Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Á Châu - Pdf 29

- 1 -

LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quản trị ngân hàng thương mại, quản trị rủi ro là một trong những
nội dung quan trọng hàng đầu. Và trong hoạt động ngân hàng, tín dụng là nghiệp
vụ phức tạp và khó bậc nhất so với các nghiệp vụ khác vì nó vốn chứa đựng
nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng một khi xảy ra sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả
kinh doanh cũng như sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, xa hơn là tác động
trực tiếp đến hệ thống ngân hàng và tồn bộ nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới năm 2007-2010 thời gian qua với sự sụp đổ của một loạt NH Mỹ có
ngun nhân từ rủi ro tín dụng.
Trong mơi trường hoạt động đầy rủi ro này, hoạt động tín dụng của nhiều
ngân hàng thương mại cổ phần tại TPHCM cũng như tại Hà Nội có nợ xấu tăng
cao nên gặp khó khăn về thanh khoản do sử dụng nhiều vốn ngắn hạn để cho
vay trung và dài hạn và đặc biệt khi nguồn vốn ngắn hạn khơng còn dồi dào nữa
sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh tốn tạm thời mà điển hình tại TPHCM là ba
ngân hàng TMCP Đệ Nhất , Việt Nam Tín Nghĩa và Sài Gòn đã hợp nhất mang
tên NHTMCP Sài Gòn và đã được sự hỗ trợ thanh khoản từ ngân hàng nhà
nước, còn tại Hà Nội NHCP nhà Hà Nội với khoản lỗ hơn 4000 tỷ đồng trong
đó hơn 3000 tỷ đồng cho Vinashin vay coi như mất vốn đã chủ động sát nhập
với NHTMCP Sài Gòn Hà Nội mang tên hợp nhất là NHTMCP Sài Gòn Hà Nội
Tín dụng cũng là hoạt động chính và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các
NH thương mại Việt nam nói chung và Ngân hàng Á Châu nói riêng. Trong bối
cảnh hội nhập kinh tế tồn cầu, sự phụ lẫn nhau giữa các nền kinh tế, giữa các
ngành nghề và sự canh tranh gay gắt là tất yếu thì mức độ phức tạp và rủi ro của
hoạt động tín dụng càng tăng cao. Chính vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng ln giữ
vị trí trung tâm trong hoạt động quản trị rủi ro của các NH thương mại Việt nam,

Đối tượng nghiên cứu : hoạt động tín dụng tại NHTMCP Á Châu -
TPHCM
Phạm vi nghiên cứu: do tính đa dạng và phức tạp của hoạt động tín dụng
ngân hàng, trong luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề quản trị rủi ro tín dụng tại
NHTMCP Á Châu , số liệu thu được thu thập cho việc nghiên cứu từ năm 2007
đến 2011.

- 3 -

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp: chủ yếu sử dụng phương pháp
thống kê, so sánh, tổng hợp từ các dữ liệu thứ cấp để phân tích, đánh giá thực
trạng rủi ro tín dụng tại NHTMCP Á Châu. Nguồn dữ liêu thứ cấp được thu thập
từ các số liệu báo cáo của NHNN, NHTMCP Á Châu, số liệu thống kê báo cáo
của tổng cục thống kê, số liệu trên web, các báo cáo tình hình kinh tế xã hội, các
đề tài liên quan; sách báo, tạp chí chun ngành.
Phương pháp tư duy logic: đi từ lý thuyết đến thực tiễn nhằm giải quyết và
làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu.

5. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯC
Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thiết thực về mặt khoa học cũng như
thực tiễn. Về mặt khoa học, đề tài phân tích các ngun tắc và thơng lệ quốc tế
tốt nhất về quản trị rủi ro tín dụng. Đề tài nghiên cứu sẽ góp phần hình thành
một mơ hình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả dựa trên cơ sở chắt lọc và tổng
hợp nhiều ý kiến khác nhau từ các nguồn tài liệu, sách, tạp chí chun ngành về
các vấn đề có liên quan; và cả theo quan điểm cá nhân người thực hiện đề tài.
Về mặt thực tiễn, đề tài cung cấp hệ thống cơ sở lý luận chung về quản trị

cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó ”
Từ việc tham khảo ta rút ra định nghĩa về quản trị: Quản trị là tiến trình hoàn
thành công việc một cách có hiệu quả và hữu hiệu thông qua người khác.
Có thể giải thích các thuật ngữ trong định nghĩa quản trị:
Tiến trình biểu thị những hoạt động chính của nhà quản trị là hoạch định, tổ
chức tổ, lãnh đạo và kiểm tra.
Hữu hiệu nghĩa là thực hiện đúng công việc hay nói cách khác là đạt được
mục tiêu của tổ chức.
Hiệu quả nghĩa là thực hiện công việc một cách đúng đắn và liên quan đến
mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra.
Khi các nhà quản trị đương đầu với các nguồn lực khan hiếm họ cần phải
quan tâm đến việc sử dụng hiệu quả nguồn lực. Vì vậy, quản trị liên quan đến việc
đạt được mục tiêu và tối thiểu hóa nguồn lực.

- 5 -

1.1.2. Các chức năng của quản trị :
+ Hoạch định là việc xác định các mục tiêu của tổ chức và phát thảo những
cách thức để đạt được những mục tiêu đó.
+ Tổ chức là tiến trình thiết lập một cấu trúc về các mối quan hệ giúp cho
mọi người có thể thực hiện kế hoạch đã đề ra và thoả mãn các mục tiêu của tổ chức.
+ Lãnh đạo bao gồm các hoạt động nhằm thúc đẩy mọi người thực hiện
những công việc cần thiết để hoàn thành mục tiêu của tổ chức.
+ Kiểm tra là tiến trình mà trong đó một cá nhân, nhóm hoặc tổ chức giám
sát kết quả thực hiện một cách liên tục và thực hiện các hoạt động điều chỉnh những
sai lệch so với mục tiêu.
1.2. Tín dụng

 Căn cứ theo mục đích : cho vay bất động sản; cho vay công nghiệp và
thương mại; cho vay nông nghiệp; cho vay các định chế tài chính; cho vay cá nhân;
cho thuê tài chính.
 Căn cứ theo thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn; cho vay trung hạn; cho
vay dài hạn.
 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với KH: cho vay không bảo đảm; cho
vay có bảo đảm.
 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: cho vay trực tiếp; cho vay gián tiếp:
theo các loại sau: chiết khấu thương mại; mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và
máy móc nông nghiệp trả góp; nghiệp vụ bao thanh tóan (nghiệp vụ factoring); bảo
lãnh .
1.3.Rủi ro tín dụng
1.3.1.Các khái niệm về rủi ro tín dụng:
Rủi ro (risk ):
Theo ISO 31000:2009, rủi ro là những tác động của những điều không chắc
chắn đến việc đạt được những mục tiêu của tổ chức (effect of uncertainty on
objectives)
Tuy nhiên, chỉ có tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác
suất xảy ra mới được xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa
từng xảy ra và không ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc.
Rủi ro còn được định nghĩa như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị
kỳ vọng => Đây là cơ sở để có thể đo lường rủi ro.
Các loại rủi ro trong hoạt động NH:
- 7 - Hình 1.1 : Rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Rủi ro khe hở
Rủi ro tín
dụng
Rủi ro danh mục
Rủi ro cá biệt
Rủi ro đối tác
Rủi ro người
phát hành
Rủi ro
kinh doanh
Rủi ro quy định
- 8 -

 Rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo
hợp đồng, bao gồm vốn và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh
toán ).
 Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và
giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua
lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.
 Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), các NH thiếu đa
dạng trong kinh doanh cá dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì
vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất,
đặc biệt đối với các NH nhỏ. Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu
quả kinh doanh của NH.
 Rủi ro là một yếu tố khách quan, không thể nào loại trừ hoàn toàn được
mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.
Chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, là khả năng, do đó có

Hình 1.2 : Rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các NHTM

 Rủi ro giao dịch: rủi ro liên quan đến từng khoản cấp tín dụng mỗi khi
NH ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho KH. Nó phát sinh do sai sót, hạn
chế ở các khâu đánh giá, thẩm định và xét duyệt khi cho vay, hoặc phát sinh do
thiếu chặt chẽ ở khâu theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, hoặc do sơ hở ở
khâu bảo đảm và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng.
 Rủi ro danh mục tín dụng: rủi ro liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản
tín dụng trong danh mục tín dụng của NH. Nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệt
từng loại tín dụng, xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của KH vay
vốn, lĩnh vực kinh tế. Hoặc phát sinh do thiếu đa dạng hoá danh mục tín dụng như
tập trung cho vay quá nhiều vào một số KH, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một
vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Chẳng hạn do
cạnh tranh lãi suất khiến các NH tăng lãi suất huy động làm cho lãi suất cho vay
tăng theo. Kết quả là các dự án có mức rủi ro thấp, do đó suất sinh lợi thấp bị từ
chối cho vay, chỉ cón các dự án có suất sinh lợi cao kèm theo rủi ro cao mới vay
được vốn NH. Tình hình này làm cho danh mục tín dụng của NH thiếu đa dạng hóa
mà chỉ tập trung vào các khoản vay rủi ro cao.
1.3.3.Thiệt hại do rủi ro tín dụng :
Rủi ro
tín dụng
Rủi ro giao dịch
(liên quan đến 1 khoản
cho vay)
Rủi ro xét duyệt
(liên quan đến việc thẩm
định, xét duyệt cho vay)

NH vẫn phải chi trả lãi tiền gửi cho nguồn vốn huy động được, từ đó làm cho lợi
nhuận của NH bị giảm, nguồn vốn kinh doanh của NH bị thu hẹp. Nếu tình trạng
này trầm trọng và kéo dài có thể dẫn đến trường hợp NH mất khả năng thanh toán
và bị phá sản.
 Đối với hệ thống NH: hoạt động của một NH trong một quốc gia có liên
quan đến hệ thống NH và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế.
Do vậy, nếu một NH có kết quả hoạt động xấu, hoặc thậm chí dẫn đến mất khả năng
thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền không tốt đến các NH và
bộ phận kinh tế khác, tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ
sẽ đồng loạt rút tiền tại các NH khác, làm cho các NH khác cũng có thể rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
 Đối với nền kinh tế- xã hội : NH là một tổ chức trung gian tài chính, có
chức năng huy động vốn nhàn rỗi để cho vay lại, nên khi có RRTD xảy ra thì chẳng
những NH bị thiệt mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Vả lại, khi
một NH gặp phải RRTD sẽ có tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống NH
gặp khó khăn. Khi uy tín của NH giảm sút, hệ thống NH không còn khả năng thực
hiện chức năng trung gian tài chính thì sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh
doanh của DN. Hơn nữa, sự đổ vỡ của NH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ nền
kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp và
xã hội mất ổn định…
1.3.4.Nguyên nhân rủi ro tín dụng:
Để nghiên cứu rủi ro tín dụng, cần phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến rủi ro.
các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân khách
- 11 -

quan từ môi trường bên ngoài và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ
tín dụng.
không đầy đủ dẫn đến cho vay không hợp lý; phương tiện cho vay chưa được cơ
cấu hợp lý: số lượng vốn vay thừa hoặc thiếu so với nhu cầu dẫn đến KH sử dụng
vốn vay không đúng mục đích, kỳ hạn trả nợ không phù hợp với dòng tiền thu
được của KH hoặc dòng đời dự án, thời hạn rút vốn
 Rủi ro công nghệ: hầu hết các hoạt động ngân đều áp dụng công nghệ
ngân hàng hiện đại. Do đó, rủi ro công nghệ là tất yếu. Rủi ro tín dụng có liên hệ
chặt chẽ với rủi ro công nghệ và có thể phát sinh bất cứ lúc nào khi hệ thống công
nghệ bị trục trặc hoặc khi hệ thống hỗ trợ bên trong ngừng hoạt động hoặc khi có sự
tấn công từ bên ngoài ( như lấy cắp thông tin thẻ tín dụng ).
1.3.4.3.Các nguyên nhân từ môi trường bên ngoài :
 Sự biến động của môi trường kinh tế, chính trị xã hội ảnh hưởng đến hoạt
động kinh doanh của KH nên cho dù có thiện chí đến mấy nhưng DN cũng không
thể trả nợ NH. Những biến động của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến khả năng
trả nợ của DN như: thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chiến tranh; tình hình an ninh,
trong nước, trong khu vực bất ổn; khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát,
mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái biến động bất thường; sự
thay đổi môi trường pháp lý, chính sách kinh tế của nhà nước …
 Sự biến động của môi truờng kinh tế tác động lên tài sản bảo đảm ví dụ
như sự biến động giá cả làm cho NH gặp rủi ro khi xử lý tài sản bảo đảm.
 Hệ thống thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu: thông tin cung cấp cho hệ
thống NH chưa đầy đủ và cập nhât kịp thời giúp NH có cơ sở thực hiện các quyết
định cho vay và quản lý dư nợ.
1.4.Quản trị rủi ro tín dụng
1.4.1.Các khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng và hiệu quả quản trị rủi ro
tín dụng :
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có
hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất
mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro.

kiểm soát của con người. Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các NH có năng lực
quản trị RRTD là khả năng quản trị nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được nhờ
xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với môi trường
hoạt động để hạn chế được những RRTD mang tính chủ quan, xuất phát từ yếu tố
con người và những RRTD khác có thể kiểm soát được.
Có nhiều phương thức quản trị rủi ro tín dụng nhưng phương thức quản trị
rủi ro tín dụng hiệu quả ngày nay đó là vận dụng các nguyên tắc BASEL II về
- 14 -

quản trị rủi ro tín dụng, tuân thủ quy trình quản trị rủi ro theo ISO 31000:2009 gồm
nhận dạng đo lường, quản lý, kiểm soát và báo cáo rà soát/giảm nhẹ rủi ro tín dụng,
phù hợp thông lệ quốc tế được nhiều NH và các tổ chức quốc tế khuyến khích sử
dụng.
1.4.2.Các nguyên tắc BASEL II về quản trị rủi ro tín dụng :
Uỷ ban BASEL về Giám sát NH là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia
giám sát hoạt động NH được thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc NH Trung
ương của nhóm G10. Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám
sát nghiệp vụ NH và NH trung ương của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật
Bản, Hà Lan, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Mỹ. Giúp việc cho Uỷ ban BASEL
là Ban Thư ký thường trực có trụ sở làm việc tại Washington (Mỹ). Uỷ ban tổ chức
họp thường niên tại trụ sở NH Thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc
tại thành phố BASEL (Thuỵ Sĩ).
Uỷ ban BASEL đã xây dựng và xuất bản hai ấn phẩm:
 Những nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của NH một cách
có hiệu quả (hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực về biện pháp thận trọng); và
 Tài liệu hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến nghị hiện nay
của uỷ ban BASEL, các hướng dẫn và tiêu chuẩn, hầu hết được kèm với các hướng

ro thích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động đó được ban hành hoặc triển khai và
phải được phê duyệt trước bởi hội đồng quản trị hoặc một uỷ ban thích hợp.
Các nguyên tắc này quy định NH cần phải thiết lập một môi trường rủi ro tín
dụng phù hợp hay nói cách khác là phải xác định được mức độ chấp nhận rủi ro hay
khẩu vị rủi ro của NH (Risk appetite ).
 Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý :
Nguyên tắc 4: NH phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng
được xác định rõ ràng và hiệu quả. Những tiêu chí này cần bao gồm những chỉ số rõ
ràng về thị trường mục tiêu của NH và sự hiểu biết thấu đáo của người vay vốn hay
đối tác, nguồn trả nợ của KH cũng như mục đích và cơ cấu tín dụng.
Nguyên tắc 5: NH phải xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể cho mỗi
KH hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm KH có liên quan được tổng hợp lại theo các
loại rủi ro khác nhau theo các phương pháp có nghĩa và có thể so sánh được cả
trong sổ NH và sổ kinh doanh cả trong và ngoài bảng tổng kết tài sản.
Nguyên tắc 6: NH cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt mới, sửa
đổi, cấp lại hoặc tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại.
- 16 -

Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc thận
trọng và khách quan. Cụ thể là các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có
liên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt và cần có những biện pháp thích
hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay.
 Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù
hợp:
Nguyên tắc 8: NH cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị và giám
sát thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro. Cần duy trì bộ
phận quản lý tín dụng. Cơ cấu tổ chức của bộ phận này thay đổi tuỳ theo quy mô và

đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và chuẩn mực nội bộ.
NH cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội bộ và các thông lệ khác để đảm
bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy trình và hạn mức được báo
cáo một các kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý.
Nguyên tắc 16: NH phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín
dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường hợp
nợ xấu tương tự.
Uỷ ban BASEL tin rằng các nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng này sẽ
giúp việc quản lý và giám sát rủi ro trong hoạt động NH một cách hiệu quả.
1.4.3. Quy trình quản trị rủi ro tín dụng :
Quy trình quản trị rủi ro thông thường gồm : Nhận diện/ xác định rủi ro, đo
lường rủi ro, quản lý/ kiểm soát rủi ro, và giảm thiểu rủi ro.

Hình 1.3 : Quy trình quản trị rủi ro tín dụng Báo cáo/
Giảm thiểu
Report/Review &
Revision
Nhận diện/
Xác định RR
Identification
Đo lường RR
Measurement
Quản lý/
Kiểm soát

 Có những thông tin xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN.
 Thường xuyên gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ .
 Ban lãnh đạo DN luôn lảng tránh hoặc trì hoãn trong việc thực hiện các
yêu cầu của NH . - 19 -

1.4.3.2.Đo lường rủi ro tín dụng:
Trong công tác quản trị rủi ro, cần thiết phải có một hệ thống đo lường
RRTD nhằm phân loại các mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động kinh
doanh NH, từ đó có biện pháp cụ thể để quản trị tốt những rủi ro ở các mức độ khác
nhau. Có nhiều mô hình để đo lường rủi ro tín dụng gồm cả định tính và định lượng,
đánh giá KH và đánh giá tổng thể rủi ro của hoạt động tín dụng một NH. Sau đây là
một số mô hình phổ biến:
 Mô hình định tính: 6C
Mô hình này là xem xét liệu KH vay có thiện chí và khả năng thanh toán các
khoản vay khi đến hạn hay không. Mô hình này được dùng trong thẩm định KH
trước khi cho vay. Cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:
- Tư cách người vay (Character): cán bộ tín dụng phải xem xét tư cách
pháp lý của người vay , đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với KH
cũ; còn đối với KH mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như trung
tâm phòng ngừa rủi ro, từ NH khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng …
- Năng lực của người vay (Capacity): tùy thuộc vào qui định luật pháp của
quốc gia. Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
- Thu nhập của người vay (Cash): trước hết phải xác định được nguồn trả
nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán

chưa phải là chắc chắn trong việc thu hồi đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi vay, mà
chỉ là cơ sở để đưa ra quyết định đúng đắn về tín dụng đã được điều chỉnh theo dự
kiến mức độ rủi ro tín dụng có liên quan đến KH là người đi vay và tất cả các khoản
vay của KH đó.
Xếp hạng tín dụng dựa trên ba nhóm dữ liệu có tính trọng số: nhóm dữ liệu
tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của KH cũng như các đánh giá của các tổ
chức xếp hạng; nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý,
khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng
trưởng của ngành; và nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện
tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ như tình hình số dư tiền gửi, hạn mức
thấu chi. Xếp hạng tín dụng do các tổ chức bên ngoài thực hiện hoặc do chính NH
thực hiện ( gọi là xếp hạng tín dụng nội bộ ).
 Mô hình tính toán tổn thất tín dụng dự kiến ( expected Loss):
Theo BASEL II, các NH sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để đánh giá
RRTD, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu, khả năng tổn thất tín dụng. Tính
- 21 -

toán tổn thất tín dụng sẽ giúp NH định giá khoản vay cũng như xây dựng hiệu quả
hơn quỹ dự phòng RRTD .
Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:
EL = PD x EAD x LGD
EL : Expected Loss : Tổn thất tín dụng ước tính.
PD : Probability of Default : Xác xuất không trả được nợ.
EAD : Exposure at Default : Tổng dư nợ của KH tại thời điểm không trả
được nợ.
LGD : Loss Given Default : Tỷ trọng tổn thất ước tính.
* PD : Để tính toán nợ trong vòng 1 năm của KH, NH phải căn cứ trên số

tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức, …
làm cho việc xác định LEQ trở nên phức tạp hơn.
* LGD gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh khi KH
không được trả nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi
phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp, chi phí cho dịch
vụ pháp lý và một số chi phí liên quan.
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
Số tiền có thể thu hồi gồm các khoản tiền mà KH trả và các khoản tiền thu
được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố.
LGD = 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được.
Khả năng thu hồi vốn của NH thường rất cao hoặc rất thấp nên không thể
tính bình quân. Hai yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quyết định khả năng thu hồi
vốn khi KH không trả được nợ là tài sản đảm bảo của khoản vay và cơ cấu tài sản
của KH.
 Mô hình các chỉ tiêu đánh giá rủi ro chính (Key risk indicators - KRIs):
Thông thường để đo lường rủi ro tín dụng của NHTM người ta thường dùng
chỉ tiêu rủi ro chính sau:
 Nợ quá hạn: là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã
quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh trục tiếp mức độ rủi ro tín dụng của NH. Một
khoản tín dụng bị quá hạn nghĩa là không hoàn trả đúng hạn và không được phép
cũng như không đủ điều kiện để NH cơ cấu lại nợ ( gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ ).
KH có khỏan tín dụng bị quá hạn rất có nguy cơ bị vỡ nợ.
 Nợ xấu: ở các nước trên thế giới, khái niệm nợ xấu là các khoản nợ mà
hầu như không có khả năng, nợ tồn đọng dây dưa khó có thể thu hồi và không được
- 23 -
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro chính
Chỉ tiêu
Thông lệ

  


   
<= 20%
 


  <= 60%

 


 

< =5% : Chấp nhận
được
Từ 5% đến 10% :
không bình thường


<= 80%

( Nguồn: Quyết định 493/2005/QĐ –NHNN ) [5]

- 25 -

1.4.3.3.Quản lý/ kiểm soát rủi ro tín dụng :
Các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng cụ thể có thể khác nhau giữa các NH
tuỳ theo khả năng nhận thức cũng như bản chất và mức độ phức tạp của hoạt động
tín dụng. Các biện pháp quản lý rủi ro toàn diện sẽ tuân thủ các nguyên tắc quản lý
rủi ro cẩn trọng, đó là các nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL và các thông lệ tốt
nhất. Một số biện pháp quản lý rủi ro tín dụng như:
 Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược chính sách, quy trình quản lý rủi
ro tín dụng.
 Xác lập các giới hạn, hạn mức theo ngành nghề, KH, loại tiền, sản phẩm,
khu vực địa lý.
 Xây dựng mô hình phù hợp để kiểm soát rủi ro ( tách bạch 3 khâu: Đề
xuất, thẩm định rủi ro, tác nghiệp).
 Kiểm soát theo quy trình cấp tín dụng: Trước, trong và sau khi cho vay.
 Tuân thủ chính sách, quy trình tín dụng một cách thận trọng.
 Nâng cao chất lượng công tác phân tích và thẩm định tín dụng.
 Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng, hệ thống chấm điểm tín dụng.
 Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng.
 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu về KH, khoản vay.
1.4.3.4.Giảm nhẹ rủi ro :
Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status