BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
ĐẶNG QUANG ĐỨC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS, TS Nguyễn Như Tiến Hà Nội - 2007
LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sỹ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong quá trình hội nhập”, đã được hoàn thành dưới
sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Như Tiến, Bộ môn Vận tải và Bảo hiểm, Khoa
Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Nguyễn Như Tiến - người đã hướng dẫn và chỉ
bảo tận tình để có được những kết quả trong luận văn này.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh
4
1.1.1
Khái niệm năng lực cạnh tranh
4
1.1.2
Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia
7
1.1.3
Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
8
1.2
Lý thuyết về năng lực cạnh tranh
9
1.2.1
Mối tương quan giữa năng lực cạnh tranh quốc gia và DN
9
1.2.2
Các yếu tố năng lực cạnh tranh nội tại của DN
12
1.2.3
Các yếu tố cạnh tranh thuộc môi trường bên ngoài DN
14
1.2.4
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
17
1.3
Năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN
19
1.3.1
2.2.2
Một số điểm tồn tại trong hoạt động kinh doanh của các
41 DNBH phi nhân thọ VN
2.3
Thực trạng năng lực cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ
VN
44
2.3.1
Năng lực tài chính
44
2.3.2
Khả năng quản lý bảo hiểm
45
2.3.3
Mức độ tín nhiệm của các DNBH phi nhân thọ
46
2.3.4
Dịch vụ phục vụ khách hàng
47
2.3.5
Khả năng định phí bảo hiểm
47
2.3.6
Ứng dụng công nghệ
50
2.3.7
Khả năng cạnh tranh giành hợp đồng bảo hiểm của các
Các cam kết song phương và đa phương trong lĩnh vực bảo
hiểm
66
3.1.2
Định hướng chung đối với thị trường tài chính Việt Nam
trong quá trình hội nhập
68
3.1.3
Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đối với thị trường bảo hiểm
69
3.2
Những yêu cầu đặt ra cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của các DNBH phi nhân thọ Việt Nam trong quá trình hội
69 nhập
3.2.1
Yêu cầu về khả năng tài chính
69
3.2.2
Yêu cầu về năng lực kinh doanh
70
3.2.3
Yêu cầu về công nghệ quản lý kinh doanh bảo hiểm
70
3.2.4
Yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực
71
3.2.5
31
Bảng 2.5
Số tiền bồi thường BH phi nhân thọ
37
Bảng 2.6
Tổng dự phòng nghiệp vụ BH phi nhân thọ
37
Bảng 2.7
Bồi thường, trả tiền BH và dự phòng nghiệp vụ năm 2006
39
Bảng 2.8
Đầu tư của các DNBH phi nhân thọ năm 2006
40
Bảng 2.9
Năng lực tài chính các DNBH phi nhân thọ VN năm 2005-
2006
44
Bảng 2.10
So sánh bồi thường bảo hiểm phi nhân thọ
49
Bảng 3.1
Vốn thực có của thị trường, yêu cầu về vốn tối thiểu và vốn
phát triển
83
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1
Thị phần doanh thu phí của từng doanh nghiệp
32
Doanh nghiệp
5.
DNBH
Doanh nghiệp bảo hiểm
6.
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
7.
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
8.
TTBH
Thị trường bảo hiểm
9.
TTCK
Thị trường chứng khoán
10.
VN
Việt Nam
11.
WEF
Diễn đàn Kinh tế thế giới
12.
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
1
2
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ VN, trong điều kiện
VN là thành viên chính thức của WTO.
3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN trong
xu thế hội nhập.
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các DNBH phi nhân thọ VN trong quá trình hội nhập.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh.
- Thực trạng năng lực cạnh tranh của DNBH phi nhân thọ VN trong xu thế
hội nhập.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
DNBH phi nhân thọ VN trong quá trình hội nhập.
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong nội dung của luận văn này có sự kế
thừa, phát triển và đóng góp một phần nhỏ vào nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp, các DNBH nói chung và DNBH phi nhân thọ VN nói
riêng.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các DNBH phi nhân thọ
VN.
- Phạm vi nghiên cứu: Các DNBH phi nhân thọ VN trong điều kiện Hội
nhập.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đề tài sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp, lô-gíc, lịch sử và phương pháp chuyên gia.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần lời cám ơn, lời cam đoan, chữ viết tắt, mục lục, mở đầu, kết
nhưng những người khác nhau lại thường hiểu rất khác nhau về khái niệm này.
Hơn nữa, thường có sự nhầm lẫn về bản chất của khả năng cạnh tranh.
Krugman nêu ra những các trường hợp hiểu bản chất khác nhau về khả năng
cạnh tranh ở cấp quốc gia, dẫn đến những hành động khác nhau: Thứ nhất, các
Chính phủ có thể viện đến lý do “nâng cao khả năng cạnh tranh” của đất nước để
sử dụng ngân sách cho những “chi tiêu vô bổ”, chẳng hạn như trợ cấp hàng xuất
khẩu hay phá giá đồng tiền; Thứ hai, quan niệm về khả năng cạnh tranh quốc gia,
có thể dẫn đến việc tăng cường hàng rào bảo hộ và làm phát sinh các tranh chấp
thương mại; Thứ ba, quan niệm về khả năng cạnh tranh quốc gia, có thể dễ dẫn
đến việc Chính phủ thực hiện những chính sách công can thiệp sâu vào thị trường,
bóp méo quan hệ thị trường, làm nảy sinh những vấn đề vĩ mô cần giải quyết.[25] 5
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ khả năng cạnh tranh và việc sử
dụng cũng rất khác nhau. Khả năng cạnh tranh có thể được sử dụng khi nói về các
doanh nghiệp, các ngành, hay cả quốc gia. Khả năng cạnh tranh quốc gia thường
được phân tích theo quan điểm tổng thể, đặt trọng tâm vào môi trường kinh tế vĩ
mô và thể hiện vai trò của Chính phủ, như cách tiếp cận của Diễn đàn Kinh tế thế
giới (WEF). Bên cạnh đó cũng có quan điểm phân tích khả năng cạnh tranh quốc
gia, trên cơ sở lợi thế cạnh tranh của các ngành.
Quan điểm này thể hiện rõ trong các công trình của Michael Porter (1980,
1990). M.Porter cho rằng: “các doanh nghiệp là những chủ thể cạnh tranh trên thị
trường thế giới, chính vì vậy nói về lợi thế cạnh tranh quốc gia là nói về những
đặc trưng của quốc gia, với tư cách là môi trường hoạt động cho phép các doanh
nghiệp của quốc gia đó, có thể thành công trên thị trường thế giới”.[2]
Trong khi đó, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và ngành thường được
phân tích theo ba quan điểm chính: Thứ nhất, phân tích theo quan điểm quản trị
chiến lược, là việc nhìn nhận những ưu thế về cấu trúc ngành/doanh nghiệp. Quan
điểm này cũng đòi hỏi phải tính tới các nguồn lực có tính “riêng biệt”, cũng như
người cùng tham gia vào một công việc nào đó trong hoạt động kinh doanh. Hoặc
cụ thể hơn, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường,
nhằm giành ưu thế trên cùng một loại tài nguyên, sản phẩm hoặc cùng một loại
khách hàng về phía mình.
Cạnh tranh là một đặc tính cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của
kinh tế thị trường. Sẽ không có kinh tế thị trường vận hành tuân thủ theo những
quy luật khách quan, nếu không có quy luật cạnh tranh.
Tác giả Feurer, R. và K. Chaharbaghi đã đưa ra khái niệm về khả năng cạnh
tranh: Khả năng cạnh tranh mang tính tương đối chứ không tuyệt đối. Nó phụ
thuộc vào các giá trị của người tiêu dùng và các cổ đông; sức mạnh tài chính,
nhân tố quyết định khả năng hành động và phản ứng lại trong một môi trường
cạnh tranh; tiềm năng của con người và công nghệ trong việc thực hiện những
thay đổi mang tính chiến lược cần thiết. Khả năng cạnh tranh chủ có thể duy trì 7
được, nếu sự cân đối cần thiết được duy trì giữa những nhân tố này, là những
nhân tố có thể mâu thuẫn nhau về bản chất. [26]
Buckley, P.J. và một số chuyên gia kinh tế đưa ra định nghĩa: Khả năng
cạnh tranh bao gồm cả tính hiệu quả (đạt được các mục tiêu ở mức chi phí thấp
nhất có thể) và tính hiệu lực (có mục tiêu đúng đắn). Khả năng cạnh tranh bao
gồm cả mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu đó.[24]
Uỷ ban chính sách về khả năng cạnh tranh Hoa kỳ: “Khả năng sản xuất sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng được sự kiểm tra của thị trường quốc tế, trong khi người
dân có được mức sống ngày càng tăng và bền vững trong dài hạn”.[20]
1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh quốc gia
Viện phát triển quản lý, Thuỵ sỹ (IMD), là một trong hai tổ chức hàng đầu
thế giới về đánh giá khả năng cạnh tranh, là đồng tác giả của báo cáo đầu tiên về
khả năng cạnh tranh toàn cầu, cùng với WEF. Hiện có hai định nghĩa khác nhau
về khả năng cạnh tranh được IMD sử dụng:
các đối thủ cạnh tranh trong việc giành được thị phần cung cấp sản phẩm một
cách lâu dài và có lợi nhuận.
Theo Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản
lý Kinh tế Trung ương đưa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp: là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường
các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.[3]
Uỷ ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế: Khả năng cạnh tranh của
ngành/doanh nghiệp được định nghĩa là khả năng bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận
và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. [19]
1.1.3.2. Xem xét dưới góc độ hội nhập
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hoà của các yếu tố khả năng
đáp ứng nhu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng sản phẩm trong một
khoảng thời gian nào đó, khả năng duy trì và mở rộng thị phần trên thị trường, để
đem lại mức lợi nhuận cao trên cơ sở tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành, để đảm
bảo sự phát triển ổn định và bền vững của doanh nghiệp.
CIEM đưa ra các định nghĩa: 9
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, được đo bằng khả năng duy trì và
mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh
trong nước và ngoài nước.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản
phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.[20]
Từ những định nghĩa, khái niệm, các quan điểm khác nhau có thể rút ra kết
luận: Trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng, thì năng lực cạnh
tranh quốc gia là sự thể hiện khả năng tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế,
trên cơ sở tăng năng suất và hiệu quả bền vững dẫn đến cải thiện mức sống của
người dân.
1.2. Lý thuyết về năng lực cạnh tranh
độ phát triển của hệ thống tài chính Những chỉ số đánh giá thị trường tài chính-
tiền tệ, do các công ty tư vấn tài chính quốc tế đưa ra mới đảm bảo tính khách
quan và có giá trị trên thị trường tài chính quốc tế. Hệ thống tài chính-tiền tệ càng
hiện đại, trình độ quản lý rủi ro tốt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính-tiền tệ
của doanh nghiệp và người dân thuận lợi sẽ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát
triển.
1.2.1.3. Công nghệ
Trình độ khoa học và công nghệ quyết định rất lớn đến năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp, cũng như của quốc gia. Các yếu tố để đánh giá trình độ khoa
học và công nghệ gồm: một nước hay doanh nghiệp sở hữu bao nhiêu công nghệ
hàng đầu thế giới, các dòng sản phẩm đứng đầu thế giới về công nghệ, trình độ
phát triển của thị trường công nghệ, tỷ lệ đầu tư của ngân sách Nhà nước và đầu
tư từ doanh nghiệp cho nghiên cứu và phát triển, số lượng bằng phát minh, sáng
chế, hoạt động chuyển giao công nghệ, khả năng hấp thụ công nghệ mới từ nước
ngoài.
Trong điều kiện phát triển rất nhanh của khoa học và công nghệ, tiêu chí về
trình độ khoa học và công nghệ được xem là một trong những tiêu chí quan trọng
nhất, để đánh giá về năng lực cạnh tranh ở tất cả cấp độ từ quốc gia, doanh nghiệp
và các sản phẩm, dịch vụ. 11
1.2.1.4. Kết cấu hạ tầng
Tiêu chí kết cấu hạ tầng gồm: hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ,
đường sắt, đường hàng không, hệ thống bến cảng, sân bay, hệ thống kho hàng,
bến bãi, hệ thống thông tin viễn thông, tốc độ của đường truyền internet, hệ thống
tài chính-tiền tệ Đối với những nước phát triển hệ thống tài chính-tiền tệ được
coi là cơ sở hạ tầng quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo sự
phát triển ổn định, là cơ sở để các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật khác phát triển. Khả
năng cung ứng vốn đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các doanh nghiệp và là
thu nhập doanh nghiệp, hoạt động trốn lậu thuế cũng là những nhân tố quan
trọng cần được coi trọng.
1.2.1.8. Thể chế chính trị
Tiêu chí đánh giá thể chế chính trị gồm: hệ thống luật, khả năng thực thi
luật, sự phù hợp của hệ thống luật với cơ chế thị trường, mức độ cạnh tranh và
độc quyền, sự khách quan và hiệu lực hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp
luật, hiệu lực của các phán quyết trọng tài và toà án liên quan đến các hoạt động
thương mại…
1.2.2. Các yếu tố năng lực cạnh tranh nội tại của doanh nghiệp
1.2.2.1. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở phân tích thị trường và lợi thế so sánh của
mình, để đưa ra một chiến lược định hướng vào một mảng thị trường nhất định và
tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp có khả năng có khả năng
cạnh tranh. Để xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả, đòi hỏi doanh
nghiệp phải phân tích đúng đắn nhu cầu thị trường, phân tích chính xác lợi thế
của đối thủ cạnh tranh, để phân đoạn thị trường và từ đó xác định thị phần cho
mình. Nếu chiến lược kinh doanh không đúng đắn, chắc chắn doanh nghiệp sẽ
thất bại trong cạnh tranh.
1.2.2.2. Trình độ khoa học công nghệ
Điều này thể hiện khả năng tiếp cận khoa học và công nghệ mới của doanh
nghiệp và coi đó như là một yếu tố quan trọng, để nâng cao khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp. Bởi vì, trình độ công nghệ quyết định cấp độ của sản phẩm,
chất lượng và năng suất lao động của doanh nghiệp. Để nâng cao trình độ khoa 13
học công nghệ, đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, đầu
tư cho chi phí nghiên cứu và phát triển R&D để phát minh ra công nghệ mới, tạo
ra sản phẩm có kiểu dáng, chất lượng và tính năng vượt trội.
Để nâng cao trình độ khoa học và công nghệ, ngoài việc đầu tư cho công
Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp là nền tảng yếu tố tinh thần, nhằm
xây dựng tính kỷ luật, đoàn kết trong đội ngũ lao động của doanh nghiệp, phát
huy yếu tố sáng tạo, tinh thần trách nhiệm với doanh nghiệp của người lao động.
Đây là yếu tốt rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong môi
trường cạnh tranh năng động. Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp còn bao gồm
các yếu tố tính cách, thái độ ứng xử, biện pháp cạnh tranh lành mạnh, đúng pháp
luật của doanh nghiệp.
1.2.3. Các yếu tố cạnh tranh thuộc môi trƣờng bên ngoài doanh nghiệp
1.2.3.1. Chính sách
Chính phủ là cơ quan ban hành chính sách và thực thi chính sách nhằm tạo
môi trường cạnh tranh thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp. Chính sách
của Chính phủ phải tạo ra môi trường vĩ mô ổn định, thông thoáng, tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp hoạt động bình đẳng và yên tâm đầu tư kinh doanh. Chính
phủ cần thực thi các chính sách:
Thứ nhất, Chính phủ xây dựng khuôn khổ cạnh tranh lành mạnh, thông qua
việc xây dựng và thực thi hệ thống luật pháp cạnh tranh và bảo đảm cạnh tranh
bình đẳng. Trong hệ thống luật cạnh tranh cần quy định cụ thể về hành vi, cách
ứng xử kinh doanh của các doanh nghiệp, quy định văn hoá cạnh tranh, bảo đảm
sự bình đẳng và công nhận lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp trong cạnh
tranh. Hệ thống luật và chính sách cạnh tranh của quốc gia, không chỉ là cơ sở
quan trọng tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp, mà còn
là một yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, Chính phủ áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo sự ổn định
kinh tế - xã hội, ổn định về chính trị. Đây là yếu tố quan trọng nhất tạo ra lòng tin
cho doanh nghiệp yên tâm đầu tư sản xuất và kinh doanh. Trong chiến lược ổn
định kinh tế - xã hội, thì ổn định hệ thống tài chính - tiền tệ là quan trọng nhất, 15
trong đó các yếu tố hàng đầu cần phải có sự kiểm soát, điều hành vĩ mô đối với
16
các doanh nghiệp phải chủ động xây dựng chiến lược kinh doanh của mình, trong
đó thị trường phải xác định là thị trường toàn cầu. Mức độ mở cửa của nền kinh tế
cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng cạnh tranh của quốc gia và
doanh nghiệp.
1.2.3.4. Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng nền kinh tế
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng của nền kinh tế một cách đồng bộ, là điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhanh chóng tham gia thị trường, nâng cao khả
năng cạnh tranh trong môi trường kinh tế toàn cầu hoá. Cơ sở hạ tầng đồng bộ đòi
hỏi hệ thống viễn thông liên lạc phải có chất lượng cao, hệ thống internet có băng
thông rộng, mạng không dây kết hợp với mạng có dây, hệ thống đường bộ, đường
sắt, đường thuỷ, đường hàng không kết nối tạo thành huyết mạch cho nền kinh
tế. Đồng thời, kết hợp với dịch vụ logistic để cung ứng các dịch vụ vận chuyển
hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của nền kinh tế.
1.2.3.5. Thể chế chính trị
Chất lượng của hệ thống thể chế chính trị phụ thuộc vào chất lượng thể chế
pháp lý, hệ thống các đạo luật, hiệu lực thi hành các đạo luật, khả năng hoạt động
của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó, lực lượng bảo vệ pháp
luật đóng vai trò hết sức quan trọng trong điều kiện kinh tế đang phát triển. Hệ
thống luật pháp được thực thi một cách đầy đủ, rõ ràng và hiệu quả đảm bảo nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
1.2.3.6. Đối thủ cạnh tranh
Vị thế đàm phán của doanh nghiệp cung ứng sản phẩm là vị thế độc quyền
hoặc độc quyền nhóm. Nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính, tiềm lực công
nghệ mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao… sẽ có lợi thế trên bàn đàm phán.
Những nhân tố trên làm tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Vị thế đàm phán của người mua: yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và
dịch vụ, khả năng xuất hiện của các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường, khả
năng xuất hiện của các sản phẩm, dịch vụ thay thế, mức độ liên kết hoặc hình
Trên thực tế doanh nghiệp có giá trị sản phẩm thấp nhưng doanh nghiệp bán giá