1
PHÒNG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO ĐÀ LẠT
TRƯỜNG THCS PHAN CHU TRINH
* * *
MỘT VÀI KINH NGHIỆM
DẠY NHÓM CÂU TRẦN THUẬT ĐƠN
(CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 6 – TẬP 2)
Phần I: MỞ ĐẦU
Trong hệ thống chương trình giáo dục, môn Ngữ văn có một vị trí hết
sức quan trọng. Trước hết, Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học -
xã hội. Điều đó nói lên tầm quan trọng của bộ môn này trong việc giáo dục
quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Môn Ngữ văn còn là một môn
học công cụ, góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn ngày
càng cao. Đồng thời, góp phần xây dựng nhân cách cho học sinh, những
công dân trẻ có lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc sâu sắc, có ý thức tự tu
dưỡng, biết yêu thương, qúi trọng gia đình, bạn bè, biết hướng tới những tình
cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, sự
căm ghét cái ác, cái xấu. Môn Ngữ văn cũng giúp học sinh biết rèn luyện để
có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực thực hành và sử
dụng Tiếng Việt như một công cụ để tư duy, giao tiếp.
Để đạt được những mục tiêu giáo dục nêu trên, chương trình, phương
pháp giảng dạy và bộ sách giáo khoa Ngữ văn đổi mới đã kịp thời đáp ứng
một cách căn bản. Từ năm học 2002 - 2003, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã cho
thực hiện chương trình thay sách giáo khoa trên cả nước. Đó là năm học đầu
tiên áp dụng chương trình đổi mới phương pháp dạy và học cho giáo viên và
học sinh, bắt đầu từ khối lớp 1, lớp 6. Bên cạnh những hướng cải tiến chung
như giảm tải, tăng thực hành, gắn với đời sống, thì nét nổi bật nhất của
chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn là hướng tích hợp. Biểu hiện
rõ nhất của hướng tích hợp chính là việc sát nhập ba phân môn: Văn - Tiếng
em biết yêu, ghét rạch ròi, biết tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng nhân ái,
vị tha, đức hi sinh, …
Dạy văn cũng là dạy và rèn luyện cho học sinh những kỹ năng văn học.
Tức là giúp các em biết học tập cách viết, cách nói từ tác phẩm văn chương
để sử dụng ngôn ngữ đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình tư duy và giao
tiếp.
I.2/ Thực tế trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn thì dạy phân
môn Tiếng Việt dễ thành công hơn dạy phân môn Văn học. Bởi vì, trong
phân môn Tiếng Việt thì đơn vị kiến thức của một bài dạy ít, ngắn gọn hơn
3
một tiết Văn học. Nếu một tiết Văn học, ngoài những kiến thức gợi ý trong
sách giáo khoa để giúp học sinh cảm nhận được nội dung, nghệ thuật của
một tác phẩm thì còn đòi hỏi ở người dạy, ở học sinh phải có năng lực cảm
nhận tinh tế mới thấy hết được cái hay, cái đẹp được thể hiện qua một tác
phẩm Văn học. Trong phân môn Tiếng Việt kiến thức truyền thụ thường bắt
đầu bằng phương pháp quy nạp. Kiến thức được cụ thế hoá bằng những ví dụ
minh hoạ với những câu hỏi gợi dẫn giúp học sinh dễ dàng phát hiện, nắm
vững khái niệm, hiểu bài nhanh hơn. Đối với giáo viên, trong quá trình diễn
đạt để chuyển tải kiến thức Tiếng Việt cũng thể hiện ngắn gọn, chắt lọc hơn
so với khi thực hiện công việc đó đối với phân môn Văn học.
I.3/ Hơn nữa khi nói đến câu đơn thì chúng ta ai cũng nghĩ đó là một
bài dạy khá đơn giản. Nhưng khi đi bước vào một tiết dạy cụ thể, tìm hiểu
kiến thức để soạn bài nếu xét kỹ trong đó (phần ghi nhớ sau khi rút ra nhận
xét từ ví dụ minh hoạ) thì vẫn có nhiều vấn đề cần được tháo gỡ một cách
thoả đáng.
Đặc biệt, trong chương trình đổi mới, bài dạy - học hiện nay được
thiết kế theo hướng tích hợp nên có nhiều điều kiện và cơ hội giúp cho học
sinh phát huy tính tích cực chủ động của mình trong thảo luận để xây dựng
bài học, mạnh dạn trình bày những vấn đề chưa hiểu hay còn lúng túng trong
bài học.
Khi dạy tiết 111 - tuần 28: "Câu trần thuật đơn" với mục tiêu cần đạt: nắm
vững khái niệm câu trần thuật đơn; nắm được tác dụng của câu trần thuật
đơn. Sách giáo khoa Ngữ văn 6 trang 101 đã cung cấp cho học sinh một hệ
thống ví dụ.
Ví dụ: (Đoạn trích trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài):
Chưa nghe hết câu, tôi đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài. Rồi, với
điệu bộ khinh khỉnh, tôi mắng:
- Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú mèo
thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào
tổ nông thì cho chết!
5
Tơi về, khơng một chút bận tâm.
Trong đoạn văn được dẫn làm ví dụ nói trên có các loại câu: câu đặc
biệt, câu đơn, câu ghép. Trong q trình cho học sinh tiếp cận với ví dụ đó,
tơi đã tn thủ các bước như sách giáo khoa hướng dẫn, đó là:
- Đọc kỹ đoạn văn, xác định các câu có trong đoạn văn.
- Xác định chủ ngữ, vị ngữ của từng câu văn.
- Xếp các câu trần thuật trên thành hai loại:
+ Câu do một cặp chủ - vị tạo thành.
+ Câu do hai hay nhiều cụm chủ - vị sóng đơi tạo thành.
Sau đó, tơi u cầu học sinh sắp xếp các câu trần thuật trên thành hai
nhóm nhóm câu: 1,2,9 là nhóm câu do một cụm chủ - vị tạo thành.
Từ đó, giáo viên chốt lại theo ghi nhớ của sách giáo khoa: "Câu trần
thuật đơn là loại câu do một cụm chủ – vị tạo thành, dùng để giới thiệu, tả
hoặc kể về một sự việc, sự vật hay để nêu một ý kiến."
Từ kiến thức bài học, ở phần Luyện tập – bài tập 1, trang 101 (trích văn
bản "Cơ Tơ" - của Nguyễn Tn), học sinh đã nhận diện được các câu trần
thuật đơn.
Giáo án minh hoạ tiết dạy.
Tuần 28 - Tiết 111: Câu trần thuật đơn
+Hỏi: câu 4 câu nghi vấn
+Bộc lộ cảm xúc: các câu 3,5,8 câu cảm
thán.
+ Cầu khiến: câu 7 câu cầu khiến.
-Xác đònh chủ ngữ và vò ngữ của 4 câu trần
thuật?
I/ Câu trần thuật đơn là
gì?
1/ Ví dụ 1/ 100
2/ Nhận xét:
-Mục đích của câu dùng
để: kể, tả, nêu ý kiến
(câu1, 2, 6, 9) Câu
trần thuật.
7
*GV:Yêu cầu: hs lên bảng và xác đònh chủ
ngữ và vò ngữ các câu trần thuật.
*1Hs lên bảng và xác đònh chủ ngữ và vò ngữ
các câu trần thuật. Hs dưới lớp cũng làm vào
giấy.
+Tôi // đã hếch răng lên, xì một hơi rõ dài.
CN VN
+Tôi // mắng
CN VN
+Chú mày // hôi như cú mèo.
CN VN
+Tôi // về, không một chút bận tâm.
CN VN
-Câu nào có một cặp chủ – vò ; câu nào có hai
cặp chủ vò?-Hãy sắp xếp 4 câu trên thành hai
-1HS đọc đoạn văn / 101 (Đoạn trích trong tác phẩm Cơ Tơ của Nguyễn
Tn.)
“Ngày thứ năm trên đảo Cơ Tơ là một ngày trong trẻo, sáng sủa. Từ khi
có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cơ Tơ mang lấy dấu hiệu của sự sống con
người thì, sau mỗi lần dơng bão, bao giờ bầu trời Cơ Tơ cũng trong sáng
như vậy. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc đặm
đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. Và nếu cá có vắng tăm
biệt tích trong ngày động bão, thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đơi.”
-Cách thực hiện: HSlàm độc lập. Dùng bút chì xác đònh chủ ngữ, vò ngữ.
Căn cứ vào cặp chủ - vò để xác đònh câu trần thuật đơn. Sau đó cho biết
tác dụng của các câu trần thuật đơn đó.
-Trong đoạn văn có hai câu trần thuật đơn, câu 1 và câu 2.
-Câu 1: Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô // là một ngày trong trẻo, sáng sủa.
dùng để tả cảnh.
-Câu 2:Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cơ Tơ mang lấy dấu hiệu
của sự sống con người thì, sau mỗi lần dơng bão, bao giờ bầu trời Cơ Tơ //
cũng trong sáng như vậy.
dùng để nêu ý kiến, nhận xét.
2/ Bài tập 2,3,4 / 102: Xác đònh kiểu câu và tác dụng.
-Hình thức làm tương tự bài tập 1.
9
Đến tiết 113 - tuần 29, khi dạy bài: "Câu trần thuật đơn có từ “là" thì mục
tiêu cần đạt của tiết dạy này là giúp học sinh: nắm được câu trần thuật đơn có
từ “là”; biết đặt câu trần thuật đơn có từ “là”. Từ kiến thức cần phải đạt được
trong tiết dạy, tôi đã hướng dẫn cho học sinh nắm vững các kiến thức đã học
về: Các thành phần chính của câu; Câu trần thuật đơn để giúp học sinh dễ
dàng phát hiện được dạng câu trần thuật đơn có từ “là” qua hệ thống bốn ví
dụ: a,b,c,d mà sách giáo khoa Ngữ Văn 6 đã cung cấp.
Ba ví dụ: a,b,c: học sinh đều xác định được câu trần thuật đơn có từ "là",
và nêu được tác dụng của chúng.
trần thuật đơn có từ "là". Để giải thích cho học sinh hiểu, bản thân tôi cũng
đã tham khảo một số sách hướng dẫn về nội dung nàỵ Nhưng sách hướng
dẫn chỉ nêu ra các câu b, đ, không phải là câu trần thuật đơn có từ "là" chứ
không giải thích cụ thể vì sao đó không phải là câu trần thuật đơn có từ "là".
Từ hai hướng dẫn trên, tôi đã hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu nòng cốt câu
theo sơ đồ hình chậu, từ đó rút ra kết luận từ sơ đồ đã vẽ.
-Ví dụ b:
Người ta // gọi chàng là Sơn Tinh.
ĐT P1 P2
CN VN
*Ghi chú: P – phụ ngữ.
Câu này cũng là câu có từ "là”, nhưng phải lý giải cho học sinh hiểu tại
sao câu này cũng là câu đơn nhưng không phải là câu trần thuật đơn có từ
"là". Bởi vì từ "là" của câu này không nằm trong cấu trúc: Vị ngữ do từ
"là" kết hợp với danh từ (cụm danh từ) tạo thành hoặc tổ hợp từ giữa từ
"là" với động từ (cụm động từ) hoặc tính từ (cụm tính từ) … cũng có thể
làm vị ngữ.
11
Vị ngữ của câu trên là do:
tạo thành.
Đối chiếu với đặc điểm cấu trúc câu trần thuật đơn thì câu này không
phải là câu trần thuật đơn có từ "là". Vậy hệ từ "là" trong ví dụ b chỉ có
nhiệm vụ giải thích.
Một ví dụ khác: Ví dụ đ trang 116, cũng tương tự. Câu văn:
thức đó, tôi thường tích hợp, củng cố trong các bài dạy (tích hợp ngang).
Đồng thời, khi dạy tiết học sau, tôi lại yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức tiết
trước. Với cách làm thường xuyên như vậy, các em luôn có ý thức ôn luyện
các bài đã học để tiếp cận nhanh với kiến thức được thể hiện trong các bài
mới. Đó cũng là một trong những kinh nghiệm mà tôi thường vận dụng trong
giảng dạy.
III.2: Kết quả đạt được:
Sau năm năm thực hiện chương trình đổi mới sách giáo khoa và thực
hiện giảng dạy bằng phương pháp đối chiếu, tích hợp, đồng thời phát huy
tính tích cực, chủ động của học sinh. Tôi nhận thấy thầy - trò chúng tôi đã
đạt được kết quả khá khả quan.
Về phía học sinh:
a/ Về số lượng:
Đối chiếu, so sánh về kết quả khi dạy nhóm "Câu trần thuật đơn" trong
các phần kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút, tôi thấy:
-Năm học: 2003 - 2004: Số học sinh đạt điểm trung bình và khá trở lên
đạt khoảng: 70%
13
-Năm học: 2004 - đến nay: Số học sinh đạt điểm trung bình và khá trở
lên đạt trên : 80%.
b/ Về chất lượng:
- Qua các tiết học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Các em tham gia xây dựng bài học một cách sôi nổi và hào hứng.
Nhìn chung, học sinh đã ham thích học môn Ngữ văn hơn.
- Bản thân học sinh cũng có ý thức hơn trong việc soạn bài, làm bài theo
hướng tích hợp, biết khai thác, vận dụng linh hoạt các kiến thức trong đời
sống, trong các môn học khác để đưa vào trong bộ môn Ngữ văn.
- Kiến thức truyền thụ cho học sinh luôn được liên tục củng cố và hệ thống
hoá trong quá trình dạy – học.
dạy và hướng dẫnhọc sinh học theo phương pháp đối chiếu, tích hợp một
cách khoa học và sáng tạo sẽ làm cho học sinh hiểu bài nhanh hơn, làm được
nhiều bài tập hơn.
Qua đây, chúng tôi xin kiến nghị, Sở Giáo dục - Đào tạo Hoà Binh và
phòng Giáo dục Lạc Sơn cần cung cấp thêm cho chúng tôi những tài liệu về
phân môn Tiếng Việt (đặc biệt là những vùng kiến thức đang có nhiều tranh
luận) để chúng tôi có thêm tư liệu học tập, tham khảo.
Sở và Phòng cũng thường xuyên mở các lớp chuyên đề về những bài
dạy - học khó trong chương trình để giáo viên bộ môn trong các trường có
dịp học tập, trao đổi nhằm sáng tỏ hơn những vấn đề còn nhiều lúng túng,
tranh cãi để từ đó rút ra được những kinh nghiệm, phương pháp truyền thụ
tinh giản nhưng đạt hiệu quả cao.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm hết sức nhỏ bé được rút ra từ việc
áp dụng trong thực tế giảng dạy của cá nhân. Tôi xin được mạnh dạn trình
bày như trên và kính mong được sự góp ý về mọi mặt của đồng nghiệp. Xin
chân thành cảm ơn!
15