LUẬN VĂN:
Năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ Việt Nam
Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ cuối năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Điều này đã mở ra cho nước ta những cơ hội lớn để phát triển song cũng đặt
nước ta trước những thách thức và khó khăn không nhỏ. Trong những cam kết đa phương
và song phương với các nước trên thế giới để gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết mở
cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm. Điều đó đã đặt các doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm vào
quá trình cạnh tranh gay gắt không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước mà còn với các
doanh nghiệp nước ngoài.
Khi thực hiện chính sách mở cửa, tăng cường hội nhập quốc tế, thị trường dịch vụ
bảo hiểm Việt Nam đã phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đánh dấu một
bước chuyển căn bản từ một thị trường độc quyền nhà nước sang một thị trường cạnh tranh
Tạp chí Thị trường giá cả, số 12/ 2002, tr.10-11.
- GS.TS Phí Trọng Thảo: Tổng quan thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2002 và dự
báo năm 2003, Tạp chí Tài chính, số 1, 2/2003, tr.82-85.
- Lê Song Lai: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 6 tháng đầu năm 2005- bức tranh
sáng màu, Tạp chí Tài chính, số7/2005.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập và nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ
thống và chuyên sâu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Việt Nam dưới góc độ kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung làm rõ thực trạng, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo
hiểm phi nhân thọ. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng các giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và
các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng
- Làm rõ tính tất yếu khách quan phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ Việt Nam trong thời gian qua.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi
nhân thọ Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Chủ yếu từ năm 2003 đến nay.
5. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cạnh
Chương 1
Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
1.1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh
Lý luận về cạnh tranh từ lâu đã có rất nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu. Cạnh
tranh xuất hiện trong quá trình hình thành, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá
(kinh tế hàng hoá, cao hơn là kinh tế thị trường). Nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa.
Mặc dù "cạnh tranh" không phải là một khái niệm mới nhưng để có được một định
nghĩa thống nhất thì rất khó. ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, quan niệm và nhận thức về
vấn đề cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng nó cũng khác nhau.
C. Mác khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản đã đề cập đến cạnh tranh và vai trò của
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Theo C. Mác: "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" [22, tr.27].
Trong ngôn ngữ học, khái niệm cạnh tranh được hiểu là "cố gắng giành phần thắng
về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau".
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh là sự "tranh đua giữa những cá nhân, tập thể
có chức năng như nhau, giành phần hơn, phần thắng về mình".
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học " Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá
nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành
lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được".
Như vậy nếu hình dung toàn bộ nền kinh tế như một trường đua trong thể thao, ai
tham gia vào đó cũng đều mong muốn đạt giải bằng sự cố gắng hết mình, thì cạnh tranh là
động lực cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, nó làm cho mỗi thành viên trong xã hội
đều phải luôn tự hoàn thiện mình để đạt được kết quả cao nhất có thể.
Từ thực tế đã cho thấy, có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về cạnh tranh.
khi có môi trường cạnh tranh hiệu quả.
Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại tất yếu khách quan
của cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Cạnh tranh lành mạnh được các nước ủng hộ và khuyến khích phát triển bằng
cách pháp lý hoá chúng trong các đạo luật về chống độc quyền và bảo vệ cạnh tranh.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Về mặt ngôn ngữ học, năng lực được hiểu là "khả năng đảm nhận công việc và
hoàn thành với kết quả tốt". Vậy năng lực chính là khả năng hay tiềm năng của một chủ
thể (là cá nhân, hay đơn vị) có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó của cuộc sống và
thực hiện một công việc nào đó hiệu quả.
Năng lực cạnh tranh ( Sức cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh) được xét dưới ba
cấp độ:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ.
- Năng lực cạnh tranh của DN.
Trong đó:
Năng lực cạnh tranh quốc gia: được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt
được và duy trì được mức tăng trưởng cao, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế-
xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
Năng lực canh tranh của sản phẩm, dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm
hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.
Còn Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo định nghĩa CIEM và UNDP thì
"Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài
nước" [46, tr.14].
Như vậy, Năng lực cạnh tranh của DN có thể hiểu là khả năng cạnh tranh bù đắp
chi phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường
trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Cơ sở của năng lực cạnh tranh thường được xem xét dựa trên tỷ suất lợi nhuận của
chính của năng lực cạnh tranh, nó giúp DN khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh
tranh hoặc giảm chi phí sản xuất. Các DN vì thế thường sản xuất theo seri sản phẩm, không
duy trì lâu hoặc với khối lượng lớn một sản phẩm nào đó. Điển hình như kiểu dáng ô-tô, ti-vi,
radio, máy tính
Yếu tố thứ tư là nắm bắt kịp thời nhu cầu khách hàng: Để đáp ứng nhu cầu khách
hàng, DN cần cung cấp các mặt hàng mà họ cần và đúng thời điểm họ muốn.
Việc nâng cao hiệu quả, chất lượng và đổi mới suy cho cùng là nhằm mục tiêu đáp
ứng các nhu cầu rất đa dạng của khách hàng.
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh nói trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tạo
điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có năng lực
cạnh tranh quốc gia cao thì đòi hỏi phải có nhiều DN có năng lực cạnh tranh. Và ngược lại
các DN chỉ có thể cạnh tranh tốt trong nền kinh tế quốc gia thuận lợi, chính sách kinh tế vĩ
mô rõ ràng, môi trường đầu tư ổn định và kết cấu hạ tầng đảm bảo
Mặt khác tính năng động nhạy bén trong quản lý DN cũng là một yếu tố quan trọng,
bởi vì trong cùng một môi trường kinh doanh có DN thành công nhưng cũng có DN bị thất
bại.
Bên cạnh đó DN chỉ có sức cạnh tranh cao khi sản phẩm của mình có năng lực cạnh
tranh cao so với đối thủ cạnh tranh và được xã hội chấp nhận. Năng lực cạnh tranh của sản
phẩm dịch vụ ngoài chất lượng nội tại còn phụ thuộc nhiều vào danh tiếng va uy tín của
DN.
Vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ là cơ sở, điều kiện để
nâng cao năng lực cạnh tranh của DN và của nền kinh tế đất nước. Hiện nay nước ta đang
tiến sâu vào quá trình hội nhập thì yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh trên cả ba cấp độ:
quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ ngày càng trở nên bức bách. Trong đó tính
chr động tịch cực, sáng tạo của các doanh nghiệp giữ vai trò quyết định.
1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
1.2.1. Khái niệm và phân loại nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
1.2.1.1. Khái niệm
- Nhóm sản phẩm phân phối qua kênh "phản hồi trực tiếp".
Việc phân loại theo tiêu thức này sẽ giúp DNBH quản lý được sản phẩm theo kênh
phân phối và có chiến lược thiết kế các sản phẩm phù hợp để chào bán qua các kênh phân
phối đó.
* Theo đối tượng BH: Theo tiêu thức này, nghiệp vụ BH được chia thành ba nhóm:
- BH tài sản (BHTS)
- BH trách nhiện dân sự (BHTNDS).
- BH con người phi nhân thọ (BHCN).
+ Bảo hiểm tài sản: Đây là loại hình BH mà đối tượng BH là tài sản (cố định hay
lưu động) của người được BH.
Ví dụ: BH cho thiệt hại vật chất xe cơ giới, BH hàng hoá của các chủ hàng trong
BH hàng hoá xuất nhập khẩu, BH tài sản của chủ nhà trong BH trộm cắp.
Giá trị BH là giá trị thực tế của tài sản tham gia BH, nó là căn cứ quan trọng để
tính phí BH và giới hạn thanh toán tiền bồi thường BH. Nghĩa là số tiền bồi thường mà bên
được BH nhận được trong mọi trường hợp đều không được vượt quá thiệt hại thực tế trong
sự cố BH.
Ví dụ: Một chủ xe máy tham gia BH cho toàn bộ xe của mình trị giá 20 triệu đồng.
Trong một vụ tai nạn, chiếc xe bị hư hỏng với giá trị thiệt hại là 8 triệu đồng. Như vậy số
tiền bồi thường mà chủ xe nhận được trong mọi trường hợp chỉ là 8 triệu đồng.
+ BH trách nhiệm dân sự: Theo Luật dân sư, trách nhiệm dân sụ của một chủ thể
(như chủ tài sản, chủ doanh nghiệp ) được hiểu là trách nhiệm phải bồi thường các thiệt
hại về con người, tài sản gây ra cho người khác do lỗi của người chủ đó.
Ví dụ: BH trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, chủ lao động; BH trách nhiệm
sản phẩm; BH trách nhiệm công cộng
Khác với BH tài sản và BH con người, đối tượng được BH của loại hợp đồng này là
một khái niệm trìu tượng khi hợp đồng được ký kết. Tuy nhiên trách nhiệm bồi thường của
BH vẫn căn cứ vào các thiệ hại thực tế xảy ra cho người thứ ba.
+ BH con người phi nhân thọ: là loại hình BH có đối tượng được BH là tính mạng,
tình trạng sức khoẻ hoặc các sự kiện liên quan và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người.
+ Trong các hoạt động kinh doanh XNK để phù hợp với các tập quán, thông lệ quốc
tế thì việc bắt buộc phải có các hợp đồng bảo hiểm hàng hoá là không thể thiếu.
Những quy định và tập quán trên không bao giờ áp dụng đối với BHNT. Vì thế,
những lý do rất riêng trong mục đích BH có thể coi là đặc trưng thứ nhất của BHPNT.
1.2.2.2. Sự chênh lệch về “giá trị” giữa các dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Trước sự đa dạng của đối tượng BH, rủi ro BH , các DNBHPNT buộc phải tận dụng
mọi khả năng có thể, khai thác triệt để mọi cơ hội để thực hiện luật số lớn nhằm giảm thiểu rủi
ro mình. Vì vậy, cho dù có là đề nghị về một hợp đồng BH khiêm tốn với số tiền BH vài chục
triệu VNĐ hay những hợp đồng BH lớn mà số tiền BH lên đến đôi ba trăm tỷ VNĐ. Cũng vì
lẽ đó mà hình thức đồng BH và nhất là tái BH được sử dụng như là một trong những công cụ
hữu hiệu trong việc khai thác các hợp đồng BH. Nếu như tái BHNT gặp không ít khó khăn từ
việc phải đáp ứng những yêu cầu về môi trường đầu tư để có thể đảm bảo lãi suất đầu tư kỹ
thuật thì trong BHPNT vấn đề hóc búa này không phải là vấn đề chính ảnh hưởng đến quyết
định tiến hành nhận hay nhượng TBH hay không giữa công ty BH gốc và công ty nhận tái
BH; mà chủ yếu phụ thuộc vào rủi ro được bảo hiểm và điều kiện, điều khoản được giao kết
trong hợp đồng gốc.
1.2.2.3. Mức độ ràng buộc về các cam kết trong hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng BH bao hàm các cam kết đã thoả thuận giữa bên mua BH và DNBH cho
một thời hạn nhất định. Các trường hợp huỷ bỏ, ngừng thực hiện cam kết phải tuân theo
pháp luật về chấm dứt hợp đồng BH. Thực tế, điều này đã được quy định rất rõ ràng trong
"Luật kinh doanh bảo hiểm". Đối với bên mua cũng như bên bán BH, sự ràng buộc về cam
kết phải được xác định rõ trong hợp đồng BH. Theo đó bên mua và bên bán BH có nghĩa
vụ thực hiện các cam kết đã được quy định trong hợp đồng BH đến hết thời hạn BH, ngoại
trừ vì lý do nào đó phải chấm dứt hợp đồng BH trước thời hạn theo qui định của pháp luật.
Điều này rất khác với BHNT. Trong BHNT bên mua BH có quyền chấm dứt hợp đồng vào
bất cứ thời điểm nào mà không cần phải viện dẫn lý do.
Những hậu quả pháp lý mà các bên phải gánh chịu một khi chấm dứt hợp đồng
trước thời điểm kết thúc thời hạn BH trong BHPNT rất đa dạng. Đáng chú ý là: nếu như
trong BHNT, DNBH không được khởi kiện đòi bên mua BH đóng phí BH thì đối với
Một đặc trưng nữa của BHPNT là khả năng trục lợi là rất cao. Điều này phụ thuộc
vào đạo đức và tính trung thực của người mua BH. Cụ thể: do đối tượng được BH chỉ là tài
sản vì vậy người được BH có thể vì một lý do nào đó tự tiêu hủy tài sản của mình. Chẳng
hạn như: tự đốt cháy chính căn nhà của mình hoặc xưởng sản xuất của mình sau đó tiền
hành đòi tiền BH từ DNBH. Điều khó khăn là nghĩa vụ chứng minh tổn thất đó là vô tình
hay cố ý lại thuộc về DNBH. Vì vậy, một trong những quy tắc bất di bất dịch trong
BHPNT khi giao kết hợp đồng BH là quy tắc “trung thực tuyệt đối”.
1.2.3. Những hoạt động cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Cũng giống như toàn bộ các DNBH, hoạt động kinh doanh BH của một DNBHPNT
thường bao gồm những nội dung sau:
1.2.3.1. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm
* Hoạt động kinh doanh BH: là hoạt động cơ bản của DNBH nhằm mục đích sinh
lời. Đây là một quá trình liên hoàn từ khâu cấp đơn cho người tham gia BH, thu phí BH,
theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng BH cho đến khâu giám định tổn thất và giải quyết
bồi thường BH.
Kinh doanh BH phải đảm bảo nguyên tắc có tính chất quy luật là "số đông bù số ít".
Theo quy luật đó, DNBH phải thu hút được nhiều người tham gia vào một nghiệp vụ hay
một sản phẩm BH cụ thể.
Quy trình thực hiện công việc kinh doanh BH bắt đầu từ việc DNBH thông qua
mạng lưới đại lý hoặc các nhân viên khai thác chào bán các dịch vụ BH tới từng khách
hàng có nhu cầu. Sau khi hai bên thống nhất được các điều kiện cơ bản thì hợp đồng BH
được thiết lập.
Hợp đồng BH là bằng chứng pháp lý thể hiện sự xác lập quyền và nghĩa vụ giữa
DNBH và người tham gia BH, là sự thoả thuận giữa bên mua BH và DNBH, theo đó bên
mua BH phải đóng phí BH còn DNBH phải trả tiền cho người được BH khi xảy ra sự kiện
BH.
Theo quy định của Luật kinh doanh BH (điều 17, 19, 20), DNBH và người tham gia
BH có các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ sau đây:
- Đối với DNBH:
DNBH khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận BH
Có thể nói, tái BH như là một tấm lá chắn cho hoạt động của mỗi DN, là một hình
thức DNBH tự BH cho chính mình sau khi nhận về mình các rủi ro của khách hàng.
Kinh doanh tái BH bao gồm: hoạt động nhận tái BH và nhượng tái BH. Cụ thể như
sau:
- Hoạt động nhận tái bảo hiểm: là việc một DNBH nhận BH cho một phần rủi ro
của một DNBH khác trong một hợp đồng BH gốc. Đứng trên góc độ kinh doanh thì
hoạt động nhận tái BH được coi như là một hình thức bán BH. Sau khi nhận tái BH,
DN có thể nhượng lại cho những DN nhận tái BH khác.
Mục đích của hoạt động nhận tái BH là để tăng thêm nguồn thu phí BH cho DN,
ngoài ra, mục đích lớn hơn là việc chia sẻ rủi ro giữa các DNBH. Trong mối quan hệ đan
xen với nhau trên thị trường, một DNBH khi thì đứng ở vị trí người nhận lại rủi ro nhưng
có khi lại ở vị trí là người chia sẻ rủi ro.
DN nhận tái BH có trách nhiệm đối với các rủi ro mình nhận về tương đương như
DNBH gốc đã nhận với khách hàng. Tuy nhiên, giới hạn trách nhiệm sẽ tương ứng với tỷ
lệ mà DN nhận tái BH. Theo đó, khi xảy ra sự kiện BH, DN nhận tái BH cũng phải thực
hiện nghĩa vụ bồi thường và trả tiền BH cho công ty BH gốc theo đúng phần trách nhiệm
mình đã nhận.
Để bù đắp các chi phí mà DNBH gốc đã bỏ ra để ký kết được hợp đồng BH với
khách hàng, DN nhận tái BH phải chi trả cho DN nhượng tái BH một khoản chi phí nhất
định gọi là hoa hồng nhận tái BH. Tương ứng với phần trách nhiệm nhận về, DN nhận tái
BH sẽ nhận được một khoản chi phí BH từ DN nhượng tái, đây chính là doanh thu từ hoạt
động nhận tái BH.
- Hoạt động nhượng tái bảo hiểm: Như ta đã biết, nhu cầu an toàn trong kinh doanh
BH luôn được đặt lên hàng đầu, và để thực hiện được điều đó, một DNBH cũng phải tìm
cách tự BH cho chính bản thân mình thông qua việc nhượng tái BH.
Nhượng tái BH là việc DNBH chuyển một phần trách nhiệm BH đã cam kết với khách
hàng (người được BH) của mình cho một hoặc nhiều DNBH khác.
Cũng tương tự như hoạt động nhận tái BH nhưng ở vị trí ngược lại, DN nhượng
Hoạt động giám định, bồi thường tổn thất và đòi người thứ ba là một nhiệm vụ quan
trọng trong chu trình kinh doanh BH, là khâu cuối cùng khép lại hoạt động kinh doanh BH
của DNBH. Trong đó:
Giám định: là hoạt động do DNBH trực tiếp tiến hành hoặc thông qua một DN hay
đại lý giám định khác để thực hiện việc xác định tính chất, nguyên nhân và mức độ tổn
thất. Điều quan trọng của công tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc
phạm vi BH không, tổn thất thực tế là bảo nhiêu để làm căn cứ phục vụ cho công tác giải
quyết bồi thường và trả tiền BH cho khách hàng được chính xác.
Bồi thường hoặc trả tiền BH: là việc DNBH thực hiện cam kết trong hợp đồng BH,
chi trả cho người được BH một khoản tiền nhất định khi xảy ra sự kiện BH.
Đòi người thứ ba: là hoạt động do DNBH trực tiếp tiến hành hoặc thông qua một
đại lý trung gian khác để yêu cầu người thứ ba phải bồi hoàn cho những tổn thất do lỗi của
người thứ ba đó gây nên sau khi DNBH đã bồi thường và nhận thế quyền từ người được
BH.
Chất lượng hoạt động giám định, bồi thường khẳng định chất lượng sản phẩm của
chính DNBH, bởi tại khâu này sản phẩm của DNBH mới thực sự được khách hàng sử
dụng và đánh giá. Nếu chất lượng tốt, DNBH không những giữ được khách hàng cũ mà
còn thu hút thêm được khách hàng mới, tăng uy tín và thị phần của DN mình.
Nếu giám định và bồi thường tổn thất được coi là một khoản chi thì kết quả của việc
đòi người thứ ba được coi như là một khoản thu để giảm chi. Do đó, thực hiện tốt công tác
đòi người thứ ba là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh BH,
tăng lợi nhuận cho DN.
1.2.3.4. Hoạt động đầu tư
Bên cạnh hoạt động kinh doanh BH, hoạt động đầu tư có vai trò hết sức quan trọng,
nó được coi là một trong những hoạt động mang lại nguồn thu chính cho DNBH.
Hoạt động đầu tư không chỉ giúp các DNBH sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi
của mình để thu lợi nhuận, mà còn giúp DNBH ổn định để kinh doanh và đảm bảo quyền
lợi cho khách hàng. Bởi vì: do tính đặc thù trong hoạt động kinh doanh BH mà các DNBH
thường xuyên có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi từ các quỹ dự phòng nghiệp vụ vốn điều
khổ luận văn này chỉ nghiên cứu một số yếu tố có tác động trực tiếp nhất. Bao gồm:
- Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế : Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao sẽ
phát sinh thêm các nhu cầu mới do thu nhập của người lao động tăng lên và dẫn đến khả
năng thanh toán đối với dịch vụ BH cũng tăng lên. Đây vừa là cơ hội lớn để các DNBH
mở rộng lĩnh vực kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là thách thức đối với các DN khi xuất
hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, Điều này sẽ làm cho chi phí và tiền lương của DN tăng
lên, làm giảm khả năng cạnh tranh của các DNBH.
- Tỷ lệ lạm phát: lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế, làm cho sự tăng trưởng
kinh tế chậm lại, tỉ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường
trước được. Nếu lạm phát liên tục, các hoạt động đầu tư của DN trở thành công việc hoàn
toàn may rủi. Sự bất trắc này khiến các DN không muốn bỏ tiền vào đầu tư. Do đó, lạm
phát cao luôn là nguy cơ đối với các DNBH.
Có thể nói, có rất nhiều vấn đề trong yếu tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp đến hoạt động kinh doanh của DNBH. Có những yếu tố là nguy cơ, có những yếu tố là
cơ hội. Vì vậy trong quá trình hoạt động, các DNBHPNT phải luôn bám sát phân tích tình
hình kinh tế để tận dụng thời cơ trong kinh doanh.
* Yếu tố chính trị và pháp luật
Các DNBHPNT hoạt động trên thị trường phải tuân theo các quy định của Pháp luật
như: Biểu phí, hoa hồng phí, thuế, thuê mướn lao động, quảng cáo, quy định môi trường…
Vì vậy đòi hỏi các DNBH cần phải hiểu rõ những quy định của địa phương hoặc của đất
nước - nơi DNBH thực hiện các hoạt động kinh doanh. Có như vậy, họ mới thực sự chủ
động trước sự thay đổi của môi trường chính trị và pháp luật.
* Môi trường văn hoá, xã hội
Văn hoá, xã hội cũng là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự biến động và phát
triển của một DNBH, đặc biệt là các nhân tố có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển
nhu cầu BH như: thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí Bởi vì nhu cầu BH
không phải là nhu cầu căn bản của con người, vì thế nhu cầu BH chi có thể phát triển khi
con người đã thoả mãn, đã giải quyết các nhu cầu căn bản khác. Thêm vào đó khi trình độ
dân trí nâng lên người dân sẽ nhận thức được sự cần thiết của các hoạt động BH bảo đảm
* Sức ép về giá của khách hàng
Sức ép từ phía khách hàng là được coi là một trong những yếu tố quyết định đến
công tác hoạch định chiến lược bởi vì khách hàng là mục tiêu hướng tới của bất kỳ DN sản
xuất kinh doanh nào. Do đó, DN cũng cần phải trả lời hàng loạt các câu hỏi như:
- Những khách hàng nào quan trọng nhất?
- Số lượng hàng hoá do khách hàng đó tiêu thụ chiếm bao nhiêu % trong tổng số?
- Nếu một khách hàng từ bỏ DN thì sẽ gây thiệt hại cho DN như thế nào?
- Liệu có đối thủ nào cản trở khách hàng trung thành và họ sử dụng thủ đoạn nào?
- Phải làm gì để giữ được khách hàng hiện có và phát triển thêm khách hàng mới?
Khi các DNBH cạnh tranh với nhau, dưới áp lực của khách hàng khiến giá cả bị
giảm xuống hoặc họ yêu cầu chất lượng sản phẩm, dịch vụ tốt hơn. Điều này sẽ làm cho
chi phí hoạt động của DN tăng lên. Ngược lại, nếu khách hàng có khả năng bị yếu thế thì
sẽ là cơ hội tốt để các DNBH tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn.
1.2.4.3. Môi trường trong nội bộ doanh nghiệp
Gồm các yếu tố bên trong DNBH như: nguồn nhân lực, tài chính, nghiên cứu và
phát triển, marketing, cơ cấu tổ chức của DN. Cụ thể:
* Tài chính
Bất cứ một DN nào muốn tồn tại và phát triển đều cần có nguồn vốn, mà trước hết
là nguồn vốn tài chính. Nguồn tài chính của DN có thể bằng nhiều hình thức: nguồn tự có,
nguồn vốn vay, ngân sách cấp, trợ cấp… Nguồn tài chính có ý nghĩa quyết định giúp DN
chớp cơ hội đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, tận dụng lợi thế về quy mô và vượt lên
trước đối thủ cạnh tranh.
* Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạch định và thực hiện
chiến lược kinh doanh của một DNBH, bởi vì con người là trung tâm của mọi hoạt động.
Do vậy cần phải có kế hoạch quản trị nguồn nhân lực, mục tiêu của quản trị nhân lực như
là: Sắp xếp hợp lý nguồn nhân lực; Đảm bảo cung - cầu về nguồn nhân lực cho các hoạt
động; xác định biện pháp cụ thể để quản lý nguồn nhân lực và dự đoán về nguồn nhân lực
mà DN có nhu cầu trong tương lai Yêu cầu của quản trị nhân lực là xây dựng được đội