những nhân tố ảnh hưởng nuôi con bằng sữa mẹ - Pdf 29

| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 4.2005, Số 3 (3) 33
1. Đặt vấn đề
Nuôi con bằng sữa mẹ đã được khẳng đònh là
phương cách tốt nhất đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
1
.
Đặc biệt, trẻ em được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ
có xu thế phát triển cả về chiều cao và cân nặng
trong sáu tháng tuổi đầu tiên nhanh hơn so với
những trẻ được nuôi hoặc không được nuôi bằng
sữa mẹ
2
. Hơn nữa, nuôi con bằng sữa mẹ cũng
được xác đònh là một vấn đề rất quan trọng của
phụ nữ vì nó tạo quyền năng cho phụ nữ, góp phần
vào vấn đề công bằng giới và có nhiều lợi ích về
mặt y học ví dụ như làm giảm nguy cơ mắc ung thư
vú, thiếu máu
3
.
Ở Việt Nam, chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng và
các vấn đề khác liên quan đến nuôi con bằng sữa
mẹ đã được quan tâm đáng kể. Một số chính sách
và chương trình đã được thực hiện nhằm tăng cường
việc nuôi con bằng sữa mẹ. Sáng kiến "Bệnh viện
thân thiện trẻ em" (bạn hữu) được bắt đầu thực hiện
từ năm 1992 theo khuyến cáo của UNICEF và
WHO. Hiện nay có khoảng70% các bệnh viện tỉnh
và trung ương đang thực hiện sáng kiến này
4

Nguyễn Thò Hiệp, Vibeke Rasch,
Hanne Overgaard Mogensen
34 Tạp chí Y tế Công cộng, 4.2005, Số 3 (3)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
quan trọng của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với
chất lượng dân số và phát triển bền vững.
Một số nghiên cứu và các cuộc điều tra chỉ ra
là việc bắt đầu cho con bú muộn sau khi sinh, thời
gian nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ngắn đã đóng
vai trò quan trọng liên quan đến tỷ lệ suy dinh
dưỡng cao của trẻ em
6
. Trong khi đó, nếu so sánh
kết quả của cuộc tổng điều tra năm 1997 và năm
2000 ta thấy xu hướng nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ đang dần bò giảm đi và thay vào đó là bắt đầu
cho trẻ ăn các thức ăn bổ sung sớm hơn. Cụ thể tỉ
lệ trẻ em dưới bốn tháng tuổi được nuôi hoàn toàn
bằng sữa mẹ đã giảm từ 27% trong năm 1997
xuống còn 20% trong năm 2002, trong khi đó tỷ lệ
trẻ em được ăn thức ăn bổ sung sữa mẹ lại tăng từ
39% trong năm 1997 lên 43% trong năm 2002
7
.
Với mục đích nhằm tìm hiểu sâu về các yếu tố
rào cản tác động đến nuôi con bằng sữa mẹ tại khu
vực nông thôn Việt Nam, trong bài viết này, dựa
trên quan điểm giới, tác giả sẽ tập trung vào tìm
hiểu và phân tích các yếu tố văn hoá, kinh tế và xã
hội ảnh hưởng đến nuôi con bằng sữa mẹ.

nghiệp, một gia đình chủ yếu làm ngư nghiệp và
buôn bán các sản phẩm ngư nghiệp. Mỗi quan sát
được tiến hành trong 4 ngày tại mỗi gia đình.
Phương pháp viết nhật ký được bốn bà mẹ đang
trong thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ có con từ 2 đến
6 tháng tuổi viết vào một quyển sổ do nghiên cứu
viên chuẩn bò trước với một số chủ đề gợi ý như:
thời gian cho con ăn (sữa mẹ hoặc các thức ăn
khác), các tình huống tác động đến việc cho con ăn,
cho con bú (liệt kê sẵn một số tình huống giả đònh),
sự tham gia của các thành viên khác trong gia đình
vào việc chăm sóc và cho con ăn, cảm nghó và ý
kiến của các bà mẹ sau mỗi ngày về các công việc,
các tình huống đã xảy ra đối với nuôi con bằng sữa
mẹ. Thời gian viết nhật ký là 5 ngày.
3. Kết quả và bàn luận
Nghiên cứu đã được thực hiện tại hai xã Quỳnh
Bảng và Quỳnh Xuân của huyện Quỳnh Lưu thuộc
tỉnh Nghệ An.
Quỳnh Xuân là một xã có cả khu vực đồng
bằng và miền núi trong huyện Quỳnh Lưu với tổng
số diện tích là 1582 ha, trong đó 669 ha được sử
dụng là đất nông nghiệp và 72 ha cho ngư nghiệp.
Một số dân cư của xã còn làm kinh doanh buôn bán
dòch vụ nhỏ. Ngoài ra, người dân Quỳnh Xuân còn
có nghề phụ là khai thác đá và nghiền đá (làm lèn)
tại khu vực núi quanh xã. Tổng số dân trong xã là
11.438 bao gồm 1161 dân theo Công giáo.
Quỳnh Bảng là một xã có nghề chính là nông
và ngư nghiệp, với tổng diện tích là 843ha, trong đó

công việc hàng ngày trong gia đình như nấu nướng,
giặt giũ quần áo, chăm sóc con cái và các công việc
tạo thu nhập như chăn nuôi, làm nông và ngư
nghiệp, buôn bán. Các bà mẹ mới sinh có thể nghỉ
ngơi và không phải làm việc trong những ngày đầu
sau khi sinh, sau đó họ bắt đầu làm các công việc
trong gia đình. Hàng ngày, họ dậy từ 5-6 giờ sáng,
tranh thủ cho con bú và bắt đầu chuẩn bò bữa sáng
cho gia đình, sau đó là các công việc chăn nuôi như
"cho lợn gà ăn, cho bò ăn", giặt giũ áo quần là công
việc tiếp theo, và cứ như vậy người mẹ chỉ có thể
"tranh thủ cho con bú khi con khóc", nhưng nếu dở
việc thì công việc vẫn được ưu tiên hoàn thành
trước. Chính bản thân các bà mẹ cho rằng họ là
"phụ nữ" họ chính là người đảm đương mọi công
việc gia đình và công việc "đồng áng". Các bà mẹ
không thể yên tâm ở nhà chăm sóc con và nuôi con
bằng sữa mẹ thậm chí con còn rất nhỏ trong khi
chồng của họ "làm việc ngoài đồng hoặc làm việc
gì đó nuôi gia đình. Trong gia đình, dù mới sinh và
đang nuôi con bằng sữa mẹ thì các bà mẹ vẫn phải
hoàn thành nghóa vụ là một thành viên làm kinh tế.
"Là người đàn bà trong gia đình, mình làm sao
mà yên tâm ở nhà chăm con trong khi các ông ấy
làm việc. Vì là, có thể mình là phụ nữ mình biết
việc hơn, công việc đồng ruộng mình quen rồi,
mình không thể bỏ lâu được, các ông ấy cũng có
thể làm được nhưng mà làm sao làm bằng mình
được". (Thảo luận nhóm)
Nam giới ở đây, chủ yếu làm công việc khai

cho con ăn sớm, lại phải cố gắng cân bằng nhu cầu
giữa công việc và nuôi con bằng sữa mẹ. Trong
một số trường hợp, thậm chí họ phải chấp nhận
không cho con bú
8
. Còn các bà mẹ không theo đạo,
có khả năng về mặt kinh tế hơn và có thể mua sữa
ngoài cho con ăn bổ sung - loại thức ăn được ưa
chuộng và như một nhãn hiệu của sự khá giả của
các bà mẹ.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy lý giải của
các bà mẹ về việc nuôi con bằng sữa mẹ không đầy
đủ và hợp lý chủ yếu là do đi làm sớm sau khi sinh
9
.
Đặc biệt, cũng như nghiên cứu của Pinka Chatterji,
nghiên cứu này đã cho thấy làm việc trong thời kỳ
sinh nở có ảnh hưởng tiêu cực đến cả việc bắt đầu
cho con bú và thời gian cho con bú
10
.
Trương và cộng sự, trong một nghiên cứu được
thực hiện năm 1995 đã nêu rõ những trẻ em có mẹ
làm nông nghiệp thì được bú sữa mẹ lâu hơn những
trẻ có mẹ làm trong các ngành nghề khác
11
. Tuy
nhiên, như đã trình bày, các bà mẹ làm nông và ngư
36 Tạp chí Y tế Công cộng, 4.2005, Số 3 (3)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |

con ăn dặm trước khi con bốn tháng tuổi nhiều hơn
so với các bà mẹ chỉ có từ một đến hai con. (OR:
2,50; 95% CI: 1,46-4,29) và (OR: 1,88; 95% CI:
1,01-3,51).
Trong khi đó, mô hình nhiều con, cụ thể là một
"gia đình lý tưởng" theo đúng mong đợi của cộng
đồng người dân đòa bàn nghiên cứu là mô hình bốn
con - hai con trai và hai con gái. "Phải có con trai"
là điều cần thiết của mọi gia đình. Quan niệm cần
có con trai để "nối dõi tông đường" là tư tưởng gắn
sâu vào mỗi người dân đòa phương: "Ai cũng thích
có con trai, ai cũng vậy, vì để sau này nối dõi, nhà
nào chưa có con trai thì cứ cố, bây giờ em có con
trai đầu là em yên tâm" (Chò Phương).
"Tôi thích có bốn con, hai trai hai gái, mỗi gia
đình là phải như vậy vì vừa có chò có em, có con gái
con trai. Ngoài ra đứa lớn nó còn trông đứa bé, chứ
không thì có ai mà trông để mình còn đi làm. Tất
nhiên là khó khăn hơn, mình không thể chăm như
có một hay hai đứa được, sẽ không thể cho bú lâu
được" (Chò Nhiên).
"Tôi có sáu con, cứ cách năm một đứa, hắn bé
lắm vì mẹ hắn nỏ có sữa, sáu bảy tháng là nỏ còn
sữa nữa, thế nó mới bé. Tại cái thằng anh, hắn cứ
bé và ốm yếu, sợ nó chết đi thì không còn thằng
nào hết, không còn thằng chống gậy nên cố thằng
này, " (Chò Ba).
Ba là một phụ nữ theo đạo, chò có sáu con, bốn
con gái và hai con trai, hiện con trai út được năm
tháng. Là một gia đình nghèo trong thôn, ngày hai

con lớn có thể cho những đứa nhỏ ăn cho mẹ đi làm.
Cần kết hợp các chương trình nâng cao nhận thức
về giới và nuôi dưỡng trẻ nhỏ với chương trình
khuyến khích các bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng
sữa mẹ trong 4 đến 6 tháng tuổi đầu tiên.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 4.2005, Số 3 (3) 37
Tác giả:
Ths. Nguyễn Thò Hiệp. Thạc só về sức khoẻ quốc tế (MIH);
Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong
phát triển. Đòa chỉ: 19 - A26 Nghóa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội.
E.mail:
Tài liệu tham khảo:
1. WABA (World Alliance for Breastfeeding Action).
Breastfeeding: Healthy mothers and healthy babies. 2002.
2. Hop LT, Gross R, Giay T, Sastroaqmibjojos, Schultink W,
Lang NT. Premature complementary feeding in association
with power growth of Vietnamese children, J Nutr. 2000;
130(11): 2683-90.
3. WABA & ARUGAAN. Breastfeeding, Women and
Work: Human rights and creative solutions. Report of the
WABA International Workshop; 1-5 June 1998; Quezon
City, Philippines.
4. Bộ Y tế (MOH). Báo cáo tại hội nghò quốc tế về nuôi
dưỡng trẻ nhỏ; 11/2002; Hà Nội, Việt Nam.
5. Ibid.
6. Vietnam Inter-censual Demographic Survey 1994, Infant
Feeding Practices in Vietnam. Statistical Publishing House;
Hanoi. May 1996.
7. Vietnam Demographic and Health Survey, 2002. Infant

Hương, Hoàng Kim Dung. Nhập đề về Nhân học xã hội
trong bối cảnh Việt Nam: Nghiên cứu về giới và sức khoẻ
sinh sản ở khu vực ven biển miền Bắc Trung bộ. Uỷ ban
Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam - Đại học
Copenhagen, Đan Mạch. 2004.
17. Tuttle CR and Dewey KG. Determinants of infant feed-
ing choices among Southeast Asian immigrants in northern
California. J Am Diet Assoc. 94(3): 282-6.
18. UNICEF Vietnam. Vietnam Children and Women: A
situation Analysis. 2000.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status