Tr-ờng đại học ngoại th-ơng hà nội
Khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
chuyên ngành kinh tế ngoại th-ơng
========
khóa luận tốt nghiệp
Đề tài:
Nâng cao năng lực cạnh tranh của tổng
công ty hàng hải việt nam trong điều kiện
hội nhập quốc tế
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Lan H-ơng
Lớp
: Anh 12
Khoá
nhu cầu ngày càng lớn đối với các dịch vụ vận tải, đặc biệt là dịch vụ hàng hải.
Một trong những đặc thù của ngành hàng hải là có tính quốc tế hoá cao, cho
nên từ giữa những năm 90, ngành hàng hải Việt Nam đã từng bƣớc thể hiện vai trò
của mình trong tiến trình hội nhập của đất nƣớc. Sự mở cửa của ngành hàng hải
cùng với sự tăng trƣởng nhanh chóng của hoạt động xuất nhập khẩu là lý do mà các
hãng tàu lớn có mặt ngày càng nhiều tại thị trƣờng Việt Nam, cạnh tranh trực tiếp
với các doanh nghiệp trong ngành. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt đó,
trong khi sự bảo hộ của Nhà nƣớc ngày càng ít đi, các doanh nghiệp hàng hải trong
nƣớc không còn cách nào khác là phải tự nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn
tại và phát triển. Là doanh nghiệp chủ lực trong ngành, việc nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam không chỉ có ý nghĩa sống còn với riêng
doanh nghiệp mà còn ảnh hƣởng quyết định tới sự phát triển của ngành hàng hải
nƣớc nhà. Xuất phát từ thực tiễn trên, em đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”.
Mục đích của khoá luận là trên cơ sở tìm hiểu các khái niệm về cạnh tranh và
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế cùng với
việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh hiện nay của Tổng công ty Hàng hải
Việt Nam để đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng
công ty. 2
Với mục đích trên, khoá luận đƣợc xây dựng gồm 3 chƣơng. Cụ thể, ngoài lời
nói đầu và kết luận, khoá luận có kết cấu nhƣ sau:
Chƣơng I: Tổng quan về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội
nhập quốc tế
Chƣơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Hàng hải Việt
Nam
Chƣơng III: Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng
công ty Hàng hải Việt Nam
1. Quan niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1. Quan niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá
và là đặc trƣng cơ bản của kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên do cách tiếp cận khác nhau,
bởi mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác
nhau về cạnh tranh.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa: “Cạnh tranh trong kinh doanh
là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân,
các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu,
nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trƣờng có lợi nhất” .
Theo Từ điển Kinh tế kinh doanh Anh – Việt thì: “Cạnh tranh là sự đối địch
giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trƣờng để giành đƣợc nhiều khách hàng,
do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thƣờng là bằng cách bán theo giá thấp nhất
hay cung cấp một chất lƣợng hàng hoá tốt nhất” .
Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác – Lênin lại đƣa ra khái niệm: “Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất –
kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh
doanh, tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục
tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát
triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nhiệp
của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái
niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao
hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” 4
Dù có sự khác biệt trong diễn đạt và phạm vi, nhƣng các quan niệm trên cũng
có những nét tƣơng đồng về nội dung:
Thứ nhất, cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể
của nền kinh tế thị trƣờng cùng theo đuổi một mục đích tối đa. Đối với các doanh
hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội, trang 15-16 5
Cạnh tranh là động lực của nền kinh tế thị trƣờng. Trong môi trƣờng cạnh
tranh, để tránh nguy cơ phá sản, các doanh nghiệp phải dùng một phần lợi nhuận để
tăng vốn đầu tƣ công nghệ, hiện đại hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động và
chất lƣợng sản phẩm,tổ chức quản lý hiệu quả Cạnh tranh cũng tạo ra sự đồng
hƣớng giữa mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp và lợi ích của ngƣời tiêu dùng:
hàng chất lƣợng cao, giá thành thấp, phục vụ tốt sẽ giúp doanh nghiệp bán đƣợc
nhiều sản phẩm và dịch vụ, thu đƣợc nhiều lợi nhuận.
Cạnh tranh cũng có mặt trái của nó. Cạnh tranh đào thải những doanh nghiệp
có chi phí cao, giá trị sử dụng sản phẩm thấp và tổ chức tiêu thụ kém ra khỏi thị
trƣờng gây ra nạn thất nghiệp cũng nhƣ lãng phí nguồn nhân lực. Cạnh tranh cũng
có thể dẫn đến tình trạng “cá lớn nuốt cá bé”, làm gia tăng sự phân hoá giàu nghèo
và những bất công trong xã hội.
Vấn đề đặt ra không phải là thủ tiêu cạnh tranh mà phải đảm bảo cơ chế
cạnh tranh vận hành hiệu quả, phát huy những mặt tích cực và hạn chế những tác
động tiêu cực của cạnh tranh. Điều đó cần đến sự điều tiết hợp lý của Nhà nƣớc
trong chính sách cạnh tranh và đó cũng là trách nhiệm của tất cả các chủ thể kinh
tế trong nền kinh tế thị trƣờng.
1.2. Quan niệm về năng lực cạnh tranh
Mặc dù hiện nay thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” đƣợc sử dụng rất rộng rãi
nhƣng vẫn chƣa có một khái niệm rõ ràng cũng nhƣ cách thức đo lƣờng năng lực
cạnh tranh ở cả cấp độ quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm.
Ở cấp độ doanh nghiệp, mặc dù có những quan niệm khác nhau nhƣng các tác
giả đều gắn năng lực cạnh tranh với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra
thị trƣờng hoặc gắn với thị phần mà doanh nghiệp chiếm giữ thông qua khả năng tổ
chức, đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay gia tăng lợi nhuận, bảo
đảm sự tồn tại phát triển bền vững của doanh nghiệp.
ngoài, đồng thời tạo dựng và duy trì những lợi thế mới. Bởi vậy, vạch ra một chiến
lƣợc thích hợp và thực hiện chiến lƣợc một cách hiệu quả là điều cơ bản giúp doanh
nghiệp giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh.
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Quy mô về vốn là nền tảng để doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Đặc biệt trong nền kinh tế
hội nhập, yếu tố vốn càng trở nên quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp mở rộng
quy mô hoạt động, tận dụng lợi ích kinh tế từ quy mô, tạo ra lợi thế cạnh tranh với 2
Nguyễn Vĩnh Thanh (2005), Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thƣơng mại Việt Nam trong
hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội, trang 26 7
các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, năng lực tài chính không chỉ thể hiện ở quy mô
vốn, mà còn thể hiện ở cơ cấu vốn, ở việc khai thác và sử dụng nguồn vốn sẵn có
của doanh nghiệp cũng nhƣ ở khả năng huy động những nguồn tài chính thích hợp
phục vụ cho sản xuất kinh doanh những sản phẩm dịch vụ có sức cạnh tranh trên thị
trƣờng. Năng lực tài chính sẽ là điều kiện cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp
- Nhân tố con ngƣời: Đây là yếu tố quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh,
qua đó ảnh hƣởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực cạnh
tranh là một vấn đề mang tính dài hạn. Do đó, cán bộ quản lý, đội ngũ lãnh đạo phải
có trình độ, kinh nghiệm, khả năng đánh giá, khả năng xử lý tốt các mối quan hệ với
bên ngoài và đặc biệt phải có sự quyết tâm và cam kết dài hạn đối với việc nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngƣời lao động là những ngƣời trực tiếp tạo
ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ nên trình độ chuyên môn và ý thức của ngƣời lao
động là tiền đề để doanh nghiệp đứng vững trong môi trƣờng cạnh tranh.
- Năng lực quản lý và điều hành kinh doanh: Môi trƣờng kinh doanh luôn
thuận cũng ảnh hƣởng sâu rộng đến hoạt động kinh doanh. Mối quan hệ giữa các
chính phủ tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thƣơng giữa các doanh nghiệp.
Các tổ chức quốc tế, các hiệp định và luật pháp quốc tế sẽ gián tiếp tác động tới
doanh nghiệp thông qua việc thiết lập một môi trƣờng kinh doanh quốc tế ổn định
và thống nhất.
2.2.2. Các nhân tố trong nƣớc
- Các nhân tố kinh tế: Các yếu tố nhƣ tốc độ tăng trƣởng kinh tế, lãi suất, tỷ
giá hối đoái hay lạm phát có ảnh hƣởng nhất định tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khi tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế cao, thu nhập của ngƣời dân tăng,
nhu cầu có khả năng thanh toán cũng tăng lên, đây là cơ hội lớn bởi doanh nghiệp
nào đáp ứng đƣợc nhu cầu đó, doanh nghiệp ấy sẽ thành công. Khi lãi suất tăng, chi
phí vốn cũng tăng, khi đó lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về các doanh nghiệp có vốn
chủ sở hữu lớn. Khi đồng nội tệ lên giá sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
nƣớc sẽ giảm trên cả thị trƣờng nƣớc ngoài và nội địa bởi giá xuất khẩu bằng đồng
ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh, trong khi đó giá hàng nhập khẩu tính
bằng nội tệ lại giảm. Lạm phát tăng cũng có tác động to lớn đối với doanh nghiệp 9
bởi đôi khi tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp không thể bù đắp sự sụt giảm giá trị
của tiền tệ.
- Các nhân tố chính trị – pháp luật: Một nền chính trị ổn định sẽ là điều kiện
để các doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh. Một
hệ thống luật pháp đồng bộ, nhất quán và ổn định sẽ tạo lập môi trƣờng cạnh tranh
bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.
- Các nhân tố khoa học – công nghệ: Trình độ khoa học công nghệ có ý
nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm
là chất lƣợng và giá bán, qua đó ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong thời đại ngày nay khi tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng trở nên
nhanh chóng, lợi thế cạnh tranh về công nghệ của doanh nghiệp chỉ tồn tại trong
- Tính hiệu quả trong hoạt động: tiêu chí đơn giản nhất đo lƣờng hiệu quả là
năng suất tính theo công thức:
Năng suất =
Các chỉ tiêu cụ thể nhƣ: tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu, tỷ suất lợi nhuận/ vốn
đầu tƣ, tỷ suất lợi nhuận/ vốn tự có cũng thƣờng đƣợc sử dụng để đánh giá hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trị số của các chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ
doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
- Hình ảnh của doanh nghiệp: Hình ảnh của doanh nghiệp thể hiện qua uy
tín, danh tiếng của doanh nghiệp đối với các đối tác kinh doanh (ngƣời cung ứng,
khách hàng, đối tác liên minh ). Một vấn đề quan trọng liên quan đến nâng cao uy
tín của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp phát triển và duy trì thành công các
thƣơng hiệu mạnh. Bởi vậy, các chỉ tiêu nhƣ chi phí cho hoạt động phát triển
thƣơng hiệu, số lƣợng thƣơng hiệu mạnh hiện có, mức độ nổi tiếng và đƣợc ƣa
chuộng của thƣơng hiệu so sánh với các chỉ tiêu tƣơng ứng của đối thủ cạnh tranh
có thể đƣợc sử dụng để phân tích khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Một số tiêu thức khác: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện
qua một số tiêu chí nhƣ: Chất lƣợng sản phẩm và các quá trình sản xuất, khả năng
đổi mới của doanh nghiệp, khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng, khả năng tiếp cận
và khai thác có hiệu quả các nguồn lực phục vụ quá trình kinh doanh, khả năng liên
kết và hợp tác với các doanh nghiệp khác và hội nhập kinh tế
Lƣợng hàng hoá(hoặc doanh thu)
tiêu thụ của doanh nghiệp
Tổng lƣợng hàng hoá (hoặc doanh thu)
tiêu thụ trên thị trƣờng
Thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp
Thị phần tuyệt đối của đối thủ cạnh tranh
lớn nhất ( hoặc trực tiếp nhất)
Đầu ra (hàng hoá, dịch vụ)
đƣợc dùng khi chuyên chở dầu và hàng khối lƣợng lớn nhƣ: than đá, quặng, ngũ
cốc, bốc xít, phốt phát, xi măng, phân bón Do ƣu điểm linh hoạt, thích hợp với
vận chuyển hàng hoá không thƣờng xuyên, hình thức này rất phù hợp đối với
những nƣớc đang phát triển, kém phát triển, đội tàu vận tải biển nhỏ bé, hệ thống 12
cảng chƣa phát triển. Vận tải tàu chợ là hình thức phát triển cao hơn và hoàn
thiện hơn của hình thức tàu chuyến. Đặc trƣng quan trọng của hình thức tàu chợ
là tàu chạy thƣờng xuyên trên một tuyến đƣờng nhất định, ghé vào các cảng quy
định và theo một lịch trình định trƣớc. Các chủ tàu chợ thƣờng cùng nhau thành
lập các Công hội tàu chợ (Liner Conferrence) hoặc Công hội cƣớc phí (Freight
Conference) để khống chế thị trƣờng và nâng cao khả năng cạnh tranh. Các công
ty thuộc Công hội gọi là Conference Lines.
Ngƣời ta cũng có thể căn cứ vào đối tƣợng vận chuyển để chia các tàu vận
tải biển chia thành 3 loại: tàu hàng, tàu khách và tàu vừa chở hàng vừa chở
khách. Cách thức tổ chức khai thác 3 loại tàu này dù có những điểm chung
nhƣng vẫn có nhiều điểm khác nhau.
Nếu căn cứ theo dạng vận chuyển, hoạt động của đội tàu biển lại đƣợc chia
thành: vận chuyển đƣờng biển riêng rẽ, vận chuyển đa phƣơng thức, vận chuyển
biển pha sông, vận chuyển sà lan trên các tàu mẹ trên biển.
Mỗi quốc gia xây dựng đội tàu biển để phục vụ cho lợi ích của quốc gia
mình. Tuỳ từng điều kiện về tự nhiên, xã hội, chính trị, pháp luật mà lĩnh vực
kinh doanh khai thác tàu ở các nƣớc có những đặc điểm riêng. Tuy nhiên, do lĩnh
vực này mang tính quốc tế cao nên có những đặc điểm chung: sản xuất kinh
doanh khai thác tàu mang tính toàn cầu, phạm vi sản xuất rộng, quá trình sản
xuất kinh doanh liên quan đến hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia riêng rẽ và
chịu sự chi phối của các công ƣớc quốc tế liên quan đến thƣơng mại, đến biển và
kinh doanh vận tải biển.
1.2. Kinh doanh khai thác cảng
tàu hoặc ngƣời khai thác tàu tiến hành các dịch vụ liên quan đến tàu biển hoạt động
tại cảng, bao gồm việc thực hiện các thủ tục tàu biển vào, rời cảng; ký kết hợp đồng
vận chuyển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng bốc dỡ hàng hoá, hợp đồng
thuê tàu, hợp đồng thuê thuyền viên; ký phát vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển
tƣơng đƣơng; cung ứng vật tƣ, nhiên liệu, thực phẩm cho tàu biển; trình kháng nghị
hàng hải; thông tin liên lạc với chủ tàu hoặc ngƣời khai thác tàu; dịch vụ liên qua
đến thuyền viên; thu, chi các khoản tiền liên quan đến hoạt động khai thác tàu; giải
quyết tranh chấp về hợp đồng vận chuyển hoặc về tai nạn hàng hải và dịch vụ khác
liên quan đến tàu biển. 14
- Dịch vụ lai dắt tàu biển: Lai dắt tàu biển là việc lai, kéo, đẩy hoặc túc
trực bên cạnh tàu biển, các phƣơng tiện nổi khác trên biển và trong vùng nƣớc
cảng biển bằng tàu lai. Lai dắt tàu biển bao gồm lai dắt trên biển và lai dắt hỗ trợ
trong vùng nƣớc cảng biển.
- Các dịch vụ vận tải biển khác: Trong Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 và
các nghị định liên quan, các loại hình dịch vụ hàng hải không đƣợc liệt kê một cách
cụ thể, nhƣng theo tổng kết ta có thể thấy tại Việt Nam, ngoài dịch vụ đại lý tàu
biển và dịch vụ lai dắt, còn có những loại hình dịch vụ chính sau:
Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá vận chuyển đƣờng biển: là dịch vụ thực
hiện kiểm đếm số lƣợng hàng hoá thực tế khi giao hoặc nhận với tàu biển hoặc các
phƣơng tiện khác theo uỷ thác của ngƣời giao hàng, ngƣời nhận hàng hoặc ngƣời
vận chuyển.
Dịch vụ đại lý giao nhận hàng hoá vận chuyển bằng đƣờng biển: là
hoạt động kinh doanh thay mặt khách hàng tổ chức thiết kế, bố trí, thu xếp các
thủ tục giấy tờ, chứng từ liên quan đến việc giao, nhận, lƣu kho, lƣu bãi, thu gom
và ký phát hàng hoá.
Dịch vụ môi giới hàng hải: là dịch vụ làm trung gian cho các bên liên
quan trong việc giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bảo
2. Những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh doanh
hàng hải
Hàng hải là một ngành dịch vụ. Năng lực cạnh tranh của nó đƣợc cấu thành
bởi ba yếu tố: khả năng cung ứng dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ và giá cả dịch vụ.
- Khả năng cung ứng dịch vụ: bao gồm cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân
lực, trình độ khoa học – công nghệ phục vụ cho quá trình cung ứng dịch vụ đáp
ứng nhu cầu khách hàng.
- Chất lƣợng dịch vụ: Chất lƣợng là tập hợp các đặc tính của một thực thể,
đối tƣợng, tạo cho thực thể (đối tƣợng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu
ra hoặc tiểm ẩn. Chất lƣợng của lĩnh vực kinh danh hàng hải là việc thoả mãn đƣợc
yêu cầu của ngƣời gửi hàng bằng đƣờng biển từ lúc họ giao hàng cho ngƣời vận tải
cho đến khi họ nhận hàng từ ngƣời vận tải giao cho. Tức là hàng hoá đƣợc vận
chuyển nhanh, gọn, không hao hụt, hƣ hỏng trong quá trình vận chuyển, tạo đƣợc sự
tin cậy đối với khách hàng. 16
- Giá cả dịch vụ: Cùng với chất lƣợng, giá cả là một trong những công cụ
cạnh tranh chính của doanh nghiệp. Giá cả sản phẩm dịch vụ vận tải ngoài việc phụ
thuộc vào giá thành sản phẩm còn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trƣờng.
Hàng hoá sản xuất ra ngày càng nhiều, nhu cầu về vận tải cũng theo đó mà tăng lên,
những yêu cầu của khách hàng về chất lƣợng và giá cả của các loại hình dịch vụ
hàng hải cũng ngày càng cao hơn. Trong môi trƣờng cạnh tranh gay gắt nhƣ hiện
nay thì khách hàng có quyền lựa chọn ngƣời vận tải ở các doanh nghiệp khác hoặc
các quốc gia khác có mức giá hợp lý hơn. Do đó, đảm bảo chi phí sản xuất ở mức
độ thấp nhất song song với việc đảm bảo chất lƣợng và đảm bảo hoàn thành kế
hoạch đúng thời gian quy định là yếu tố cơ bản để doanh nghiệp tồn tại và đứng
vững trong môi trƣờng cạnh tranh.
III. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
cơ sở, nền móng quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
Khi toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành một xu hƣớng tất yếu thì yêu cầu hội
nhập quốc tế càng trở nên sâu sắc. Toàn cầu hoá kinh tế tạo điều kiện cho các quốc
gia tận dụng đƣợc lợi thế so sánh của mình để tăng trƣởng và ổn định kinh tế. Theo
nhà kinh tế học D.Ricardo thì bất kỳ một quốc gia nào khi tham gia vào thƣơng mại
quốc tế đều có thể thu đƣợc lợi ích nếu quốc gia đó tập trung vào việc sản xuất và
xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mối tƣơng quan thuận lợi hơn về mặt chi phí so
với quốc gia khác có sản xuất những sản phẩm tƣơng tự. Do vậy, chỉ có những quốc
gia bắt kịp với xu thế này, biết tận dụng thời cơ, vƣợt qua thách thức mới có thể
đứng vững và phát triển. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, đóng cửa nền
kinh tế, cách ly kinh tế nƣớc mình với thế giới là tự sát. Nói cách khác, hội nhập
kinh tế quốc tế đã trở thành một tất yếu khách quan.
Không nằm ngoài xu thế khách quan đó, Việt Nam đã và đang tích cực tiến
hành hội nhập: Năm 1992, Việt Nam ký hiệp định hợp tác kinh tế – thƣơng mại với
cộng đồng Châu Âu (EU), Nhật Bản và là quan sát viên của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á (ASEAN); Năm 1995, chính thức gia nhập ASEAN và từ 1996 –
2006, Việt Nam nỗ lực thực hiện các cam kết của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA); Năm 1998, là thành viên của Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dƣơng
(APEC); Năm 2000, ký kết hiệp định Thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ; Năm 2006,
Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) 18
Để khỏi bị gạt ra ngoài quỹ đạo phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam và
thế giới, ngành hàng hải trong đó có Tổng công ty hàng hải Việt Nam cũng phải nỗ
lực, chủ động hội nhập. Để tồn tại, đứng vững và lớn mạnh trong quá trình hội nhập
ấy, vấn đề có tính chất quyết định là nâng cao năng lực cạnh tranh.
2. Tiến trình hội nhập trong ngành hàng hải
2.1. Hội nhập trước WTO
Một trong những đặc thù của ngành hàng hải là có tính quốc tế cao, cho nên
2.2. Các cam kết với WTO về dịch vụ vận tải biển của Việt Nam
Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thƣơng mại thế
giới (WTO) đã đánh dấu một bƣớc phát triển mới trong tiến trình hội nhập của
ngành hàng hải. Trong WTO có 4 mức cam kết mở cửa thị trƣờng hàng hải thì
Việt Nam chọn mức thứ 3. Đối với kinh doanh vận tải biển, điều này có nghĩa
Việt Nam mở cửa gần nhƣ hoàn toàn lĩnh vực hàng hải. Theo đánh giá của các
chuyên gia, cam kết của Việt Nam về vận tải biển là khá cao so với cam kết của
các nƣớc đã gia nhập WTO trƣớc đây, kể cả đối với Trung Quốc.
Đối với dịch vụ vận tải biển, Việt Nam cam kết “không hạn chế” ở phƣơng
thức cung cấp dịch vụ qua biên giới đối với vận tải hàng hoá quốc tế, nghĩa là các
nhà cung cấp dịch vụ vận tải biển nƣớc ngoài thực hiện việc vận chuyển hàng hoá
xuất nhập khẩu cho thƣơng nhân Việt Nam mà không có bất cứ hạn chế gì.
Còn đối với phƣơng thức hiện diện thƣơng mại để cung cấp dịch vụ, cam kết
chia thành 2 loại khác nhau theo mục tiêu hoạt động của công ty. Cụ thể, doanh
nghiệp nƣớc ngoài đƣợc phép thành lập liên doanh 49% vốn nƣớc ngoài sau 2 năm
kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO để cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng hoá và
hành khách. Liên doanh đƣợc khai thác đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam, ký
kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá, hành khách cho các khách hàng trong và ngoài
nƣớc trên cơ sở tuân thủ quy định trong nƣớc và không phân biệt đối xử. Trong
trƣờng hợp một số hãng tàu nƣớc ngoài muốn cung cấp một số hoạt động trên bờ
để phục vụ cho hàng hoá do chính hãng tàu vận chuyển thì họ đƣợc phép thành lập
liên doanh 51% vốn nƣớc ngoài kể từ ngày Việt Nam gia nhập WTO để thực hiện
các hoạt động đó và đƣợc phép thành lập công ty 100% vốn nƣớc ngoài sau 5 năm
kể từ khi gia nhập để thực hiện các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động vận tải biển của
chính công ty đó. Do các hoạt động này phần nào trùng lặp với hoạt động đại lý 3
Vƣơng Đình Lam (2007), “Gia nhập WTO cơ hội và thách thức đối với ngành hàng hải”, Tạp chí hàng hải,
thức cho các doanh nghiệp vận tải biển, trong đó có Tổng công ty Hàng hải Việt
Nam. Hội nhập giúp các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn thị trƣờng thế giới, các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ đƣợc đối xử bình đẳng hơn trên thị trƣờng nƣớc ngoài.
Ví dụ nhƣ, khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đƣợc hƣởng nguyên 4
Vƣơng Đình Lam (2007), “Gia nhập WTO cơ hội và thách thức đối với ngành hàng hải”, Tạp chí hàng hải,
(1+2), trang 18-22
21
tắc đối xử quốc gia, điều đó có nghĩa Việt Nam có cơ hội nhận đƣợc các ƣu đãi
tƣơng tự mà các quốc gia dành cho nhà cung cấp dịch vụ trong nƣớc. Đó là cơ hội
lớn để các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trƣờng, tiếp cận với các phƣơng
thức quản lý và công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp vận tải
biển Việt Nam thì trong hiện tại, khả năng tiếp cận thị trƣờng vận tải biển của các
quốc gia thành viên WTO là rất hạn chế, do cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp, kể cả Tổng công ty hàng hải Việt Nam còn thua
xa các doanh nghiệp khác trong khu vực và trên thế giới. Ngƣợc lại, các doanh
nghiệp nƣớc ngoài cũng sẽ đƣợc đối xử bình đẳng hơn trên thị trƣờng Việt Nam.
Các chính sách bảo hộ đối với doanh nghiệp Nhà nƣớc và các quy định có tính chất
phân biệt đối xử về giá, phí, lệ phí, điều kiện đầu tƣ giữa các nhà cung cấp dịch vụ
nƣớc ngoài tại Việt Nam và các doanh nghiệp trong nƣớc sẽ không còn nữa. Điều
này buộc Tổng công ty hàng hải Việt Nam và các doanh nghiệp khác phải tự nâng
cao năng lực cạnh tranh để không bị thua ngay trên sân nhà.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế cùng với sự kiện Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của WTO, chắc chắn các doanh nghiệp hàng hải nƣớc ngoài sẽ tăng
cƣờng đầu tƣ vào thị trƣờng hàng hải Việt Nam. Đặc biệt với cam kết của Việt Nam
Điều thuận lợi là khi thực hiện các công ƣớc, nhiều quy định trong công ƣớc đã
đƣợc cụ thể hoá tại các văn bản pháp luật của Việt Nam tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoạt động bình thƣờng trong môi trƣờng quốc tế. Tuy nhiên, trong nhiều
công ƣớc có những quy định tiêu chuẩn đối với tàu biển. Đó là một thách thức rất
lớn đối với các chủ tàu Việt Nam, buộc các công ty phải đầu tƣ nâng cấp đội tàu,
nâng cao chất lƣợng thuyền viên để đáp ứng những nhu cầu đó.
Trƣớc tình hình trên, với vai trò là đơn vị chủ lực của ngành hàng hải Việt
Nam, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty hàng hải Việt Nam trở
thành hết sức cần thiết không chỉ đối với sự tồn tại và phát triển của riêng công ty
mà còn đối với sự phát triển của toàn ngành. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng
ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty mà còn là mối quan tâm
của cả Chính phủ, nhƣ thủ tƣớng Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu trong hội nghị
Triển khai công tác 2007 của Tổng công ty hàng hải Việt Nam “ Phát triển cảng
biển, vận tải hàng hải và công nghiệp đóng tàu là 1 trong 4 ngành kinh tế đƣợc
Chính phủ, Nhà nƣớc định hƣớng đẩy mạnh phát triển trong kế hoạch 5 năm 2006 –
2010 và Tổng Công ty Hàng Hải sẽ giữ vai trò nòng cốt”.
6
5
http://www.vietfracht.com.vn/vn/news_detail.asp?id=193&mnKey=asdfdf, tra cứu ngày 11/09/2007
6
http://vietnamnet.vn/kinhte/chinhsach/2007/03/669536/, tra cứu ngày 11/09/2007 23
Nhƣ vậy, qua những tìm hiểu trên có thể thấy, hiện nay có nhiều quan niệm về
cạnh tranh và năng lực cạnh tranh . Đối với các ngành nghề khác nhau, sẽ có các
tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Đối với các lĩnh vực kinh doanh
chuyển đổi, cổ phần hoá các doanh nghiệp, tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở hạ tầng cảng
biển, đội tàu và các dự án dịch vụ khác. Đến nay, Tổng công ty đã có tổng cộng 112
chiếc tàu với tổng trọng tải 1.365.508 DWT. Doanh thu đạt 11.241 tỉ đồng, nộp
ngân sách nhà nƣớc 498 tỉ đồng.
7
2. Chức năng, nhiệm vụ của Tổng công ty
Đóng vai trò là doanh nghiệp chủ đạo trong sự phát triển của ngành hàng hải
Việt Nam, Tổng công ty tiến hành nhiều hoạt động kinh doanh bao gồm
8
:
Kinh doanh vận tải biển
Khai thác cảng, sửa chữa tàu biển, đại lý môi giới, cung ứng dịch vụ hàng hải 7
Ngƣời viết tổng hợp từ các thông tin trên website http://www.vinalines.com.vn/dichvufr.htm, tra cứu ngày
13/09/2007
8
http://www.vinalines.com.vn/dichvufr.htm, tra cứu ngày 13/09/2007