Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập tổ chức kinh tế thế giới ( WTO ) - Pdf 11

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ
và trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nhất của xu thế này
chính là sự ra đời của các liên kết khu vực và quốc tế như : ASEAN, EU,
WTO ... mục tiêu là thúc đầy tự do hóa thương mại quốc tế, giảm dần và tiến đến
xóa bỏ hàng rào bảo hộ do các quốc gia đặt ra nhăm cản trở tụ do hóa thương
mại. Việt Nam cũng không năm ngoài xu thế đó, với việc ra nhập ASEAN, ký
kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, và gần đây nhất là Việt Nam
là thanh viên thứ 150 của tổ chức WTO. Nhưng minh chứng đó đã đánh dấu quá
trình hội nhập của Việt Nam vào nên kinh tế thế giới.
Có thể nói việc chính thức là thành viên của tổ chức WTO đen lại cho
Việt Nam cơ hội phát triển nhưng đi kèm với cơ hội là thách thức trước nền kinh
tế thế giới. Chúng ta muốn đưa đất nước phát triển dựa theo các cơ hội khi hội
nhập chung ta phai tìm hiểu và thấy rõ thách thức, tận dụng triệt để các cơ hội để
hạn chế và đẩy lùi thách thức.
Ngân hàng là một trong nhưng lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi
Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt
với sự cạnh tranh gay gắt hơn. Để giành thế chủ động trong tiến trình hội nhập
kinh tế thế giới, hệ thông ngân hàng Việt Nam cần phải tổ chức lại cơ cấu một
cách hợp lý và theo được các nước phát triển để trở thành hệ thống ngân hàng đa
dạng về hình thức, có khả năng cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả,
huy động tốt các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của
phát triển đất nước. thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng
cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong
xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.
1
Là một người thực tập ở ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải và
mong muốn đóng góp ý kiến của mình để ra sự phát triển bền vững của ngân
hàng chính vì vậy tôi xin chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam trong điều

tế thế giơi ( WTO) ” để thực hiện bào chuyên đề này
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo luận văn trang được trình bày như sau :
Chương 1 : khái luận chung về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thương
mại.
Chương 2 : Hiện trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Hàng Hải
Việt Nam.
Chương 3 : Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
TMCP Hàng Hải Việt Nam.
Phần kết luận.
3
Chương 1
Khái luận chung về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng
thương mại cổ phần.
1.1. Ngân hàng và ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm.
Như chúng ta vẫn biết ngân hàng là tổ chức tài chính quan trọng nhất của
nên kinh tế. Ngân hàng gồm rất nhiều loại tùy vào sự phát triển của nên kinh tế
quốc dân nói chung cũng như hệ thống ngân hàng – tài chính nói riêng, trong đó
chung ta không thể không nhắc đến ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương
mại chiếm tỷ trọng lớn nhất xét về : quy mô tài sản, thị phần và số lượng ngân
hàng.
Để chúng ta hiểu rõ về ngân hàng thương mại thì trước hết chúng ta cần
biết được một cách khái quát về ngân hàng :
Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền
kinh tế. Hàng triệu cá nhân hộ, gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng. Ngân hàng đóng vai trò người thủ quỹ cho
toàn xã hội. Thu nhập từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ
gia đình. Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với doanh nghiệp, cá nhân,

ưu thế của chứng chỉ tiền gửi và phát chứng chỉ tiền gửi chỉ là tiền gửi không để
cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh
toán và phá sản. Trước tình hình đó, nhiều nhà buôn góp vốn lập ngân hàng, với
chức năng chủ yếu là tài trợ ngắn hạn và thánh toán hộ, gắn liền với quá trình
luân chuyển của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng này được gọi là NHTM. Tại
Việt Nam trước đây, theo pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty
tài chính ngày 24/05/1990, NHTM được hiểu là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
5
nhiệm hoàn trả và sử dụng vốn số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ
chiết khấu và tạo phương tiện thanh toán. Tại điều 20 khoản 2 và 7 luật các
TCTD đã được Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X ký
họp thứ hai thong qua ngày 12/12/1997 định nghĩa như sau : “ NHTM là một tổ
chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ
và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gưi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam
a) Tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng còn có nghĩa là nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ không
nhưn mạng lại lợi nhuận mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của chính bản
thân ngân hàng. Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng luôn mang trong nó rủi ro và có
them phân mạo hiểm, đe dọa sự toàn vẹn của khoản vốn. Để nâng cao hiệu quả
các ngân hàng bên cạnh việc phải xây dựng các hình thức tín dụng cho phù hợp
với nhu cầu và thị yếu của khách hàng. Theo giáo trình các nghiệp vụ tín dụng
bao gồm các nghiệp vụ sau :
Thứ nhất, cho vay thương mại còn gọi là chiết khấu thương phiếu: cho
vay đối với người bán ( người bán chuyển các khoản thu ngân hàng để lấy tiền
trước). Ngân hàng có thể gữi thương phiếu đến hạn đòi tiền người mua ( hay
người phải trả )

- Cho vay gián tiếp : là hình thức cho vay thòn qua các tổ chức trung gian.
( tổ, hội, nhóm, …) cho vay qua các tổ chức trung gian sẽ làm giảm bớt rủi ro,
chi phí của ngân hàng nhưng nó cũng thể hiện một số các khuyết điểm như là
khi ngân hàng không kiểm soát chặt chẽ thì tổ chức trung gian này có thể cho
vay lại phần tín dụng mình đã đi vay của ngân hàng
7
Thứ ba, cho thuê tài sản ( thuê – mua ). Cho thuê gồm hai hình thức chủ
yếu : cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn, người đ
thuê không có dự định mua lại tài sản đó để sử dụng lâu dài và cho thuê tài
chính đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quên mua lại
tài sản khi hết hợp đồng thuê. Đây là hoạt động thuê chủ yếu của NHTM.
Thứ tư, bảo lãnh : là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh
về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh của ngân
hàng có nghĩa là ngân hàng là bên bảo lãnh, khách hàng của ngân hàng là người
được bảo lãnh và người được hưởng bảo lãnh với bên thứ ba. Bảo lãnh gồm cái
loại sau :
Bảo lãnh đảm bảo người dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước
Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vôn vay
Bảo lãnh đảm bảo thanh toán
b) Huy động vốn
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức cho vay, huy động vốn, đâu
tư và cung cáp các dịch vụ khác. Huy động vón là hoạt động tạo nguồn vốn cho
NHTM và đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân
hàng
Vốn chủ sở hữu : Để bắt đầu hoạt động chủ ngân hàng phải có một lượng
vốn nhất định. Đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn hinh thành và nghiệp vụ hình thành

Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn : Do hoạt động trong lĩnh vực tài
chính các ngân hàng rất nhiều chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá
nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài
9
chính họ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy
thác phát hành … thậm trí, các ngân hàng đóng vai trò là người được ủy thác.
Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán : Nhiều ngân hàng đang
phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng bắt đầu bán
dịch vụ môi giới chưng khoán.
1.2. Ngành ngân hàng Thương mại
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Theo giáo trình Ngân hàng thương mại trường Đại học Kinh tế Quốc dân,
Lích sự hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của
nên sản xuất hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự
phát triển của ngân hàng; đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng
trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của thợ
vàng. Việc lưu hành nhưng đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng lãnh thổ
kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc tiền và đổi tiền tại
cửa khẩu hoặc trung tâm thương mại . người làm nghề đúc, đổi tiền, thực hiện
kinh doanh tiền tệ bằng cách dổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Các chủ của
hàng vàng bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền. Nhưng ngân hàng loại
này được gọi là ngân hàng của những thợ vàng.
Những người kinh doanh tiền tệ đầu tiên đã dung vốn tự có để cho vay,
nhưng điều đó không đã nhanh chóng được thay đổi. Từ hoạt động thực tiễn, các
chủ ngân hàng nhân thấy thường xuyên cí người gửi tiền vào và có người lấy
tiền ra, song tất cả người gửi tiền không rút tiền cùng một lúc nên đã tạo số dư
thương xuyên ở ngân hàng. Do tính chất vô danh của tiền, chủ ngân hàng có thể
sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay, Hoạt động cho vay tạo
nên lợi nhuận lớn cho ngân hàng, do vậy các ngân hàng dều tìm cách mở rộng

11
nhau được đưa ra nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh các
hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng các hình thức vay như
vay ngân hàng trung ương, vay các ngân hàng khác. Công nghệ ngân hàng.
Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, đẩy nhanh tốc độ, tính
thuận tiện, an toàn trong thanh toán.
Lịch sử phát triển của các ngân hàng cũng đã chứng kiến nhiều khủng
hoảng và hoảng loạn ngân hàng trong mỗi quốc gia, khu vực và thế giới, gây tổn
thất rất lớn cho nên kinh tế và mất ổn định chính trị. Có thể nói, các vụ sụp đổ
ngân hàng cũng là một khẩu tất yếu trong tiến trình phát triển của ngân hàng.
Các nhà quản lí đã và đang không ngừng cái tiến chính sách quản lí để hạn chế
sự sụp đổ và mở đường cho sự phát triển của khu vực ngân hàng.
1.2.2. Cấu trúc ngành hàng hiện nay tại Việt Nam và sự thay đổi sau ra
nhập WTO
Cấu trúc ngành ngân hàng ở nước ta hiện nay là:
Khi bước vào hội nhập tổ chức kinh tế thế giới ( WTO) Chính phủ và
NHNN đã có đinh hướng thay đổi cấu trúc ngành ngân hàng. Không để tồn tại 2
cấp như các năm trước nưa. Thay vào đó sự xuất hiện khối NHTM cổ phần mặc
dù xuất phát điểm là quy mô nhỏ, thi phần khiêm tốn, khách hàng thì từ lâu chỉ
biết đên những ngân hàng TMQD có thâm niên trên thị trường. Vì vậy việc thu
hút khách hàng không dễ dàng. Việc xây dựng uy tín, tên tuổi của các ngân hàng
thương mại cổ phần ban đầu rất khó khăn. Thêm nữa, họ chịu sự cạnh tranh
không cân sức về vốn với các ngân hàng có thâm niên. Và trong bối cảnh hôi
nhập buộc hoi phải đưa công nghệ ngân hàng hiện đại vào để phát triển sản
phẩm dịch vụ vỗn dĩ quá nghèo nàn .
Hiện này, các ngân hàng TMQD đã mất gần 40% thị phần vào tay các
ngân hàng đổi thủ là ngân hàng TMCP và ngân hàng ngoại. 60% thi phần mà các
ngân hàng TMQD hiên nẵm giữ cũng khó toàn vẹn trước sự lớn mạnh của các
ngân hàng TMCP năng động và lớn mạnh từng ngày.
12

sách cũng được thể hiện sự khuyến khích của chính phủ nhằm phát triển NHTM
trong nước bắt kịp với sự phát triển với các ngân hàng thế giới. Một sự thay đổi
chính tại sự chuyên nghiệp của bộ máy để có thế đáp ứng luôn vốn đầu tư từ
nước ngoài.
1.3. Lý thuyết về cạnh tranh
1.3.1. Các khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà
ở đó trong các điều kiện về thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất ra các
sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các dòi hỏi của thị trường, đồng
thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế. Một doanh nghiệp được
xem là có sức mạnh khi nó có thể thường xuyên đưa ra các sản phẩm thay thế,
mà các sản phẩm này có mức giá thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại, hoặc
bằng cách cung cấp các sản phẩm tượng tự với các đặc tính về chất lượng hay
dịch vụ ngang bằng hay tốt hơn.
Lợi thế cạnh tranh là nhưng gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt
so với các đôi thủ cạnh tranh. Đó là nhưng thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai
thác tốt hơn những đổi thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp
được thể hiện ở hai khía cạnh sau :
- Chi phí : Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể
được. Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn
trong quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Chi phí thấp mạng lại cho
doanh nghiệp tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành bất chấp sự
hiện diện của các lực lượng cạnh tranh mạnh mẽ.
- Sự khác biệt hóa : Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay
quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường. Những
khác biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như : sự điển hình về thiết kế
14
hay danh tiếng sản phẩm, côn nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách
hàng, mạng lưới bán hàng.
1.3.2. Pháp luật về cạnh tranh trong ngân hàng ở Việt Nam

dẫn đến việc gây hạn chế cạnh tranh, đặc biệt khi mở cửa thị trường, hội nhập
kinh tế quốc tế
- Bảo vệ quyên kinh doanh chính đáng của các doanh nghiệp, chống lại
các hành vi cạnh tranh không lânh mạnh
- Tạo lập và duy trì một môi trường kinh doanh bình đẳng
Tại Luật Cạnh tranh có các điểm chú ý sau :
Tại điều 8 Luận Cạnh tranh đưa ra một danh sách giới hạn trong 8 thỏa
thuận được coi là hạn chế cạnh tranh. Hầu hết các thỏa thuận nầy chỉ bị coi là
hạn chế cạnh tranh khi nó vượt qua một mức nhạy cảm nhất định vì các thỏa
thuận này chỉ bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp từ 30%
trở lên trên thị trường liên quan. Giông như trong hệ thống pháp luật châu Âu,
theo quy định cảu Luật Cạnh tranh Việt Nam, chỏ có các thỏa thuận mới có thẻ
được miễn trừ khỏi các hành vi bị cấm. trừ trường hợp lạm dụng vị trí thỗng lĩnh
thị trường. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được miễn trừ khỏi các hành vi bị cấm
nếu đáp ứng ha điều kiện :
*) Thoản thuận đó “ nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng”,
**) Thỏa thuận đó thuộc một trong 6 đóng góp thúc đẩy nên kinh tế quy định tại
điều 10 của Luật Cạnh tranh
Các hành vi lạm dụng vị trĩ thỗng lĩnh thị trường bị cấm được Luật Cạnh
tranh giới hạn trong 6 hanh vi ( Điều 13): hành vi lạm dụng vị trí thóng lĩnh thị
trường bị cấm đầu tiên là hành vi “bán hàng hóa, cung ưng dịch vụ dưới giá
thành sản xuất nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh”. Một cách truyền thống, các
hành vi cản trở việc xâm nhập thị trường, áp đặt giá bán lại tối thiểu và hành vi
16
phân biệt đối xử trong giao dịch thương mại tao bất bình đẳng trong cạnh tranh
đều thuộc nhóm các hành vi lạm dụng vị trí thỗng lĩnh thị trường bị cấm. Điều
đặc biệt nhất ở đây là quy định vè việc “áp đặt giá mua, giá bán bất hợp lý”
( điều 13 khoản 2).
Như ta thấy, Điều 18 Luật Cạnh tranh cấm các ngân hàng tập trung kih tế
nếu các ngân hàng đó có thị phần kết hợp từ 50% trở lên trên thị trường liên

tương lai. Ngoai ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh thúc đẩy ngân hàng
phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ
cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.
* Khách hàng
Một trong những đặc điểm quan trong của ngành ngân hàng là tất cả các cá
nhân, tổ chức kinh doanh sản xuất hay tiêu dung, thậm chí là các ngân hàng khác
cũng đều có thể vừa là người mưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, vừa là người
bán sản phẩm dịch vụ cho ngân hàng. Những người bán sản phẩm thông qua các
hình thức tiền gửi, lập tài khoản giao dịch hay cho vay đều co mong muốn là
nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những người mua sản phẩm dịch
vụ của ngân hàng lại muốn mình chi trả một khoản chi phí vay vốn nhỏ hơn thực
tế. Như vậy, Ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mẫu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi
nhuận có hiểu quả và giữ được chân khách hàng cũng như có được nguồn vốn
thu hút hiệu quả rẻ nhất có thể.
* Sản phẩm thay thế
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các
NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền
thống vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho
khách hàng nhưng sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản
phẩm có cơ hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều
này tất yếu sẽ tác động làm giảm bớt đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy
18
giảm thị phần. Cạnh tranh, thi hệ thông NHTM se mạnh hơn và có sức đàn hồi
tốt hơn sau các cú sốc của nền kinh tế.
* Năng lực chủ quan của ngân hàng
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đên năng lực cạnh tranh của các
NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại hệ thống NHTM cũng
ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng này, chúng bao gồm :
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng
- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM

Trong nên kinh tế hiện đại ngày nãy, khi mà khoa học công nghệ phát triển
như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú và đa dạng, tao thuận lợi cho
sự lựa chọn của người tiêu dung và đặt nhà kinh doanh trước áp lực cạnh tranh
ngày cành gay gắt. Vì thế, việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàm ý phải thỏa
mãn cao nhất nhưng yêu cầu dòi hỏi từ phía khách hàng. Một sản phẩm ngân
hàng có chất lượng phải đáp ứng được tốt nhất, nhiều nhất nhu cầu mong muốn
của khách hàng, đem lại cho khách hàng một tập hợp tiện ích và lợi ích. Do vậy,
ki đánh giá một sản phẩm ngân hàng có chất lượng, khách hàng thường dựa vào
các tiêu chi sau :
- Tốc độ xử lý nhanh;
- Hiệu quả đem lại cho khách hàng lớn
- Mức độ tham gia của khách hàng vào quá trình cung cấp sản phẩm it và
thuận tiện
- Thái độ phục vụ tốt
- Trình độ công nghệ hiện đại
Thực tế, trên thị trường ngày càng có nhiều ngân hàng cung ứng sản phẩm
dịch vụ cho khách hàng. Vì vậy khách hàng có sự so sánh, đánh giá và quyết
định lựa chọn ngân hàng có sản phẩm chất lượng kém sang ngân hàng có sản
phẩm có chất lượng tốt
20
Đối với NHTM. Để cạnh tranh bằng chất lượng phải xây dựng thật tốt cơ
sở hạ tầng hiện đại. nguồn nhân lực tốt. Và có sự kết hợp chiến lược thi trường,
chiến lược kinh doanh phù hợp.
Cơ sở hạ tầng hiện đại : bao gồm cả việc hiện đại hóa công nghệ ngân
hàng và các phương thức kỹ năng nghiệp vụ ngân hàng tiên tiến nhằm phục vụ
cjo khách hàng kịp thời, nhanh chóng à chinh xác nhất. Chỉ trên cơ sở kỹ thuật
công nghệ hiện đại mới cho phép tạo ra những bước phát triển đột phá và nổi
bất trong sản phẩm dịch vụ do ngân hàng tạo ra. Công nghệ ngân hàng hiện đại
sẽ làm giảm chi phí.
Nguồn nhân lực: Ngân hàng thuộc nganh kinh doanh dịch vụ, vì vậy, có

NHTM chú trọng đến thu nhập thì phải đưa ra mức lãi suất và phí sao cho đáp
ứng được mục tiêu tăng thu nhập và điều này có thể dẫn đến làm cho ngân hàng
sẽ bị mất khách hàng, giảm thị phần trong kinh doanh, bởi suy cho cùng thì ngân
hàng luôn quan tâm đến mục tiêu tối thượng trong kinh doanh trên thương
trường làm tối đa hóa lợi nhuận. Điều này có nghĩa là cạnh tranh bằng giá cả
đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất vì nó làm giảm bớt lợi nhuận của
các NHTM.
* Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh doanh.
Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú
ý và thu hút khách hàng. Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính
xác và kịp thời nhu cầu của khách hàng, qua đó, ngân hàng chủ động trong việc
cải tiến, hoàn thiện sản phẩm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp
sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Để cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
NHTM phải thực hiện tốt chiến lược Marketing kết hợp với việc tổ chức mạng
lưới.
22
Tổ chức mạng lưới
Để tạo sự thuận tiện cho khách hàng ở khắp mọi nơi, NHTM cần có một tổ
chức mạng lưới rộng khắp ở các vùng kinh tế chiến lược trong nước, các vị trí
thuận lợi ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc mở rộng mạng lưới là cần thiết nhưng
cần chọn nơi hội đủ điều kiện có lợi cho hệ thống, nếu không sẽ gây trở ngại về
vốn cũng như nhân lực, tăng chi phí và giảm lợi nhuận cho ngân hàng.
Chiến lược Marketing
Để có thể đưa sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đến khách hàng một cách tốt
nhất, NHTM phải xây dựng tốt chiên lược Marketing bao gồm:
- Quảng bá thương hiệu;
- Tiếp thị và xúc tiến thương mại;
- Phát triển công nghệ và nghiệp vụ tiên tiến;

Để đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng cần
căn cứ vào các tiêu chí sau:.
* Năng lực tài chính.
Năng lực tài chính của một ngân hàng thường biểu hiện qua các mặt:
- Khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu
- Khả năng sinh lời
- Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro
* Năng lực hoạt động.
Năng lực hoạt động của NHTM bao gồm:
- Khả năng huy động vốn
- Khả năng cho vay và đầu tư
- Khả năng phát triển sản phẩm, dịch vụ:
24
+ Các phương thức gửi tiền khác nhau về kỳ hạn, lãi suất, sự thuận
tiện…
+ Các nhu cầu vay vốn khác nhau về kỳ hạn vay, trả, về loại đồng tiền
(nội tệ, ngoại tệ), về cách giải ngân, cách trả lãi, cách sử dụng vốn vay…
+ Cách thanh toán chi phí tiêu dùng, thanh toán hàng hóa dịch vụ trong
nước, ra nước ngoài, bằng tiền mặt, phi tiền mặt…
+ Quản lý ngân quỹ, tài sản, tư vấn, môi giới, bảo hiểm, đầu tư chứng
khoán, mua bán ngoại tệ…
* Năng lực quản trị, điều hành.
Đánh giá năng lực quản trị, điều hành của NHTM thông qua các tiêu chí
sau:
- Mô hình một ngân hàng hiện đại;
- Cơ cấu, trình độ, thực hiện của bộ máy lãnh đạo, của lực lượng lao động
chủ yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao;
- Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trước diễn biến của thị trường;
- Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại (quản trị tài sản nợ, tài sản có,
quản trị dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status