LUẬN VĂN: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài

trong hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2004.
- Nguyễn Đức Hải: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam
trong hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2005.
- Đỗ Tất Cường: Dịch vụ bảo hiểm ở nước ta hiện nay trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2005.
- Trần Trọng Phúc: Một số chính sách từ phía nhà nước nhằm đẩy mạnh hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, Tạp chí Tài chính, số 10/2005,
tr.26-28
- Xuân Long: Thị trường bảo hiểm nhân thọ, cạnh tranh gay gắt giữa các công ty,
Tạp chí Thị trường giá cả, số 12/ 2002, tr.10-11.
- GS.TS Phí Trọng Thảo: Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2002 và
dự báo năm 2003, Tạp chí Tài chính, số 1, 2/2003, tr.82-85.
- Lê Song Lai: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2005- bức tranh
sáng màu, Tạp chí Tài chính, số7/2005.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập và nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ
thống và chuyên sâu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ thực trạng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng các giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và
các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 9 tiết.
Chương 1
Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam

1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Lý luận về cạnh tranh từ lâu đã có rất nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu.
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng
hoá (kinh tế hàng hoá, cao hơn là kinh tế thị trường). Nó phản ánh mối quan hệ kinh tế
giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa.
Mặc dù "cạnh tranh" không phải là một khái niệm mới nhưng để có được một định
nghĩa thống nhất thì rất khó. ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, quan niệm và nhận thức về
vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng nó cũng khác nhau.
C. Mác khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản đã đề cập đến cạnh tranh và vai trò của
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Theo C. Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [22, tr.27].
Trong ngôn ngữ học, khái niệm cạnh tranh được hiểu là "cố gắng giành phần

sản phẩm, qua đó nâng cao tính cạnh tranh của chính các DN. Trong cạnh tranh các DN
yếu kém bị đào thải, DN làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển. Đây là kết
quả tất yêu của quy luật cạnh tranh.
Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo
đảm cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tuỳ tiện. Với khía
cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết nền kinh tế thị trường và quan hệ cung cầu, góp
phần hạn chế méo mó giá cả và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
Trên bình diện quốc tế, chính cạnh tranh đã thúc ép các DN mở rộng tìm kiếm thị
trường với mục đích tiêu thụ, đầu tư huy động nguồn vốn, lao động, công nghệ, kỹ năng
lao động, quản lý trên thị trường quốc tế. Thông qua cạnh tranh quốc tế các DN thấy
được lợi thế so sánh cũng như các điểm yếu kém của mình để hoàn thiện, xây dựng các
chiến lược kinh doanh, cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế khác, chỉ xuất hiện tồn tại và
phát triển khi có điều kiện như nhu cầu cạnh tranh, môi trường cạnh tranh và vận hành tốt
khi có môi trường cạnh tranh hiệu quả.
Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách
quan của cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Cạnh tranh lành mạnh được các nước ủng hộ và khuyến khích phát
triển bằng cách pháp lý hoá chúng trong các đạo luật về chống độc quyền và bảo vệ cạnh
tranh.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Về mặt ngôn ngữ học, năng lực được hiểu là "khả năng đảm nhận công việc và
hoàn thành với kết quả tốt". Vậy năng lực chính là khả năng hay tiềm năng của một chủ
thể (là cá nhân, hay đơn vị) có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó của cuộc sống và
thực hiện một công việc nào đó hiệu quả.
Năng lực cạnh tranh ( Sức cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh) được xét dưới ba
cấp độ:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.

bản để giảm chi phí và tạo sự khác biệt hoá sản phẩm mà bất kỳ một DN nào ở một
ngành nào cũng có thể áp dụng, cụ thể:
Yếu tố thứ nhất là hiệu quả: Hiệu quả thường được đo bằng số yếu tố đầu vào cần
thiết (chi phí) để tao ra một đơn vị đầu ra (sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận). DN càng
nâng cao được hiệu quả thì chi phí đầu vào để tạo ra một đơn vị đầu ra càng thấp và như
vậy thì DN sẽ có năng lực cạnh tranh cao dựa trên chi phí.
Yếu tố thứ hai là chất lượng: Chất lượng sản phẩm là những đặc tính của sản phẩm
được thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó. Chất lượng gắn với
khả năng thoả mãn những nhu cầu đã định cho sản phẩm. Theo ISO 9000 "Chất lượng là
tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu
cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn". Người cung cấp phải tối ưu hoá chất lượng sản
phẩm, không được để "thấp" hơn nhu cầu nhưng cũng không nên thừa hay "cao" quá mức

cần thiết để khỏi ảnh hưởng đến giá cả. Sản phẩm có chất lượng cao giúp DN tăng uy tín,
từ đó có thể tăng giá bán.
Yếu tố thứ ba là đổi mới: Đổi mới bao gồm sự hoàn thiện về sản phẩm, công nghệ,
hệ thống quản lý, cơ cấu tổ chức của DN. Trong đó đổi mới công nghệ được coi là
nguồn chính của năng lực cạnh tranh, nó giúp DN khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ
cạnh tranh hoặc giảm chi phí sản xuất. Các DN vì thế thường sản xuất theo seri sản phẩm,
không duy trì lâu hoặc với khối lượng lớn một sản phẩm nào đó. Điển hình như kiểu dáng ô-
tô, ti-vi, radio, máy tính
Yếu tố thứ tư là nắm bắt kịp thời nhu cầu khách hàng: Để đáp ứng nhu cầu khách
hàng, DN cần cung cấp các mặt hàng mà họ cần và đúng thời điểm họ muốn.
Việc nâng cao hiệu quả, chất lượng và đổi mới suy cho cùng là nhằm mục tiêu đáp
ứng các nhu cầu rất đa dạng của khách hàng.
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh nói trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo
điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng lực
cạnh tranh quốc gia cao thì đòi hỏi phải có nhiều DN có năng lực cạnh tranh. Và ngược
lại các DN chỉ có thể cạnh tranh tốt trong nền kinh tế quốc gia thuận lợi, chính sách kinh
tế vĩ mô rõ ràng, môi trường đầu tư ổn định và kết cấu hạ tầng đảm bảo

Trên thị trường thế giới cũng như ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều nghiệp vụ (sản
phẩm BH) khác nhau. Tuỳ theo các tiêu thức phân chia khác nhau mà các nghiệp vụ
BHPNT có thể phân chia thành các loại cơ bản sau:
* Theo nhóm khách hàng: gồm có
- Nhóm các sản phẩm dành cho cá nhân
- Nhóm các sản phẩm dành cho các tổ chức
Việc phân loại theo tiêu thức này giúp DN quản lý và thiết kế được các sản phẩm
phù hợp, đáp ứng được nhu cầu riêng của các cá nhân cũng như phục vụ nhu cầu công
việc của cac tổ chức.
* Theo loại hình sản phẩm: bao gồm:
- Nhóm sản phẩm BH riêng lẻ.
- Nhóm sản phẩm BH trọn gói.

Phân lọai theo tiêu thức này sẽ giúp DN dẽ dàng trong việc quản lý sản phẩm,
đồng thời có kế hoạch kết hợp các sản phẩm riêng lẻ nhằm tạo ra các sản phẩm BH trọn
gói.
* Theo phương thức phân phối sản phẩm: bao gồm:
- Nhóm sản phẩm phân phối qua kênh phân phối truyền thông.
- Nhóm sản phẩm phân phối qua kênh "phản hồi trực tiếp".
Việc phân loại theo tiêu thức này sẽ giúp DNBH quản lý được sản phẩm theo kênh
phân phối và có chiến lược thiết kế các sản phẩm phù hợp để chào bán qua các kênh phân
phối đó.
* Theo đối tượng BH: Theo tiêu thức này, nghiệp vụ BH được chia thành ba
nhóm:
- BH tài sản (BHTS)
- BH trách nhiện dân sự (BHTNDS).
- BH con người phi nhân thọ (BHCN).
+ Bảo hiểm tài sản: Đây là loại hình BH mà đối tượng BH là tài sản (cố định hay
lưu động) của người được BH.
Ví dụ: BH cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, BH hàng hoá của các chủ hàng trong

vi được BH của các hợp đồng BH con người.
1.2.2. Đặc trưng của bảo hiểm phi nhân thọ
1.2.2.1. Mục đích bảo hiểm
BH được biết đến trước hết như một phương pháp chuyển giao rủi ro hữu hiệu và
mục đích của các nghiệp vụ BHPNT thể hiện rất rõ ý nghĩa của phương pháp đó. Lý do
chính đáng cho việc giao kết các hợp đồng BHPNT là sự chuyển giao các tổn thất tài
chính có thể xảy ra từ người mua BH cho công ty BH. Khi xảy ra tổn thất, công ty
BHPNT thực hiện triệt để việc xác định giới hạn cũng như trách nhiệm bồi thường đã
được quy định trong hợp đồng BH đã được giao kết với người được BH, do đó giúp bên
được BH khắc phục hậu quả về mặt vật chất, tài chính.
Một lý do mà vì nó không ít các hợp đồng BHPNT được ký kết cũng khá đặc biệt,
đó là:
+ Nhằm tuân thủ các qui định của luật pháp về việc bắt buộc phải mua BH đối với
các loại hình bảo hiểm như: đối với các cá nhân, tổ chức và công ty có tài sản nguy hiểm

về cháy nổ bắt buộc phải mua BH Cháy, nổ; đối với Dự án xây dựng thì bắt buộc các nhà
thầu hoặc chủ dự án phải mua BH Xây dựng lắp đặt. Ngoài ra còn có bảo hiểm Trách
nhiệm dân sự cho người thứ 3 đối với những người sử dụng và vận hành xe mô tô, xe gắn
máy, ô tô
+ Trong các hoạt động kinh doanh XNK để phù hợp với các tập quán, thông lệ
quốc tế thì việc bắt buộc phải có các hợp đồng bảo hiểm hàng hoá là không thể thiếu.
Những quy định và tập quán trên không bao giờ áp dụng đối với BHNT. Vì thế,
những lý do rất riêng trong mục đích BH có thể coi là đặc trưng thứ nhất của BHPNT.
1.2.2.2. Sự chênh lệch về “giá trị” giữa các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Trước sự đa dạng của đối tượng BH, rủi ro BH , các DNBHPNT buộc phải tận dụng
mọi khả năng có thể, khai thác triệt để mọi cơ hội để thực hiện luật số lớn nhằm giảm thiểu
rủi ro mình. Vì vậy, cho dù có là đề nghị về một hợp đồng BH khiêm tốn với số tiền BH vài
chục triệu VNĐ hay những hợp đồng BH lớn mà số tiền BH lên đến đôi ba trăm tỷ VNĐ.
Cũng vì lẽ đó mà hình thức đồng BH và nhất là tái BH được sử dụng như là một trong những
công cụ hữu hiệu trong việc khai thác các hợp đồng BH. Nếu như tái BHNT gặp không ít

vài ba kỳ thanh toán trong thời hạn BH. Vì thế, việc quản lý tài chính thu chi các nghiệp
vụ phải áp dụng kỹ thuật phân chia. Yêu cầu cơ bản khi áp dụng kỹ thuật phân chia là:
việc xác định kết quả kinh doanh nghiệp vụ vào thời điểm khoá sổ kế toán (31/12) phải
tính đến các dự phòng nghiệp vụ.
Các loại dự phòng nghiêp vụ cơ bản của DNBHPNTgồm có: dự phòng phí chưa được
hưởng, dự phòng bồi thường và dự phòng dao động lớn. Hơn nữa, kỹ thuật phân chia còn đòi
hỏi các phương pháp trích lập phải phù hợp với đặc tính của từng loại nghiệp vụ BH. Chẳng
hạn, đối với trích lập dự phòng phí chưa được hưởng, nếu là BH xe cơ giới với thời hạn BH
phần lớn là một năm nên có thể sử dụng phương pháp 1/8, nhưng BH hàng hoá vận chuyển
lại cần sử dụng phương pháp 1/24 hoặc 1/365 vì thời hạn các hợp đồng BH ngắn.
1.2.2.5. Đối tượng được bảo hiểm và cơ sở để tính toán số tiền được bảo hiểm
Khác với BHNT, đối tượng được bảo hiểm trong BHPNT thường là tài sản của
người được BH. Trong BHNT giới hạn hợp đồng BH là vô hạn do đối tượng được bảo
hiểm là con người và thường thì giới hạn hợp đồng là do người mua BH lựa chọn trên cơ
sở nhu cầu của bản thân hoặc sự đề nghị của DNBH. Còn trong BHPNT số tiền bảo hiểm

chủ yếu được tính trên cơ sở giá trị thị trường của tài sản được BH tại thời điểm giao kết
hợp đồng BH.
1.2.2.6. Nguy cơ trục lợi
Một đặc trưng nữa của BHPNT là khả năng trục lợi là rất cao. Điều này phụ thuộc
vào đạo đức và tính trung thực của người mua BH. Cụ thể: do đối tượng được BH chỉ là
tài sản vì vậy người được BH có thể vì một lý do nào đó tự tiêu hủy tài sản của mình.
Chẳng hạn như: tự đốt cháy chính căn nhà của mình hoặc xưởng sản xuất của mình sau
đó tiền hành đòi tiền BH từ DNBH. Điều khó khăn là nghĩa vụ chứng minh tổn thất đó là
vô tình hay cố ý lại thuộc về DNBH. Vì vậy, một trong những quy tắc bất di bất dịch
trong BHPNT khi giao kết hợp đồng BH là quy tắc “trung thực tuyệt đối”.
1.2.3. Những hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Cũng giống như toàn bộ các DNBH, hoạt động kinh doanh BH của một
DNBHPNT thường bao gồm những nội dung sau:
1.2.3.1. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm

đầy đủ hồ sơ khiếu nại hợp lệ.
- Đối với người tham gia BH:
+ Người tham gia BH có quyền: được hưởng khoản tiền bồi thường từ DNBH khi
xảy ra sự kiện BH; quyền được cung cấp mọi thông tin liên quan đến hợp đồng BH và
quá trình lập hồ sơ khiếu nại BH, quyền được thay đổi một số điều kiện, điều khoản trong
hợp đồng.
+ Người tham gia BH có nghĩa vụ: khai báo trung thực mọi thông tin mà họ biết
được liên quan đến đối tượng BH ngay từ khi giao kết hợp đồng BH, đóng phí BH đẩy
đủ, khai báo trung thực khi xảy ra sự kiện BH; có nghĩa vụ đề phòng và ngăn ngừa rủi ro,
hạn chế tổn thất, bảo lưu quyền đòi người thứ ba cho DNBH.
Như vậy, thông qua kết quả của hoạt động kinh doanh BH, DNBH sẽ thể hiện
được vị trí, uy tín của mình trên thị trường cũng như phát huy năng lực cạnh tranh của
mình trước đối thủ cạnh tranh. Doanh thu, kết quả từ hoạt động kinh doanh BH là cơ sở,
nền tảng để DN khuyếch trương và tăng cường hoạt động đầu tư nhằm mang lại lợi
nhuận và sự phát triển bền vững.

* Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm: là một hoạt động không thể tách rời hoạt
động kinh doanh BH của bất kỳ một DNBH nào.
Tái BH là hoạt động của DN mà theo đó DNBH nhận một khoản phí BH của
DNBH khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận BH
Có thể nói, tái BH như là một tấm lá chắn cho hoạt động của mỗi DN, là một hình
thức DNBH tự BH cho chính mình sau khi nhận về mình các rủi ro của khách hàng.
Kinh doanh tái BH bao gồm: hoạt động nhận tái BH và nhượng tái BH. Cụ thể
như sau:
- Hoạt động nhận tái bảo hiểm: là việc một DNBH nhận BH cho một phần rủi
ro của một DNBH khác trong một hợp đồng BH gốc. Đứng trên góc độ kinh doanh thì
hoạt động nhận tái BH được coi như là một hình thức bán BH. Sau khi nhận tái BH,
DN có thể nhượng lại cho những DN nhận tái BH khác.
Mục đích của hoạt động nhận tái BH là để tăng thêm nguồn thu phí BH cho DN,
ngoài ra, mục đích lớn hơn là việc chia sẻ rủi ro giữa các DNBH. Trong mối quan hệ đan

một thời điểm nhất định bất kỳ; giúp chia sẻ rủi ro trong cộng đồng Từ đó, tạo cho
DNBH một năng lực cạnh tranh tốt nhất để phát triển hoạt động kinh doanh BH gốc của
mình.
Thông qua hoạt động nhượng và nhận tái BH, DNBH vừa ổn định tình hình kinh
doanh, vừa phát triển quan hệ kinh tế với các nước.
1.2.3.2. Hoạt động đề phòng và hạn chế tổn thất
DNBH không chỉ có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi BH do rủi ro
tai nạn bất ngờ gây ra nhằm giúp cho người được BH ổn định kinh tế, khôi phục sản xuất
và đời sống, mà còn tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro, tổn thất trước và sau khi tai
nạn xảy ra.
Thông qua việc phân tích nguyên nhân của những rủi ro tai nạn bất ngờ, DNBH
rút ra được những biện pháp cần thiết để cùng khách hàng thực hiện nhằm đề phòng tổn
thất xảy ra.
Ví dụ: - Trong BH cháy, DNBH cùng người tham gia BH thực hiện các biện pháp
để hạn chế chập điện, nổ như: tăng thiết bị an toàn về điện, thiết bị chống sét hoặc mua
sắm thêm phương tiện chữa cháy.

- Trong BH xe cơ giới làm thêm biển báo các nơi tránh xe trên các đèo dốc
để giảm bớt tai nạn
1.2.3.3. Hoạt động giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba
Hoạt động giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba là một nhiệm vụ
quan trọng trong chu trình kinh doanh BH, là khâu cuối cùng khép lại hoạt động kinh
doanh BH của DNBH. Trong đó:
Giám định: là hoạt động do DNBH trực tiếp tiến hành hoặc thông qua một DN hay
đại lý giám định khác để thực hiện việc xác định tính chất, nguyên nhân và mức độ tổn
thất. Điều quan trọng của công tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc
phạm vi BH không, tổn thất thực tế là bảo nhiêu để làm căn cứ phục vụ cho công tác
giải quyết bồi thường và trả tiền BH cho khách hàng được chính xác.
Bồi thường hoặc trả tiền BH: là việc DNBH thực hiện cam kết trong hợp đồng
BH, chi trả cho người được BH một khoản tiền nhất định khi xảy ra sự kiện BH.

nhàn rỗi từ dự phòng nhiệp vụ.
Riêng đối với nguồn vốn từ dự phòng nghiệp vụ, thực chất đây là khoản DNBH nợ
khách hàng, do đó để đảm bảo khả năng thanh toán của DN, pháp luật qui định rất chặt
chẽ tổng hạn mức được phép sử dụng để đầu tư cũng như hạn mức đầu tư cho từng lĩnh
vực. Điều 13, Nghị định 43/2001/NĐ-CP ngày 1/8/2001 của Chính phủ quy định DN chỉ
được đầu tư nguồn vốn này tại Việt Nam và dùng để: mua trái phiếu Chính phủ, trái
phiếu DN có bảo lãnh; gửi tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế; mua cổ phiếu, trái
phiếu DN không có bảo lãnh; góp vốn vào các DN khác tối đa 35%; kinh doanh bất động
sản, cho vay, uỷ thác đầu tư qua các tổ chức tài chính - tín dụng tối đa 20%.
1.2.4. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ
Năng lực cạnh tranh của các DNBH trên thị trường DVBH phản ánh khả năng
tồn tại và phát triển bền vững của một DN. Năng lực cạnh tranh của DNBH nói chung và
DNBHPNT nói riêng thường bị tác động bởi một số yếu tố cơ bản sau:
1.2.4.1. Môi trường vĩ mô
Gồm các yếu tố bên ngoài DN như kinh tế, chính trị, xã hội, tự nhiên. Môi trường
vĩ mô tạo điều kiện cho các DNBH phát triển, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của
DN.

* Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn và tổng hợp đến các DNBH, trong khuôn
khổ luận văn này chỉ nghiên cứu một số yếu tố có tác động trực tiếp nhất. Bao gồm:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế : Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
sẽ phát sinh thêm các nhu cầu mới do thu nhập của người lao động tăng lên và dẫn đến
khả năng thanh toán đối với dịch vụ BH cũng tăng lên. Đây vừa là cơ hội lớn để các
DNBH mở rộng lĩnh vực kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với các DN
khi xuất hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, Điều này sẽ làm cho chi phí và tiền lương
của DN tăng lên, làm giảm khả năng cạnh tranh của các DNBH.
- Tỷ lệ lạm phát: lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế, làm cho sự tăng trưởng
kinh tế chậm lại, tỉ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường

ẩn trong ngành ngày càng tăng, các DN nước ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa
ngày càng nhiều. Chính vì vậy, các DNBHPNT trong nước phải nhận thức rõ toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế là một xu thế không thể đảo ngược. Họ buộc phải nâng cao sức
cạnh tranh, nhanh chóng nắm lấy cơ hội nhưng đồng thời phải có biện pháp để đẩy lùi và
hạn chế những nguy cơ và thách thức.
1.2.4.2. Môi trường kinh doanh trong ngành
Gồm các yếu tố trong ngành kinh doanh BH như: đối thủ cạnh tranh, khách hàng,
sản phẩm thay thế.
* Đối thủ cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa tạo động lực thúc đẩy sự phát triển
của các DNBH, vừa tạo ra sức ép đòi hỏi khả năng thích ứng của các DN này. Cạnh tranh
giữa các DN nhằm thu hút khách hàng là điều tất yếu và diễn ra ngày càng quyết liệt. sự
cạnh tranh giữa các DNBH hoạt động trong ngành là một trong những yếu tố quan trọng
đối với sự phát triển của DNBH. Nếu sự cạnh tranh này ít sẽ là cơ hội để các DNBH mở
rộng hoạt động inh doanh, nhằm chiếm lĩnh thị phần và thu được nhiều lợi nhuận. Còn
nếu sự cạnh tranh này diễn ra quyết liệt sẽ là sực ép lớn đối với các DNBH, đặc biệt là
các DNBH mới và nhỏ. Vì vậy các DNBH luôn phải biết được đối thủ nào mới xuất hiện;
nó có bị cản trở xâm nhập thị trường từ phía các đối thủ khác không? Có thể làm gì để
cản trở đối thủ này? Các đối thủ ngang sức có những điểm nào mạnh hơn, điểm nào yếu

hơn? Và từ đó họ tìm mọi cách để hạn chế các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhảy vào lĩnh
vực kinh doanh của họ.
* Sức ép về giá của khách hàng
Sức ép từ phía khách hàng là được coi là một trong những yếu tố quyết định đến
công tác hoạch định chiến lược bởi vì khách hàng là mục tiêu hướng tới của bất kỳ DN
sản xuất kinh doanh nào. Do đó, DN cũng cần phải trả lời hàng loạt các câu hỏi như:
- Những khách hàng nào quan trọng nhất?
- Số lượng hàng hoá do khách hàng đó tiêu thụ chiếm bao nhiêu % trong tổng số?
- Nếu một khách hàng từ bỏ DN thì sẽ gây thiệt hại cho DN như thế nào?
- Liệu có đối thủ nào cản trở khách hàng trung thành và họ sử dụng thủ đoạn nào?

động nghiên cứu và phát triển thường tạo ra bước đột phá cho DNBH trong hoạt động
kinh doanh, tạo ra lợi thế kinh doanh cho DN trong một khoảng thời gian nhất định. Đặc
điểm của khoa học công nghệ là luôn đổi mới và phát triển, vì vậy DN muốn tạo được lợi
thế kinh doanh lâu dài thì phải có những bước đi cụ thể, có sự đầu tư hợp lý vào hoạt
động nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
* Marketing, bán hàng và dịch vụ ( Chưa xem và chưa sửa)
Marketing là một quá trình xác định, dự báo, thiết lập và thỏa mãn các nhu cầu
mong muốn của người tiêu dùng đối với sản phẩm hay dịch vụ. Việc phân tích hoạt động
marketing thường bao gồm các nội dung: phân tích khách hàng, nghiên cứu thị trường,
mua và bán hàng hoá. Việc phân tích chức năng marketing và bán hàng cần quan tâm đến
một số vấn đề sau: mặt hàng sản phẩm có đáp ứng mục tiêu đề ra hay không? Thái độ của
người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, giá đối với DN và đối thủ cạnh tranh? Hiệu quả
của các kênh phân phối? Lực lượng bán hàng có đủ để đạt được mục tiêu đề ra hay
không? Các hoạt động dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hoạt động như hoạt động giám
định, bồi thường ra sao? Hiệu quả của công tác quảng cáo về sản phẩm, dịch vụ của
DN?…
* Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là tổng hợp việc sắp xếp bố trí các phòng ban chức năng của một
DNBH. Cơ cấu tổ chức của một DNBH đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc vận
hành hoạt động kinh doanh của DN. DN nào có được cơ cấu tổ chức hợp lý với sự gắn

Trích đoạn Mục tiêu phát triển thị trường dịch vụ bảo hiểm Việt Nam Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Nâng cao năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam Xây dựng và quảng bá thương hiệu, đẩy mạnh hoạt động Marketing tư vấn và đa dạng hoá các kênh phân phối để thu hút khách hàng, mở rộng thị phần Hoàn thiện môi trường pháp lý của Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status