BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HOÀNG UYÊN PHƯƠNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN
NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN HOÀNG UYÊN PHƯƠNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN
NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
VỀ
KIỂM
SOÁT
CHẤT
LƯỢNG
TỪ
BÊN
NGOÀI
ĐỐI
VỚI
HOẠT
ĐỘNG
KIỂM
TOÁN
ĐỘC
HOẠT
ĐỘNG
KIỂM
TOÁN
ĐỘC
LẬP
TẠI
HOA
KỲ 18
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL
tại Hoa Kỳ [8] 18
1.2.2. Chương trình KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL tại Hoa Kỳ 19
1.2.2.1. Chương trình KSCL của Ủy ban Giám sát các công ty đại chúng (Public
Company Accounting Oversight Board – PCAOB) 19 1.2.2.2. Chương trình kiểm tra chéo của Hiệp Hội kế toán viên công chứng Hoa
Kỳ (AICPA PRP) 24
1.3.
BÀI
VỚI
HOẠT
ĐỘNG
KIỂM
TOÁN
ĐỘC
LẬP
CHO
VIỆT
NAM 29
1.3.1. Cơ quan chịu trách nhiệm KSCL từ bên ngoài 29
1.3.2. Vai trò của Hiệp hội nghề nghiệp 30
1.3.3. Quy chế KSCL dịch vụ kế toán, kiểm toán 31
1.3.4. Không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán của ngành KTĐL 32
K
ếT LUậN CHƯƠNG
1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN
NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM 34
2.1.
ĐỐI
VỚI
HOẠT
ĐỘNG
KIỂM
TOÁN
ĐỘC
LẬP
TẠI
VIỆT
NAM
34
2.2.
THỰC
TRẠNG
VỀ
TẠI
VIỆT
NAM 35
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.2. Kết quả nghiên cứu 35
2.2.2.1. Thực trạng KSCL từ Bộ Tài chính và Hội nghề nghiệp 35
a. Tổ chức, thành phần đoàn kiểm tra, thời gian kiểm tra 35
b. Quy trình thực hiện kiểm tra 38
c. Báo cáo kết quả kiểm tra 39
d. Chi phí cho hoạt động kiểm tra 40
2.2.2.2. KSCL từ Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 40
2.3. KHẢO SÁT VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN TỪ BÊN NGOÀI TẠI
CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM 42
2.3.1. Phương pháp khảo sát 42
2.3.1.1. Giới thiệu phương pháp khảo sát 42 2.3.1.2. Bảng câu hỏi khảo sát 43
2.3.2. Kết quả khảo sát 44
2.3.2.1. Môi trường pháp lý: 44
2.3.2.2. Cơ quan chịu trách nhiệm KSCL dịch vụ kiểm toán 46
2.3.2.3. Tiêu chuẩn và trách nhiệm thành viên Đoàn kiểm tra 47
2.3.2.4. Thời hạn kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán 48
2.3.2.5. Hình thức kiểm tra chất lượng dịch vụ kiểm toán 50
2.3.2.6. Quy trình và thủ tục KSCL dịch vụ kế toán, kiểm toán 52
2.3.2.7. Chi phí cho hoạt động kiểm tra 54
2.4.
ĐỐI
VỚI
HOẠT
ĐỘNG
KIỂM
TOÁN
ĐỘC
LẬP 55
2.4.1. Ưu điểm trong công tác KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL 55
2.4.1.1. Các quy định pháp lý được ban hành tương đối đầy đủ 55
2.4.1.2. Vai trò của VACPA ngày càng được nâng cao 56
2.4.2. Tồn tại trong thực tiễn của công tác KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động
KTĐL 57
2.4.2.1. Tồn tại về mô hình tổ chức KSCL từ bên ngoài 57
2.4.2.2. Tồn tại về chương trình KSCL từ bên ngoài 58
K
ếT LUậN CHƯƠNG
2 64
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KIỂM
SOÁT CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN
ĐỘC LẬP VIỆT NAM 65
3.1.
lợi ích công chúng 71
3.2.2.2. Giải pháp về xây dựng bộ tiêu chí lựa chọn công ty kiểm toán được kiểm
tra hàng năm và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý 72
3.2.2.3. Giải pháp về nhân sự trong KSCL hoạt đông KTĐL từ bên ngoài 75
3.2.2.4. Giải pháp về mở rộng kiểm tra các dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ đảm
bảo khác 76
3.2.2.5. Giải pháp về chi phí cho hoạt động kiểm tra 76
3.2.2.6. Giải pháp về tăng cường theo dõi sau kiểm tra và công khai kết quả kiểm
tra 77
3.3.
CÁC
GIẢI
PHÁP
HỖ
TRỢ
KHÁC 78
3.3.1. Giải pháp về chiến lược phát triển KTĐL ở Việt Nam 78
3.3.2. Giải pháp về tổ chức thị trường dịch vụ kiểm toán 80
3.4.
KIẾN
NGHỊ 81
3.4.1. Đối với Bộ Tài chính 81
11. SEC: Security and Exchange Commission - Ủy ban Chứng khoán quốc gia
Hoa Kỳ
12. UBCKNN: Ủy ban chứng khoán Nhà nước
13. VACPA: Vietnam Association of Certified Public Accountants – Hội kiểm
toán viên hành nghề Việt Nam
14. VSA: Vietnam Standards on Auditing - CMKiT Việt Nam
15. VSQC1: Vietnam Standard on Quality Control - Chuẩn mực KSCL số 1
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với chủ
trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và
ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước.
Thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý
nhà nước để kiểm tra và xét duyệt mà được sử dụng rộng rãi bởi nhiều đối tượng
khác. Tuy ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng yêu
cầu là thông tin phải trung thực và hợp lý, đáng tin cậy. BCTC phải được kiểm toán bởi
kiểm toán viên độc lập là một trong những giải pháp hữu hiệu nhất để giảm thiểu rủi
ro. Với kỹ năng kinh nghiệm nghề nghiệp và sự độc lập của mình, kiểm toán viên độc
lập sẽ mang lại độ tin cậy cho BCTC đồng thời giúp tiết kiệm chi phí kiểm tra cho
người sử dụng. Đứng ở góc độ xã hội, hoạt động KTĐL đối với BCTC, khi được Nhà
nước kiểm soát sẽ trở thành một công cụ bảo vệ sự ổn định của nền kinh tế, đặc biệt là
đối với các quốc gia mà thị trường chứng khoán giữ một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế. Ở việt nam, hiện nay đối tượng kiểm toán bắt buộc khá rộng rãi, bao gồm các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức có hoạt động tín dụng, ngân hàng và
quỹ hỗ trợ phát triển, tổ chức tài chính và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm; các công
ty cổ phần có yết giá trên thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp nhà nước…
Như vậy có thể thấy rằng, hoạt động KTĐL là một trong những công cụ quan trọng
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động
KTĐL tại Việt Nam.
4. Câu hỏi nghiên cứu:
- Các phương thức tiến hành KSCL từ bên ngoài ở các quốc gia trên thế giới như thế
nào?
- Thực trạng về KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam trong những
năm qua như thế nào?
- Giải pháp nào để hoàn thiện KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL tại Việt
Nam?
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phân tích, tổng hợp để tổng kết các bất cập trong quy định về KSCL từ bên ngoài đối
với hoạt động KTĐL thông qua các quy định cũng như kết quả của các cuộc KSCL từ
bên ngoài đối với hoạt động kiểm toán tại các Công ty KTĐL do Bộ tài chính tiến hành
trong những năm qua.
Nghiên cứu định lượng để tìm hiểu thực trạng về KSCL từ bên ngoài thông qua việc
gửi phiếu khảo sát cho các công ty KTĐL: Tìm hiểu những lợi ích đạt được và ý kiến
đóng góp của một số công ty KTĐL, các nhà nghiên cứu và chuyên viên trong lĩnh vực
kiểm toán về công tác soát xét chất lượng từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL thông
qua các câu hỏi ghi trên phiếu khảo sát.
6. Tổng quan về các nghiên cứu trước:
Đề tài này đã được các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ trước thực hiện như đề tài của
thạc sĩ Phan Văn Dũng năm 2006, Vũ Minh Hải năm 2007 và tiến sĩ Trần Khánh Lâm
năm 2011:
4
Đối với luận văn thạc sĩ Phan Văn Dũng nội dung chủ yếu tập trung vào phương pháp
nghiên cứu, phân tích, so sánh thực tiễn KSCL kiểm toán của các nước phát triển, của
nhiều loại hình công ty kiểm toán tại Việt Nam trong phạm vi dịch vụ kiểm toán BCTC
do các công ty KTĐL thực hiện. Đề tài đã khái quát hóa và làm sáng tỏ những vấn đề
Chương 1: Những vấn đề chung về KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL
Chương 2: Thực trạng công tác KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động KTĐL tại Việt
Nam
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSCL từ bên ngoài
đối với hoạt động KTĐL tại Việt Nam
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT
CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN NGOÀI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM
TOÁN ĐỘC LẬP
1.1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TỪ BÊN NGOÀI ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP
1.1.1. Tổng quan về chất lượng hoạt động kiểm toán và KSCL hoạt động kiểm
toán
1.1.1.1. Chất lượng hoạt động kiểm toán
a. Khái niệm về chất lượng và chất lượng hoạt động kiểm toán
Khái niệm về chất lượng
Chất lượng là một phạm trù phức tạp, do vậy có nhiều định nghĩa khác nhau. Có rất
quan điểm khác nhau về vấn đề này. Hiện nay có một số định nghĩa về chất lượng đưa
ra như sau: “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu – fitness for use” (theo Joseph. M.
Juran - một Giáo sư người Mỹ). Hay “Chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay
đặc tính nhất định” (theo Giáo sư Philip B. Crosby). Và "Chất lượng là sự sự thoả mãn
nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” (theo Giáo sư người Nhật – Ishikawa). [12]
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về
chất lượng khác nhau. Người sản xuất xem chất lượng là mục tiêu phải đạt để đáp ứng
các qui định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất
lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí,
giá cả. Một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế, đó là định
nghĩa của ISO (Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế). Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO
9000:2005 định nghĩa chất lượng là: “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán theo khuôn mẫu
về chất lượng kiểm toán do IAASB ban hành [19]
Ủy ban CMKiT quốc tế (IAASB) đã phát triển khuôn mẫu cho chất lượng kiểm toán,
trong đó mô tả một cách toàn diện các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng
kiểm toán ở cấp độ hợp đồng, cấp độ công ty kiểm toán, và ở cấp độ quốc gia, cũng
như sự tương tác giữa các yếu tố này với môi trường. Khuôn mẫu chất lượng kiểm toán
nhằm mục đích nâng cao nhận thức về các yếu tố quan trọng tạo nên chất lượng kiểm
toán, qua đó khuyến khích kiểm toán viên, công ty kiểm toán và các bên liên quan khác
nâng cao chất lượng kiểm toán trong môi trường cụ thể của mình. Tuy nhiên, các thuộc
tính của chất lượng kiểm toán trong khuôn mẫu khác nhau về tầm quan trọng và ảnh
hưởng của chúng đến chất lượng kiểm toán. Nhìn chung chất lượng kiểm toán chịu ảnh
hưởng bởi mức độ của bằng chứng kiểm toán thu thập được có đáp ứng đủ những rủi
ro có sai sót trọng yếu và sự tuân thủ pháp luật, các quy định pháp lý và chuẩn mực có
liên quan của báo cáo kiểm toán.
Chất lượng kiểm toán bao gồm các yếu tố chính sau đây: Các yếu tố đầu vào; Quy
trình; Các yếu tố đầu ra; Những tương tác giữa các nhân tố trong chuỗi cung ứng
BCTC; và yếu tố trong môi trường. Trách nhiệm chính liên quan đến các cuộc kiểm
toán có chất lượng thuộc về các kiểm toán viên. Chất lượng kiểm toán đạt được tốt
nhất trong một môi trường mà có sự hỗ trợ từ các thành viên khác trong chuỗi cung
ứng BCTC. Các yếu tố này được mô tả như sau:
9 Sơ đồ 1.1 – Mô hình nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động kiểm toán của IAASB [19]
Các yếu tố đầu vào:
Mục tiêu của kiểm toán BCTC là dựa trên đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp đã
thu thập được để đưa ra ý kiến về việc báo báo tài chính tài chính không còn chứa đựng
những sai sót trọng yếu và phù hợp với những phát hiện của kiểm toán viên. Để có
được một cuộc kiểm toán chất lượng thì nhóm kiểm toán phải:
- Nhóm kiểm toán tuân thủ CMKiT, luật và các quy định có liên quan; và các thủ tục
KSCL các công ty kiểm toán.
- Nhóm kiểm toán xử lý một cách hợp lý về công nghệ thông tin.
11
- Có sự tương tác hiệu quả với những người tham gia đến cuộc kiểm toán.
- Có sự sắp xếp phù hợp để vận dụng được một quy trình kiểm toán hữu hiệu và hiệu
quả.
Quy trình kiểm toán và thủ tục KSCL ở cấp độ công ty: Các chính sách và thủ tục của
công ty kiểm toán sẽ ảnh hưởng đến quy trình kiểm toán. Các thuộc tính quan trọng tạo
nên chất lượng kiểm toán là:
- Phương pháp kiểm toán phù hợp với sự phát triển của các chuẩn mực nghề nghiệp
và phù hợp với những phát hiện từ việc đánh giá KSCL nội bộ và kiểm tra bên ngoài.
- Công ty kiểm toán khuyến khích thành viên trong nhóm kiểm toán luôn duy trì tính
hoài nghi nghề nghiệp và thực hiện đánh giá chuyên môn phù hợp.
- Công ty kiểm toán phải giám sát và kiểm tra công việc kiểm toán một cách hiệu quả.
- Tài liệu hóa hồ sơ kiểm toán thích hợp.
- Thủ tục KSCL nghiêm ngặt được thiết lập và chất lượng kiểm toán được theo dõi và
có những hành động thích hợp để hạn chế hậu quả xảy ra.
Quy trình kiểm toán và thủ tục KSCL ở cấp độ quốc gia: Các quy định pháp lý ở cấp
độ quốc gia về kiểm toán có thể ảnh hưởng đến quy trình kiểm toán. CMKiT quốc tế
(ISA) được ban hành bởi IAASB. Đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề kế toán
và kiểm toán được ban hành bởi IESBA đưa ra tiêu chuẩn đạo đức cho người hành
nghề chuyên nghiệp. Các chuẩn mực này nhằm giúp phát triển mạnh mẽ nghề nghiệp
kiểm toán. Ngoài ra, liên quan đến đào tạo, Ủy ban Chuẩn mực Đào tạo kế toán Quốc
tế (IAESB) ban hành các chuẩn mực đào tạo (IESs) liên quan gồm kỹ năng, giá trị, đạo
đức và thái độ nghề nghiệp. Để có thể kiểm soát ở cấp độ quốc gia, cần thiết phải:
12
- Ban hành CMKiT và các chuẩn mực khác nhằm làm rõ các mục tiêu cơ bản cũng
định bởi môi trường, bao gồm các yêu cầu về pháp lý. Một số bên liên quan có thể ảnh
hưởng đến bản chất của kết quả đầu ra nhiều hơn các bên liên quan khác. Đối với một
số bên liên quan, chẳng hạn như các nhà đầu tư vào các công ty niêm yết, BCTC đã
được kiểm toán là sản phẩm căn bản của kết quả đầu ra.
Những tương tác trong chuỗi cung ứng BCTC:
Trong báo cáo về chuỗi cung ứng BCTC năm 2008 của Liên đoàn Kế toán quốc tế
(IFAC) định nghĩa chuỗi cung ứng BCTC là “người và các quy trình liên quan đến việc
lập, phê duyệt, kiểm toán, phân tích và sử dụng BCTC”. Theo đó, IFAC quan sát thấy
rằng để BCTC có chất lượng cao thì yêu cầu tất cả các liên kết trong chuỗi cung ứng
BCTC đều phải có chất lượng cao và được kết nối chặt chẽ với nhau. Một cuộc kiểm
toán chất lượng liên quan đến việc liệu kiểm toán viên có tương tác đúng với các bên
liên quan trong chuỗi cung ứng BCTC hay không. Sự tương tác giữa các bên liên quan
chủ yếu bao gồm: kiểm toán viên, ban giám đốc, những người chịu trách nhiệm quản
trị, người sử dụng báo cáo và cơ quan quản lý. Tính chất và mức độ của những tương
tác này sẽ bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu của bên liên quan và môi trường mà sự tương
tác đó diễn ra. Mỗi bên liên quan trong chuỗi cung ứng BCTC và cách thức tương tác
giữa các bên liên quan này với nhau đóng một vai trò quan trọng trong việc mang lại
một BCTC có chất lượng cao. Trách nhiệm thực hiện một cuộc kiểm toán BCTC chất
lượng thuộc về kiểm toán viên. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán đạt được tốt nhất
14
trong một môi trường nơi mà có sự hỗ trợ và tương tác phù hợp giữa các bên liên quan
trong chuỗi cung ứng BCTC.
Các yếu tố trong môi trường:
Các quốc gia khác nhau sẽ có môi trường lập BCTC và thực hiện kiểm toán khác nhau.
Ở một số nước hoạt động kinh doanh và luật thương mại ít phát triển, BCTC độc lập có
thể bị giới hạn và kỳ vọng của người sử dụng báo cáo thường thấp. Ở các quốc gia phát
triển, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp phát triển về quy mô, cần thu hút được vốn
đầu tư từ thị trường vốn, môi trường sẽ trở nên phức tạp hơn. Do đó, BCTC trở nên
quan trọng hơn và kỳ vọng của người sử dụng về tính kịp thời và đáng tin cậy của
chịu trách nhiệm và có nghĩa vụ xây dựng và duy trì một hệ thống chính sách và thủ
tục KSCL hoạt động kiểm toán để có sự đảm bảo hợp lý rằng: Doanh nghiệp kiểm
toán và các cán bộ, nhân viên của doanh nghiệp kiểm toán đã tuân thủ các chuẩn mực
nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan; và báo cáo được doanh nghiệp
kiểm toán phát hành là phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
Đứng ở góc độ cơ quan quản lý, KSCL kiểm toán bao gồm: Việc xây dựng các chính
sách và thủ tục kiểm soát của cơ quan Nhà nước và hướng dẫn của Hội nghề nghiệp;
Xây dựng hệ thống KSCL của doanh nghiệp kiểm toán; Tổ chức bộ máy kiểm tra và
thực hiện kiểm tra chất lượng dịch vụ của người hành nghề kiểm toán viên hành nghề,
doanh nghiệp kiểm toán và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cung cấp
dịch vụ kiểm toán. Trong các nội dung trên thì nội dung chủ yếu của KSCL là thực
hiện các cuộc kiểm tra chất lượng dịch vụ của người hành nghề kế toán, kiểm toán viên
hành nghề và doanh nghiệp kế toán, kiểm toán. [9]
16
1.1.2. Các cấp độ của KSCL hoạt động kiểm toán
Các cấp độ của KSCL hoạt động kiểm toán bao gồm KSCL từ bên trong tức của bản
thân các công ty kiểm toán và KSCL từ bên ngoài tức cơ quan quản lý nhà nước và tổ
chức nghề nghiệp.
1.1.2.1. KSCL hoạt động kiểm toán từ bên trong
Việc KSCL của bản thân công ty kiểm toán vừa là quy chế vừa là các bước công việc
mà các doanh nghiệp kiểm toán phải xây dựng, thực hiện và giám sát để có sự đảm bảo
hợp lý rằng các chính sách và thủ tục liên quan đến hệ thống KSCL là phù hợp, đầy đủ
và hoạt động hữu hiệu. Điều này đã được thể hiện rõ trong CMKiT quốc tế (ISQC1) và
chuẩn mực KSCL số 1(VSQC1), CMKiT Việt Nam số 220 (VSA 220).
Nội dung công tác KSCL bên trong là hệ thống các biện pháp nhằm đảm bảo và nâng
cao chất lượng kiểm toán. Cách thức và các qui định cụ thể trong các biện pháp nhằm
đảm bảo và nâng cao chất lượng kiểm toán của các tổ chức kiểm toán ở các nước có
thể khác nhau, nhưng về nội dung vẫn tập trung vào các hoạt động kiểm tra và KSCL
trong suốt các quá trình hoạt động của công ty bao gồm các hoạt động bảo đảm chất
Việt Nam. Do đó, luận văn đã chọn nghiên cứu KSCL từ bên ngoài đối với hoạt động
KTĐL tại Hoa Kỳ.