1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tính đến cuối năm 2011, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 3 ngân hàng thương mại
nhà nước, 40 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng
100% vốn nước ngoài, 48 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 8 công ty cho thuê tài
chính và 56 văn phòng đại diện nước ngoài. Điều này chứng tỏ lĩnh vực tài chính
ngân hàng của Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới theo cam
kết WTO. Việc nâng cao năng lự
c cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại
Việt Nam nói chung để không bị thua kém trên sân nhà là tất yếu khách quan.
Một trong những nhân tố mang tính quyết định sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế
nói chung và ngân hàng nói riêng là nhân tố con người. Trong các yếu tố vật chất
cấu thành nên hoạt động của ngân hàng như: vốn, trụ sở làm việc, trang thiết bị,
nhân lực và môi trường… thì nhân lực là yếu tố quyết định nhất.
Đặc biệt, trong
một ngành kinh tế phát triển nhờ qui mô và tri thức như ngân hàng thì nguồn nhân
lực chất lượng cao lại càng có vai trò quan trọng. Trong quá trình chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường, nhân lực của ngân hàng cần có sự thay đổi cơ bản về chất,
không ngừng nâng cao năng lực, kỹ năng tác nghiệp và nhận thức về môi trường
hoạt động thì mới đáp ứng được yêu cầu của nhiệm v
ụ mới. Chỉ khi có sự chuyển
biến cơ bản cả về lượng và chất của đội ngũ nhân lực thì hệ thống ngân hàng mới có
thể tồn tại và phát triển, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Nếu giai đoạn từ năm 2007- năm 2010, ACB chỉ mới bắt đầu hội nhập sâu rộng, cọ
xát, cạnh tranh; thì từ
năm 2011, dựa trên những kinh nghiệm cọ xát thực tiễn đó,
ACB đã xác định mục tiêu là trở thành ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu
Việt Nam vào năm 2015; chính vì lý do đó tôi chọn đề tài “MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á
CHÂU”.
TMCP Á CHÂU.
Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU.
3
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM
1.1.1 Các khái niệm cơ bản và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu mà các ngân hàng (NH) đều phải thực hiện để
tồn tại và phát triển. Tùy theo quan điểm nghiên cứu, cạnh tranh có các khái niệm
khác nhau. Khi nói đến cạnh tranh, người ta thường phân làm ba cấp độ: cạnh tranh
của quốc gia, cạnh tranh của DN (DN) và cạnh tranh của sản phẩm (SP). Trong
phạm vi nghiên cứu của đề tài, Luậ
n văn tập trung vào cạnh tranh của DN và SP.
Đứng trên quan điểm người bán, Paul Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự kình
địch giữa các DN với nhau để giành khách hàng (KH), thị trường”.[15] Chú trọng
hơn đến tính chất cạnh tranh và phương pháp cạnh tranh, Giáo sư Tôn Thất Nguyễn
Thiêm cho rằng: “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh
tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để đem lại cho KH những giá trị
gia t
ăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để KH lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của
mình.”[19]
Tóm lại, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua hợp pháp giữa các DN nhằm đạt đến
các mục tiêu cụ thể như thị phần, lợi nhuận, vốn, nhân lực hay đảm bảo an toàn
trong hoạt động kinh doanh…
Năng lực cạnh tranh (NLCT): NLCT được định nghĩa khác nhau tùy theo cách
trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tư tưởng văn hoá của mọi
thành viên trong DN. Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các SP có hàm lượng
chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kĩ thuật của sản phảm, mẫu mã, chất
lượng, và từ đó uy tín, danh tiếng của SP sẽ ngày càng tăng, DN sẽ tạo được vị trí
vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chúng, hướng tới sự
phát triể
n bền vững.
Bên cạnh nguồn nhân lực, vốn là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới NLCT của
DN. Một DN có NLCT cao là DN có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động
(HĐ) được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn HĐ hợp lý, có kế
hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõ
ràng để xác
định được hiệu quả chính xác. Nếu không có nguồn vốn dồi dào thì hạn
chế rất lớn tới kết quả hoạt động của DN như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện
đại, việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, triển khai nghiên cứu, ứng
dụng, nghiên cứu thị trường, hiện đại hoá hệ thống tổ chức quản lý Trong thực tế
5
không có DN nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các mặt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Vì vậy, điều quan trọng nhất là DN có kế hoạch HĐ
vốn phù hợp và phải có chiến lược đa dạng hóa nguồn cung vốn.
Một nguồn lực nữa là trình độ công nghệ. Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là
công thức tạo ra SP. Để có lợi thế cạnh tranh, DN phải đượ
c trang bị bằng công
nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra
SP ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao,
chất lượng SP tốt, ít gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng công nghệ này sẽ giúp DN
tăng năng suất lao động, giảm giá thành, tăng chất lượng SP, do đó làm cho NLCT
của SP tăng.
Là NLCT của SP: là khả năng SP đó bán được nhi
ều và nhanh chóng trên thị trường
ự khác biệt, chúng ta hãy xem xét một số
đặc điểm trong cạnh tranh của NHTM:
- Do bị kiểm soát chặt chẽ bởi Chính Phủ, thông qua các quy định pháp luật về thủ
tục cấp giấy phép thành lập NH mới, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mức CV, lãi suất cơ
bản,… nên mức độ cạnh tranh của các NH có phần bị hạn chế so với các lĩnh vực
khác. Các NH không thể tùy ý sử dụ
ng nguồn lực để cạnh tranh theo mức độ rủi ro
đã chọn. Chỉ khi nào Chính Phủ hoặc NH Nhà nước thực hiện cơ chế nới lỏng chính
sách tiền tệ, thả nổi tỷ giá hoặc thực tế xảy ra những sự việc mà quy định nhà nước
chưa kiểm soát được thì lúc đó cạnh tranh trong lĩnh vực NH trở nên khốc liệt và
ngay lập tức có sự thay đổi lớn, mà sự
thay đổi dễ thấy nhất là thay đổi KH của
nhau.
- Cạnh tranh trong ngành NH không phải là cạnh tranh “một mất một còn”. Hợp tác
kinh doanh để hạn chế xảy ra “hiệu ứng domino” buộc các NH không thể áp dụng
mọi phương thức cạnh tranh để chiến thắng đối thủ. Giải pháp để loại đối thủ cạnh
tranh chủ yếu là sáp nhập.
- Do đặc điểm SP của NH dễ sao chép nên tính khác biệt của SP s
ẽ nhanh chóng bị
xóa bỏ bởi đối thủ cạnh tranh, do vay NH cần phải không ngừng tạo ra những điểm
khác biệt mới.
Như vậy, có một số điểm khác biệt về NLCT giữa DN sản xuất kinh doanh và
NHTM là:
- Lợi thế cạnh tranh dựa vào sự khác biệt hóa SP của NHTM thường không duy trì
lâu bằng các DN sản xuất kinh doanh.
- Phương thức cạnh tranh hiệu quả của NHTM là xây dựng thương hiệu và uy tín vì
đặc điểm hoạt động kinh doanh của NH dựa trên cơ sở tín nhiệm.
- Nguồn nhân lực và công nghệ là hai trong những nguồn lực chính tạo lợi thế cạnh
7
tranh cho NHTM nhờ vào việc cải tiến chất lượng DV liên tục. Trong khi đó, với
chí an toàn tài chính. Định hướng hoạt động an toàn, bền vững, lợi nhuận hợp lý của
ACB chưa có gì thay đổi. Vừa qua, từng thời
điểm, dưới một số tác động của một
8
vài cá nhân, kế hoạch phát triển ngắn hạn có thể chệch hướng chiến lược. Việc xác
lập chỉ tiêu tăng trưởng phải hợp lý, phù hợp tình hình, bối cảnh chung. Nếu chủ
quan, xác lập chỉ tiêu kế hoạch duy ý chí, thì sẽ rủi ro. Nhìn nhận lại, qua sự cố này,
chỉ tiêu lợi nhuận, nếu không đạt vẫn sẽ cao hơn những năm trước và hoàn toàn
không ảnh hưởng đến vốn củ
a cổ đông, tiền gửi của khách hàng vẫn an toàn, ACB
sẽ tiếp tục phát triển vững chắc.
1.2.4 Thị phần
Xét một cách tổng quát nhất, thị phần là tiêu chí phản ánh NLCT hiện tại của một
NH trong việc thu hút và duy trì KH. Thị phần càng lớn, NLCT của NH càng cao và
ngược lại. Dựa vào hai hoạt động chính của NH là HĐ vốn và cho vay (CV) vốn, thị
phần của NH được thể hiện qua: thị phần HĐ v
ốn và CV vốn.
Thị phần không phản ánh hết nguyên nhân đem lại, duy trì và phát triển NLCT của
NH trong hiện tại và tương lai. Để phân tích cụ thể hơn, cần nghiên cứu thêm những
yếu tố khác nữa.
1.2.5 Sản phẩm
SP là yếu tố cơ bản cấu thành NLCT của bất kỳ DN nào. Trong hoạt động NH, SP
NH là các DV tài chính mà NH cung ứng cho KH. Chất lượng và mức độ đa dạng
của các DV tài chính giúp tạo nên vị thế của NH trong tâm trí KH.
Các chỉ tiêu đánh giá SP của một NH gồm:
Uy tín cung cấp SP
Thể hiện ở mức độ chính xác trong việc cung cấp. Uy tín cung cấp là yếu tố chất
lượng hàng đầu. Việc NH cung cấp SP theo cam kết giống như việc các DN cung
cấp SP hữu hình đúng theo chất lượng đã công bố.
Mức độ đa dạng của SP
Tính dễ dàng tìm kiếm và nhận được thông tin đầy đủ về NH và SP. Nếu dễ dàng
tìm kiếm và có thông tin đầy đủ, KH sẽ hài lòng hơn vì đã tiết kiệm được rất nhiều
thời gian.
Kỹ năng phục vụ của nhân viên NH
Chỉ tiêu đánh giá sự quan tâm, tính chuyên nghiệp trong phong cách phục vụ của
toàn bộ hệ thố
ng NH và nhân viên giao dịch. Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả
của yếu tố con người trong hoạt động marketing mix và đánh giá kết quả của hoạt
động nhân sự. Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ quan tâm, đáp ứng của ban
lãnh đạo cũng như nhân viên đối với các nhu cầu chính đáng riêng có của mỗi KH.
10
Trong lĩnh vực cung cấp SP, việc đáp ứng các yêu cầu riêng có của KH như cấp hạn
mức TD hay gửi chi tiết báo có cho KH trước khi lấy sổ phụ… sẽ tạo thêm giá trị
gia tăng, góp phần tạo nên sự khác biệt cho SP và kết quả là mức độ hài lòng của
KH sẽ tăng lên.
Phong cách phục vụ hòa nhã, tận tâm, thái độ cư xử đúng mực và trình độ chuyên
môn của nhân viên NH cũng là yếu tố mang lại s
ự hài lòng cho KH.
Hiệu quả giải quyết khiếu nại
Trong quá trình giao dịch, KH không thể không phát sinh những điểm không hài
lòng về SP, DV của NH. Tùy theo từng KH, sự không hài lòng có thể được hoặc
không được phản ánh. Nếu được phản ánh và hiệu quả trong giải quyết khiếu nại
cao, NH sẽ thu được kết quả khả quan.
Theo số liệu thống kê, nếu than phiền của KH được giải quyết tốt, 95% KH sẽ quay
trở l
ại và giới thiệu cho những người khác cùng sử dụng. Do đó, nếu KH đánh giá
tốt sẽ làm tăng mức độ trung thành với NH và sẽ là một kênh quảng cáo “truyền
miệng” tốt. Tính hiệu quả trong giải quyết khiếu nại bao gồm cách thức tiếp nhận,
thời gian giải quyết, cách giải quyết khiếu nại đáp ứng như thế nào đối với mong
đợi của mỗi KH.
và hệ số an toàn của vốn tự có.
Chất lượng tài sản có
Chất lượng tài sản có cao sẽ đảm bảo tính ổn định của sức mạnh tài chính. Chất
lượng tài sản có phụ thuộc nhiều vào hoạt động quản trị rủi ro. Một số chỉ tiêu đánh
giá chất lượng tài sản có như tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ, tổng dư nợ/nguồn vốn HĐ
hay phương pháp quản trị rủi ro.v.v…
Khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và kết quả của quá trình
cạnh tranh. Ngoài ra, khả năng sinh lợi còn gia tăng sức mạnh tài chính nhằm tăng
NLCT của NH trong tương lai. Khả nă
ng sinh lợi được thể hiện qua lợi nhuận sau
thuế, cơ cấu lợi nhuận, tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản có, tỷ lệ thu nhập trên vốn cổ
phần…
Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản là khả năng đảm bảo đáp ứng yêu cầu rút tiền của KH gửi
tiết kiệm và yêu cầu giải ngân của KH đi vay. Khả năng thanh khoản đượ
c đánh giá
qua khả năng đảm bảo chi trả theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN hay tỷ lệ dự
trữ bắt buộc và thanh khoản trong cơ cấu sử dụng vốn …
1.2.8 Chất lượng ứng dụng khoa học công nghệ
12
Chất lượng khoa học công nghệ: Tất cả các hoạt động của một NH hiện đại đều sử
dụng đến hệ thống máy tính, hệ thống mạng Internet. Khoa học công nghệ tham gia
vào tất cả các hoạt động của một NH, chính vì vậy mà chất lượng khoa học công
nghệ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động NH. Hay nói cách khác
chất lượng khoa họ
c công nghệ là một yếu tố cấu thành nên NLCT của một NH
Chỉ tiêu công nghệ được đánh giá thông qua sự hiện đại của máy móc thiết bị (yếu
tố kỹ thuật) và năng lực vận dụng, điều hành công nghệ của nguồn nhân lực (yếu tố
con người). Ngoài ra, chỉ tiêu công nghệ còn được đánh giá qua khả năng ứng dụng
rộng, bao gồm cả các yếu tố kinh tế và xã hội, khía cạnh trọng yếu trong môi trường
hoạt động của một DN là ngành hay các ngành mà trong đó nó cạnh tranh. Cơ cấu
ngành có ảnh hưở
ng đến luật chơi trong cạnh tranh cũng như các chiến lược tiềm
năng mà DN có thể sử dụng. Các yếu tố bên ngoài ngành chỉ có ý nghĩa tương đối;
bởi vì các yếu tố bên ngoài thường tác động đến tất cả các DN trong ngành, điều
quan trọng là sự khác biệt về năng lực đối phó với những tác động đó. Trong ngành
NH, tình hình cạnh tranh phụ thuộc vào năm yếu tố cơ bản (còn g
ọi là năm áp lực
cạnh tranh) sau:
1.3.1 Nguy cơ từ đối thủ mới gia nhập ngành
Những đối thủ mới gia nhập ngành sẽ mang theo năng lực kinh doanh mới, khát
vọng chiếm thị phần và thường là nhiều nguồn lực đáng kể và chuyên nghiệp hơn.
Kết quả là giá tăng cao (tức lãi suất CV và phí DV giảm xuống, lãi suất HĐ tăng
lên) khiến chi phí hoạt động đội lên làm giảm lợi nhu
ận.
1.3.2 Cường độ cạnh tranh giữa những đối thủ hiện tại
Cạnh tranh giữa những đối thủ hiện tại cũng giống như là ganh đua vị trí, tranh
giành thị phần, sử dụng những chiến thuật như cạnh tranh về giá, chiến tranh quảng
cáo, giới thiệu SP mới và tăng cường DV KH hoặc đưa ra các chương trình khuyến
mại. Cạnh tranh với những đối th
ủ hiện tại thường mất nhiều “năng lượng” hơn bởi
đó là những đối thủ giàu kinh nghiệm, thông minh và cầu thị, mỗi “bước đi” của họ
đều đã được tính toán kỹ càng. Vì thế, nếu không hiểu rõ đối thủ mà cạnh tranh theo
kiểu “chạy đua giá” thì việc thảm bại là tất yếu, bởi ngành NH là một ngành rất
nhạy cảm, mỗi một tính toán sai lầm sẽ gây hậ
u quả rất lớn.
1.3.3 Áp lực từ những SP thay thế
SP thay thế là SP có cùng chức năng như SP ngành. Thay thế cho kênh HĐ vốn có
thể kể đến việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ra thị trường. Thay thế cho kênh
Những tìm hiểu và nhận định của tác giả từ chương này đã tạo cơ sở
về mặt lý luận
cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và phát triển đề tài này ở chương 2 và
chương 3.
17
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Tên gọi : Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu
Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Bank (ACB)
Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh
Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Á Châu được Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) VN cấp giấy phép hoạt động số 0032/NH-GP ngày 24 tháng 04 năm 1993
và bắt đầu hoạt động vào ngày 04/06/1993 với thời hạn hoạt động 50 năm. Vốn điều
lệ ban đầu là 20 tỷ đồng VN. Từ đ
ó cho đến nay, ACB đã không ngừng mở rộng
quy mô vốn tự có của mình; đến ngày 31/12/2011, vốn điều lệ của ACB đã đạt
9.377 tỷ đồng. Ngày 20/11/2006 cổ phiếu của ACB đã chính thức lưu thông trên thị
trường CK VN (Sàn giao dịch Hà Nội), với tổng số lượng cổ phiếu lưu hành là 110
triệu cổ phiếu. Ngoài cổ đông trong nước, ACB còn có sự tham gia của các cổ đông
nước ngoài. Đó là Connaught Investors Ltd (Jardine Matheson Group); Dragon
Financial Holdings Ltd.Co; International Finance Campany (IFC) và Standard
Chartered Bank sở hữu 30% cổ phần. Đây là một bước nhảy vọt của ACB trong quá
trình phát triển và khẳng định vị thế của mình trong hệ thống NHTMCP VN.
Trong hơn 18 năm hoạt động, ACB đã từng bước khẳng định vị thế của mình và
luôn là một trong những NH dẫn đầu trong hệ thống NHTMCP của VN. Tốc độ
tăng tổng tài sản năm sau luôn cao hơn năm trước, đi
ều đó thể hiện sự phát triển
- Ban: Chiến lược, Đảm bảo chất lượng và Chính sách và Quản lý rủi ro TD.
- Phòng: Quản lý rủi ro, Đầu tư và Kế toán.
- Trung tâm: Công nghệ thông tin.
Ngoài ra, ACB còn có các Công ty trực thuộc (Công ty CK ACB – ACBS; Công ty
Quản lý nợ và khai thác tài sản NH Á Châu – ACBA và Công ty cho thuê tài chính
NH Á Châu - ACBL), Công ty liên kết (Công ty Cổ phần DV Bảo vệ NH Á Châu –
ACBD và Công ty Cổ phần Địa ốc ACB - ACBR) và Công ty liên doanh (Công ty
Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB - SJC).
19
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của ACB.
20
- Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) là cơ quan quyết định cao nhất của NH gồm tất
cả các cổ đông có quyền biểu quyết, họp ít nhất mỗi năm một lần. ĐHĐCĐ quyết
định những vấn đề được Luật pháp và Điều lệ NH quy định. ĐHĐCĐ thông qua các
báo cáo tài chính hàng năm của NH và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, bầ
u
miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), thành viên Ban kiểm
soát của NH.
- HĐQT do ĐHĐCĐ bầu ra, là cơ quan quản trị NH, có toàn quyền nhân dnah NH
để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của NH trừ những
vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ mà không được ủy quyền. HĐQT có nhiệm
vụ
quyết định chiến lược phát triển NH, xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh
doanh, xây dựng cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý NH, đưa ra các biện pháp, các
quyết định nhằm đạt được các mục tiêu do ĐHĐCĐ đề ra.
- Ban kiểm soát: do ĐHĐCĐ bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của
NH; giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán; hoạt động c
ủa hệ thống
kiểm tra kiểm toán nội bộ của NH; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo
- Về mạng lưới phân phối: tính đến 31/12/2011, ACB có 280 chi nhánh và phòng
giao dịch (CN-PGD) tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc:
+ Tại TP Hồ Chí Minh: 1 Sở
giao dịch, 30 CN và 92 PGD;
+ Tại khu vực phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hưng Yên, Bắc Ninh,
Quảng Ninh, Vĩnh Phúc…): 17 CN và 56 PGD;
+ Tại khu vực miền Trung (Thanh Hóa, Đà Nẵng, Daklak, Gia Lai, Khánh Hòa,
Ninh Thuận, Hội An, Huế, Nghệ An, Lâm Đồng…): 13 CN và 22 PGD;
+ Tại khu vực miền Tây (Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đồng Tháp,
An Giang, Kiên Giang và Cà Mau…): 10 CN, 16 PGD;
+ Tại khu vực miền Đông (Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Vũng Tàu…): 5 CN
và 18 PGD.
Ngoài ra, ACB còn có:
+ Trên 2.000 đại lý chấp nhận thanh toán thẻ của Trung tâm thẻ ACB đang hoạt
động.
+ 812 đại lý chi trả của Trung tâm chuyển tiền nhanh ACB-Western Union.
Tất cả các CN-PGD nối mạng với nhau, giao dịch tức thời, dùng chung cơ sở dữ
liệu tập trung trên cơ sở hệ thống công nghệ NH lõi là TCBS (The Complete
Banking Solution: Giải pháp NH toàn diện).
2.1.5 Hoạt động tổ chức tín dụng
22
Huy động vốn của ACB bằng phát hành các giấy tờ có giá hương trình Tiết kiệm
12+. Theo đó, khách hàng gửi tiền 12 tháng trở lên, tối thiểu là 100 triệu đồng, sẽ
được lĩnh lãi 12%/năm, nếu rút lãi hàng tháng hoặc 2 tháng một lần thì lãi suất lên
đến 10,7%/năm, nếu rút 3 tháng/lần thì lãi suất được hưởng 11%/năm và 6 tháng là
11,5%/năm. Tiếp đến là chương trình khuyến khích gửi lại, với ưu đãi là các khách
hàng đã lỡ rút ti
ền trong giai đoạn từ 21 – 25 mà gửi lại thì sẽ được giữ nguyên lãi
suất đến đáo hạn như trên sổ tiết kiệm, thay vì chỉ nhận được lãi suất không kỳ hạn,
bên cạnh chương trình nhận quà tặng ngay. Cấp tín dụng hộ kinh doanh cá nhân,
2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010
Lợi nhuận trước thuế/Vốn
CSH bình quân (ROE) (%)
36,7 31,8 28,9 -4.9 -2.9
Lợi nhuận trước thuế/TTS
bình quân (ROA) (%)
2,6 2,1 1,7 -0.5 -0.4
Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB năm 2009, 2010 và năm 2011.
- Về mặt lợi nhuận, năm 2011, ACB đạt 3.102 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, cao
hơn 264 tỷ đồng so với năm 2010 và các chỉ số sinh lời vẫn ở mức hợp lý. Cụ thể,
năm 2011, chỉ số ROA của ACB tiếp tục đạt xấp xỉ 2% và ROE đạt 28,9%. (xem
bảng 2.3). Tuy nhiên, các chỉ số này giảm nhẹ so vớ
i năm 2009 một phần là do vốn
chủ sở hữu tăng và quy mô tổng tài sản tăng nhanh hơn tăng về lợi nhuận.
- Về vốn NH, trong năm 2011, ACB đã hoàn thành tăng vốn điều lệ thêm 1.563 tỷ
đồng từ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu và phát hành cổ phiếu thưởng từ các
quỹ. Sau khi tăng vốn, ACB có tổng cộng 937.696.500 cổ phiếu đang lưu hành và
100% là cổ phiếu ph
ổ thông. Đến 31/12/2011, ACB có mức vốn điều lệ 9.377 tỷ
đồng, thuộc hàng lớn nhất NHTMCP VN.
- Về cổ tức, dựa trên kết quả kinh doanh khả quan năm 2011, ACB đã tạm ứng cổ
tức năm 2011 đợt 2 bằng tiền mặt 700đ/cổ phiếu từ nguồn lợi nhuận năm 2011.
- Một thành tựu nổi bật nhất mà ACB đã đạt được trong năm 2010 bên cạnh việc
hoàn thành các mục tiêu về quản lý, tăng trưởng và lợi nhuận, là ACB là NH đầu
tiên nhận được cùng lúc 5 danh hiệu uy tín: NH có DV thanh toán vượt trội năm
2010, NH vững mạnh nhất VN năm 2010, NH tốt nhất VN năm 2010, NH nội địa
tốt nhất VN năm 2010 và NH tốt nhất VN, lần lượt do 5 tạp chí tài chính NH uy tín
trên thế giới: The Asset, The Asian Banker, Global Finance, Asiamoney và
FinanceAsia trao tặng. Thị phần HĐ và CV của ACB đến ngày 31/12/2011 cũng đã
tăng lần lượt là 1,34% và 0,4% so với cuối nă
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Tăng trưởng
TD (%)
15,07 81,71 61,6 (1,77) 64,64 39,62
8,94 79,02 39,83
15,52 25,55 24,85 18,2 35,1 43,5
Tăng trưởng
HĐ vốn (%)
41,10 45,34 50 7,02 47,24 46,18
21,66 47,52 30,45
10,48 5,92 22,93 15,6 26,1 54
Nguồn: Báo cáo thường niên của EIB, STB, ACB, VCB và CTG năm 2009, 2010 và 2011. Bảng 2.4 cho thấy mức độ tăng trưởng TD và HĐ vốn của các NH qua các năm khá cao, thậm chí EIB đã đạt đến con số 81,71% mức tăng trưởng TD