
trong xã hội, khiến xã hội phải thừa nhận phụ nữ có khả năng tham gia lĩnh vực
chính trị không thua kém nam giới và nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về vai trò, vị trí
của cán bộ nữ. [5, trang 630-634]
1.3 Về chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
của Đảng và Nhà nước
Đảng ta luôn coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ nữ là nhiệm vụ có tính chiến
lược trong công tác cán bộ. Trong nhiều hoạt động thực tế và các văn bản của Đảng
được ban hành đã thể hiện rõ việc phát huy, nâng cao vai trò địa vị của người phụ
nữ trong xã hội. Nghị quyết số 152, 153 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
III đã nhấn mạnh đến một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận và công tác
cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý…
Chỉ thị số 44/CT-TW ngày 7-6-1984 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một
số vấn đề cấp bách trong tác cán bộ nữ nêu rõ, vấn đề cán bộ nữ cần phải đặt trong
việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và Nhà nước ta.

vụ lãnh đạo, quản lý là một tiêu chí quan trọng về thực hiện bình đẳng nam nữ, một
tiêu chí của xã hội công bằng dân chủ, tiến bộ, văn minh là nhu cầu của sự nghiệp
cách mạng, là đòi hỏi của lợi ích công nghiệp, chị em phụ nữ hoàn toàn có khả năng
vươn lên đảm nhận những trách nhiệm lãnh đạo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội”. Đồng chí kết luận: “Sau hội nghị tổng kết này, ban chỉ đạo tổng kết Chỉ thị
37/CT-TW phối hợp với các cơ quan, ban, ngành liên quan chuẩn bị đề án trình Bộ
10
Chính trị ra nghị quyết về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận
động phụ nữ và cán bộ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Nghị quyết số 11/NQ/TW, ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã đánh giá tình hình phụ
nữ và công tác phụ nữ thời gian qua, đồng thời nêu lên nhiệm vụ và giải pháp về
công tác phụ nữ trong thời gian tới. Trong đó nêu rõ nhiệm vụ về quy hoạch, đào
tạo cán bộ nữ, phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt
từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến
40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo,
chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính
phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.
Xuyên suốt từ Đại hội I đến nay, Đảng ta đã đề cập đến nhiệm vụ xây dựng và
thực hiện chiến lược phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. Đặc biệt, Nghị
quyết IX của Đảng (2001) đã xác định rõ hơn về cơ chế, chính sách để tăng cường
sự tham gia của phụ nữ vào bộ máy quản lí, lãnh đạo có cơ chế, chính sách để tham
gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo, quản lí các cấp, các ngành”.
Những năm gần đây, Đảng đã ban hành một số chính sách về tiền lương, tuổi
bổ nhiệm, tuổi nghĩ hưu, đề bạt, luân chuyển…thể hiện sự quan tâm sâu sắc của
Đảng đối với cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý và cán bộ nữ nói chung: Quy định 51,
ngày 3-5-1999, về tuổi bổ nhiệm: “Cán bộ các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương, tuổi bổ nhiệm lần đầu không quá 50 tuổi đối với nữ” và
“Cán bộ các cơ quan huyện, quận và tương đương tuổi bổ nhiệm không quá 45 tuổi
với cả nam lẫn nữ”; Chỉ thị 46, ngày 6-12-2004, của Bộ Chính trị quy định tỉ lệ nữ

khuyến khích làm giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh;
đẩy lùi các tệ nạn xã hội. [6, trang 59-67]

12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ NỮ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1 Những thành tựu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo,
quản lý ở thành phố Cần Thơ thời gian vừa qua và nguyên nhân của những
thành tựu đó
2.2.1 Những thành tựu về xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo,
quản lý ở Thành phố Cần Thơ thời gian vừa qua
Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long, giữa một
mạng lưới sông ngòi, kênh rạch có diện tích: 1.401,6 km², dân số (2012): 1.214.100
người. Hiện nay, trên toàn hệ thống chính trị Thành phố Cần Thơ có 5 quận và 4
huyện, trong đó số thị trấn, xã, phường là 68, và trong số đó có 4 thị trấn, 30
phường và 34 xã. (Tính tới trước thời điểm ban hành Nghị định số 12/NĐ-CP)
Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý ở Thành phố Cần
Thơ được các cấp ủy Đảng thường xuyên quan tâm chỉ đạo và xem là nhiệm vụ
trọng tâm của Thành phố. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ các bộ nữ lãnh đạo,
quản lý trong thời gian vừa của Thành phố Cần Thơ đã đạt được một số kết quả khả
quan.
Về xác định cơ cấu và công tác bố trí, sử dụng và đề bạt cán bộ nữ lãnh đạo,
quản lý
Để cụ thể hóa Chiến lược và Chương trình quốc gia Bình đẳng giới, Uỷ ban
nhân dân Thành phố Cần Thơ đã ban hành và triển khai Kế hoạch số 14/KH-UBND
ngày 7-3-2011 thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới Thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2011-2020, với 7 mục tiêu và 21 chỉ tiêu nhằm tăng cường vai trò của phụ
nữ trong đời sống xã hội. Trong đó, mục tiêu tăng cường sự tham gia của phụ nữ
13
vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong

bộ. Từ đó, các cấp ủy Thành phố Cần Thơ đã đặt lên hành đầu yêu cầu của Đảng ủy
Thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2010 – 2015 là đảm bảo chất lượng, số lượng cơ cấu
hợp lý, trong đó có cơ cấu cán bộ nữ; có tính kế thừa và phát triển; gồm những đồng
chí tiêu biểu về phẩm chất, năng lực và có đủ sức khỏe, đảm bảo thực hiện thắng lợi
toàn diện nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố và nghị quyết Đại hội XI của
Đảng.
Về cơ cấu giới tính, các cấp ủy Thành phố Cần Thơ đề ra chỉ tiêu cao hơn quy
định của Trung ương về cơ cấu cán bộ nữ trong đảng ủy và Ban Thường vụ đảng ủy
Thành phố Cần Thơ: phấn đấu đảm bảo tỷ lệ đảng ủy viên nữ không dưới 15%.
Sau đại hội đảng bộ cấp Thành phố nhiệm kỳ 2010-2015, Thành ủy Thành phố
Cần Thơ tiếp tục lãnh đạo xây dựng cơ cấu của của cán bộ chính quyền phục vụ bầu
cử Hội đồng nhân dân Thành phố nhiệm kỳ 2011-2016 theo đúng nghị quyết của
Quốc hội, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, Chỉ thị của Bộ Chính trị và các văn bản
khác của Trung ương. Trong đó, coi trọng thực hiện Quyết định số 215/QĐ-TTg
ngày 16-2-2011 của Thủ tướng Chính phủ về hướng dẫn cơ cấu, thành phần và số
lượng đại biểu Hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.
Những năm qua, nhờ quan tâm thực hiện có hiệu quả chỉ tiêu giới nữ tham gia
quản lý, lãnh đạo được cải thiện rõ rệt. Ngày càng có nhiều vị trí quan trọng trong
các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác do
cán bộ, công chức nữ đảm nhiệm. Thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-TW của Bộ
chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” trong các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Cần Thơ, Ban
Thường vụ Thành ủy đã bổ nhiệm 44 cán bộ nữ, tỉ lệ 16,89%; giới thiệu 39 cán bộ
nữ ứng cử để bầu giữa các chức danh lãnh đạo chủ chốt, tỉ lệ 16,88%.
Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân các cấp có nhiều sự
thay đổi so với nhiệm kỳ trước. Trong đó, tỷ lệ nữ đại biểu tham gia cấp ủy nhiệm
kỳ 2010-2015: Cấp thành phố là 6/55 đạt tỷ lệ 10,9% (tăng 2,9% so với nhiệm kỳ
trước) (có 1 đồng chí nữ được bổ sung vào Ban Thường vụ Thành ủy); cấp quận,
huyện là 66/462 đạt tỷ lệ 14,28%; xã, phường, thị trấn là 575/2.796 đạt tỷ lệ

toàn xã hội về công tác phụ nữ và bình đẳng giới; xây dựng, hoàn thiện và thực hiện
16
tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển
của phụ nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, xây dựng
người phụ nữ Việt Nam “Có sức khỏe, có tri thức, có kỹ năng nghề nghiệp, năng
động, sáng tạo, có lối sống văn hóa và lòng nhân hậu”; xây dựng đội ngũ cán bộ nữ
khoa học có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng, củng cố Hội Liên hiệp Phụ nữ
các cấp thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận
động phụ nữ.
Nhờ đó, công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và quy hoạch
đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý nói riêng ngày càng đi vào nền nếp và đạt kết
quả, chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sau các cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đại hội Đảng bộ Thành phố
Ban Tổ chức Thành ủy Thành phố Cần Thơ phối hợp với sở Nội vụ, sở Tài chính,
Trường Chính trị… để triển khai bồi dưỡng kiến thức cho những cán bộ lần đầu
tham gia cấp ủy hoặc giữ các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ của Thành phố nói chung và đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo, quản
lý ở Thành phố Cần Thơ nói riêng
Sau khi có Nghị quyết số 42/NQ-TW của Bộ Chính trị, Thành ủy đã ban hành
Kế hoạch số 10/KH-TU “về quy hoạch và đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Mỗi năm, các cấp ủy đánh giá
lại cán bộ trong diện quy hoạch, từ đó điều chỉnh, đưa ra khỏi quy hoạch những
người không còn đủ tiêu chuẩn, bổ sung những nhân tố mới. Đến nay Thành phố đã
hoàn thành rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý giai đoạn 2013-
2015 và rà soát, bổ sung (lần thứ nhất) quy hoạch nhiệm kỳ 2015-2020. Kết quả rà
soát, bổ sung (lần thứ nhất) quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố nhiệm
kỳ 2015-2020 gồm 126 đồng chí (bằng 2, 3 lần so với số lượng ủy viên Ban Chấp
hành đương nhiệm). Trong đó, nữ chiếm 19,1% (cao hơn nhiệm kỳ trước 5,8%), số

đồng/năm cho sinh viên đang học tại các trường đại học ký hợp đồng cam kết làm
việc tại quận sau khi tốt nghiệp. Đặc biệt, nguồn quỹ hỗ trợ này được vận động từ
các mạnh thường quân. Sau gần 2 năm thực hiện, đã có 48 sinh viên trong đó có 21
nữ ký hợp đồng cam kết làm việc tại quận và quận cũng đã tiếp nhận, phân công 32
trường hợp làm việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo.
18
Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo chất lượng đào tạo phát huy kiến
thức đã học phục vụ công việc trước mắt và lâu dài; phân định rõ tiêu chuẩn, đối
tượng, hình thức đào tạo cán bộ có điều kiện vừa học tập nâng cao trình độ, vừa
thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chọn số sinh viên tốt nghiệp ở các trường đại học, cao
đẳng đang chờ có nhu cầu công tác làm nguồn cho cán bộ.
Các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Cần Thơ cũng đã làm tốt công tác
tham mưu cho Ban Vì sự tiến bộ Phụ nữ thực hiện kế hoạch hành động vì sự tiến bộ
phụ nữ giai đoạn 2006 – 2010 với hai mục tiêu: Thực hiện các quyền bình đẳng của
phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm và nâng cao chất lượng và hoạt động của
phụ nữ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để tăng tỷ lệ cán bộ nữ
tham gia lãnh đạo, quản lý. [7, trang 7]
Đi đôi với việc quán triệt nghiêm túc tinh thần Kế hoạch số 49/KH-TU của
Thành ủy Cần Thơ, Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố đã tích cực phát động phong
trào thi đua “Phụ nữ tích học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”,
xây dựng nhiều kế hoạch, đề án về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội các cấp
giai đoạn 2013-2017, sơ kết 1 năm thực hiện Nghị quyết số 10/NQ-TU của Thành
ủy Thành phố Cần Thơ về đào tạo cán bộ cơ sở, quận, huyện và thành phố đạt
chuẩn. Qua đó góp phần nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ Hội các
cấp, bổ sung nguồn cán bộ nữ cho các ngành, các cấp…
Cùng với đó Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Cần Thơ đã tham mưu giới
thiệu nguồn cán bộ nữ đạt tiêu chuẩn, phẩm chất cho cấp ủy quy hoạch các chức
danh lãnh đạo, quản lý. Trong Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số
11/NQ-TW của Bộ Chính trị (khóa X) về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố

phố từ 29% (2008) lên 32,6% (2013). [13, trang 10]
Trên cơ sở đánh giá cán bộ, lựa chọn trong số những cán bộ nữ tiêu biểu hình
thành “quỹ cán bộ nữ” sắp xếp theo quy hoạch, tổ chức bồi dưỡng, rèn luyện thử
thách, qua đó lựa chọn cán bộ chủ trì các cấp, tăng cường luân chuyển cán bộ theo
chiều dọc lẫn chiều ngang, tạo động lực mới cho cán bộ hoàn thành nhiệm vụ. Giám
sát kiểm tra thường xuyên công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng.
Tạo nguồn cán bộ nữ lãnh đạo và quản lý thông qua việc kết nạp đảng viên nữ
trong thời gian được các cấp ủy đảng thành phố quan tâm, tạo điều kiện. Những địa
phương có số đảng viên nữ khá cao như Quận Ninh Kiều có số đảng viên nữ là
20
2.846/6.534 đồng chí, chiếm tỷ lệ 43,55%, 9 tháng đầu năm 2014, toàn quận đã kết
nạp 173 đảng viên, trong đó có 87 đảng viên nữ, chiếm tỷ lệ 50,3% tổng số đảng
viên mới được kết nạp. Quận Cái Răng có số đảng viên nữ là 1.921/5.265 đồng chí,
toàn quận kết nap được 138 đảng viên trong đó có 64 đảng viên nữ chiếm tỷ lệ
46%, quận Bình Thủy có số đảng viên nữ là 1.978/5.392 đồng chí, toàn quận kết
nạp được 146 đảng viên, trong đó có 72 đảng viên nữ chiếm tỷ lệ 49%
Thành ủy thành phố Cần Thơ đã tích cực triển khai đào tạo bồi dưỡng cán bộ
lãnh đạo, quản lý của Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố Cần Thơ. Cán bộ Hội được
từng bước chuẩn hóa. Đội ngũ cán bộ trưởng thành để cung cấp bổ sung nguồn cho
đảng, chính quyền các ngành, đoàn thể, đảm bảo tiêu chuẩn, chức danh, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Xác định và cử đúng đối tượng đi đào tạo, bồi
dưỡng, chưa đạt chuẩn về chuyên môn.
Chủ động liên kết các ngành liên quan để đưa cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Hội cơ sở, có kế hoạch đưa cán bộ Hội
đào tạo Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương II, các lớp trung cấp nghiệp vụ chính trị.
Công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao chất lượng cán bộ Hội tiếp tục được quan
tâm chỉ đạo, đặc biệt chú ý đến cán bộ Hội phụ nữ cơ sở và cán bộ mới được kiện
toàn sau Đại hội phụ nữ các cấp.Tiến hành đổi mới nội dung chương trình phương
thức đào tạo.
Đánh giá chất lượng ngũ cán bộ Hội lãnh đạo, quản lý các cấp, đến nay có

và phong trào phụ nữ trong tình hình mới, đã cử 73 lượt cán bộ Hội dự lớp tập huấn,
bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội và các chuyên đề do Trung ương Hội, các ban,
ngành, đoàn thể tổ chức.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố mở 08 lớp bồi dưỡng công tác Hội với 1.002
lượt cán bộ Hội phụ nữ cơ sở dự trong đó, mở 03 lớp cho cán bộ Hội Phụ nữ xã,
phường, thị trấn; 03 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho chi Hội trưởng; 02 lớp cho hội
viên phụ nữ dân tộc Khmer về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi để nâng cao năng xuất
góp phần phát triển kinh tế gia đình, xóa đói giảm nghèo.
Các cấp Hội tập trung kiện toàn bộ máy cơ sở Hội, đầu tư nâng cao chất lượng
cán bộ, hội viên. Thành phố và các quận, huyện mở trên 20 lớp đào tạo bồi dưỡng
ngắn hạn về những chính sách pháp luật mới được ban hành, tập huấn về kỹ năng
22
điều hành sinh hoạt chi, tổ, hội cho Ban chấp hành chi, tổ, hội. Cung cấp tài liệu
sinh hoạt hoạt hội viên tới 100% chi, tổ và cơ sở Hội; tham gia góp ý kiến đề xuất
chính sách cho chi hội trưởng… từ đó, hoạt động của tổ chức Hội cơ sở trong nhiệm
kỳ qua đã đạt được kết quả rõ nét.
Nhiều cán bộ nữ đã phát huy tốt vai trò và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được
giao, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trên các mặt trận được phân công. Điều đó, tạo
điều kiện thuận lợi cho cán bộ vừa chuyên sâu vừa hiểu rộng được tình hình địa
phương. Vì vậy, nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ 2010-2015 và cán bộ lãnh đạo, quản lý
của Thành phố Cần Thơ đã đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ.[2, trang 2,3]
Những việc làm trên đã thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo các cấp vì sự tiến bộ
và phát triển của phụ nữ thành phố nhằm tạo thuận lợi cho cán bộ nữ có điều kiện
tham gia có hiệu quả vào các lĩnh vực quản lý Nhà nước, khẳng định sự phấn đấu,
rèn luyện và trưởng thành không ngừng của cán bộ nữ thành phố đang góp phần
tích cực trong xu thế hội nhập và phát triển chung của đất nước.
Bên cạnh đó, cán bộ nữ còn được chăm sóc chu đáo về mặt tinh thần, được tạo
nhiều điều kiện để giao lưu, trao đổi, học tập, chia sẻ kinh nghiệm, kỹ năng lãnh
đạo, quản lý, đặc biệt trong các dịp Lễ hội của giới 8/3 và 20/10 hàng năm, cán bộ
nữ chủ chốt diện Thành ủy quản lý thường được Thành ủy và Ủy ban nhân dân

Các cấp ủy đảng tiến hành xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
trong đó chú ý đến cán bộ nữ và tạo điều kiện thuận lợi để bố trí cán bộ nữ đảm
nhiệm chức vụ theo quy hoạch, theo đúng nguyên tắc, quy trình vào thời điểm thích
hợp. Các cấp ủy Thành phố đã luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ nữ
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Về tự học tập, rèn luyện của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý
Nhiều cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị Thành phố Cần Thơ
đã cán bộ đảm đương chức vụ trong diện quy hoạch đã khắc phục khó khăn, tự học
tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Nhiều cán bộ nữ đã chủ động đăng ký các
lớp không tập trung do Trường chính trị Thành phố Cần Thơ và các trung tâm giáo
dục thường xuyên mở tại địa phương để đạt chuẩn về trình độ học vấn chuyên môn,
nghiệp vụ, tin học… Các cấp ủy Thành phố đã quan và tạo điều kiện thuận lợi về
thời gian và hỗ trợ kinh phí để cán bộ tham gia học tập đạt kết quả.
24
Thành phố đã xuất hiện nhiều gương cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý học tập vươn
lên trong học tập phấn đấu đạt trình độ đại học, thạc sĩ, trung cấp lý luận chính trị
… Từ sự rèn luyện phẩm chất đạo đức, nỗ lực học tập nâng cao trình độ, nhiều cán
bộ nữ đã nhận được sự tín nhiệm cao, giữ vị trí quan trọng trên các lĩnh vực đặc biệt
là ở các quận Ninh Kiều, Cái Răng.

Về thực hiện chính sách cán bộ
Các cấp ủy Thành phố Cần Thơ đã chỉ đạo thực hiện chính sách cán bộ đối với
cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý nói riêng trên ba
phương diện chính: chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chính sách sử dụng và
quản lý cán bộ; chính sách đảm bảo lợi ích vật chất và động viên tinh thần cán bộ đã
đạt kết quả quan trọng. Các cấp ủy đã coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ đảm
bảo đủ trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Các cấp ủy đã đã sử dụng hợp lý
cán bộ nữ trên thế mạnh của từng cán bộ. Đặc biệt, các cấp ủy đã quan tâm thực
hiện chính sách đãi ngộ cán bộ nữ, thực hiện tốt chính sách lương, phụ cấp, hỗ trợ
kinh phí khen thưởng, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ những cán bộ gia đình khó khăn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status