B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH
HUNH TH HI HÀ
MI QUAN H GIA LM PHÁT VÀ TNG
TRNG KINH T TI VIT NAM LUN VN THC S KINH T
TP. H Chí Minh – Nm 2013
B GIÁO DC VÀ ÀO TO
TRNG I HC KINH T THÀNH PH H CHÍ MINH
Không có nghiên cu nào ca ngi khác đc s dng trong lun vn này mà không
đc trích dn theo đúng quy đnh.
Tác gi HUNH TH HI HÀ
MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ðOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ðỀ TÀI 2
1.1. Lý do chọn ñề tài 2
1.2. Mục tiêu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa ñề tài 3
3.3. Phương pháp kiểm ñịnh 28
3.3.1. Kiểm ñịnh tính dừng của chuỗi dữ liệu 30
3.3.2. Kiểm ñịnh ñồng liên kết 31
3.3.3. Mô hình hình VECM ( mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số) và ECM ( mô hình
hiệu chỉnh sai số) 32
3.3.4. Kiểm ñịnh nhân quả Granger 32
3.3.5. Phân rã phương sai (Variance Decomposition) và Hàm phản ứng ñẩy
(Impulse Response Function) 33
CHƯƠNG 4: KIỂM ðỊNH THỰC NGHIỆM MỐI QUAN HỆ LẠM PHÁT VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 34
4.1. Thực trạng về lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 34
4.1.1. Thực trạng về lạm phát ở Việt Nam 34
4.1.2. Thực trạng về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 37
4.1.3. Khảo sát mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 40
4.2. Kết quả phân tích thực nghiệm 44
4.2.1. Mô tả và phân tích về dữ liệu nghiên cứu 44
4.2.1.1. Thống kê mô tả về dữ liệu và hệ số tương quan giữa các biến 44
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Lạm phát và tăng trưởng của Việt Nam theo quý từ năm 1995 ñến quý 2
2013 24
Bảng 4.1: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai ñoạn 1995 ñến quý 2 năm 2013 41
Bảng 4.2: Mô tả về dữ liệu nghiên cứu 45
Bảng 4.3: Hệ số tương quan giữa tăng trưởng và lạm phát 46
Bảng 4.4: Kiểm ñịnh nghiệm ñơn vị 47
Bảng 4.5: Kết quả xác ñịnh trễ thông qua LogL, LR, FPE, AIC, SC, HQ 48
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng mối quan hệ trong ngắn hạn bằng mô hình ECM 52
Hình 4.3: Diễn biến tỷ lệ tăng CPI (%) và GDP (%) giai ñoạn 1995 – quý 2 2013 . 44
Hình 4.4: Hàm phản ứng ñẩy của các biến LnGDP và LnCPI 57 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADF: Augmented Dickey-Fuller Test – Kiểm ñịnh DF mở rộng
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
ECM: Error Correction Model: Mô hình hiệu chính sai số
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GNP: Tổng sản phẩm quốc dân
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
NHNN: Ngân hàng nhà nước
lạm phát chủ yếu là do sự thay ñổi của chính nó và tăng trưởng kinh tế ảnh hưởng
rõ rệt ñến lạm phát. ðiều này cho thấy, khi kích thích tăng trưởng kinh tế là chúng
ta sẽ gây ra một mức lạm phát và chúng ta cần phải chấp nhận vấn ñề này trên thực
tiễn.
Từ khoá: Lạm phát, tăng trưởng kinh tế, ñồng liên kết, nhân quả Granger, mô hình
véc tơ hiệu chỉnh sai số VECM, mô hình hiệu chỉnh sai số ECM, phân rã phương
sai, hàm phản ứng ñẩy.
2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ðỀ TÀI
1.1. Lý do chọn ñề tài
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế luôn là vấn ñề nóng hổi, thu hút
nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới. Việc duy trì lạm
phát ở mức vừa phải ñể vừa tạo ñộng lực tăng trưởng kinh tế, vừa giảm thiểu những
ảnh hưởng xấu do lạm phát gây ra là một thách thức ñối với tất cả các nước. Và
trong những năm gần ñây, sự bất ổn của kinh tế thế giới ñã làm giảm tốc ñộ tăng
trưởng kinh tế và gia tăng lạm phát ở nhiều nước, trong ñó có Việt Nam. Nhiều
nước ñể có ñược mức tăng trưởng cao phải ñánh ñổi với mức lạm phát cao, liệu
Việt Nam có cần ñánh ñổi ñiều ñó hay không? ðể trả lời câu hỏi ñó, tác giả tiến
hành nghiên cứu: mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
trong giai ñoạn từ năm 1995 ñến quý 2 năm 2013.
1.2. Mục tiêu, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu này kiểm ñịnh mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai ñoạn 1995 – ñến hết quý 2 2013.
trước ñó về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này, tác giả trình
bày phương pháp thu thập, phương pháp xử lý và nguồn dữ liệu ñể thực kiểm ñịnh
mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong dài hạn, trong ngắn hạn.
- Chương 4: Kiểm ñịnh thực nghiệm mối quan hệ lạm phát và tăng
trưởng kinh tế. Trong chương này, tác giả trình bày thực trạng tình hình lạm phát
và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong gian ñoạn từ năm 1995 ñến quý 2 năm
2013. ðồng thời, bằng cách sử dụng các phương pháp xử lý số liệu, phương pháp
kiểm ñịnh ñã trình bày trong chương 3 ñể kết luận về mối quan hệ này.
4
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Ở chương này, tác giả tổng kết lại
vấn ñề nghiên cứu, các hạn chế của ñề tài và ñưa ra một số khuyến nghị cho việc
ñiều hành chính sách vĩ mô của chính phủ.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thực tế tổng sản phẩm quốc nội (GDP-Gross
Domestic Product) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP-Gross National Product)
6
hoặc sản phẩm quốc dân ròng (NNP –Net national Product) trong một thời gian nhất
ñịnh. Các nhà kinh tế thường sử dụng chỉ tiêu GDP ñể ño lường tăng trưởng kinh tế.
Trong ñó, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối
cùng ñược sản xuất ra trong phạm vi quốc gia trong một thời kỳ nhất ñịnh. GDP
phản ánh năng lực sản xuất của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất ñịnh.
ðể ño lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt ñối, tốc ñộ tăng
trưởng kinh tế hoặc tốc ñộ tăng trưởng bình quân hằng năm trong một giai ñoạn.
Theo ñó, mức tăng trưởng tuyệt ñối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai thời
kỳ cần so sánh.
Tốc ñộ tăng trưởng kinh tế ñược tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế
kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế thời trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc
ñộ tăng trưởng kinh tế ñược thể hiện bằng ñơn vị %.
Nếu quy mô kinh tế ñược ño lường bằng GDP danh nghĩa thì sẽ có tốc ñộ tăng
trưởng GDP danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế ñược ño lường bằng GDP thực tế
thì sẽ có tốc ñộ tăng trưởng GDP thực tế. Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng
chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu danh nghĩa.
2.1.3. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế vẫn là một tranh cãi về lý thuyết
lẫn những nghiên cứu thực nghiệm. Nhìn chung, các kết quả nghiên cứu cho thấy
lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là quan hệ một chiều, mà có tác ñộng
qua lại lẫn nhau.
Theo lý thuyết tăng trưởng cổ ñiển, trong ñó, Adam Smith là người ñặt nền tảng cho
mô hình tăng trưởng cổ ñiển, lý thuyết này dựa vào bên Cung của nền kinh tế với
hàm sản xuất có biến phụ thuộc là sản lượng (Y) và các biến ñộc lập bao gồm lao
ñộng (L); máy móc thiết bị (K) và ñất ñai (T). Hàm sản xuất có dạng: Y = f (L, K,
T). Các yếu tố dẫn tới tăng trưởng trong mô hình Cổ ñiển ñó là tăng dân số, tăng
thay ñổi bên Cầu của nền kinh tế chỉ tác ñộng vào giá cả và gây nên lạm phát.
Còn các nhà kinh tế theo Trường phái Trọng tiền, ñi ñầu là Milton Friedman, quan
tâm ñến nét ñặc trưng bên Cung của nền kinh tế trong dài hạn. Những người theo
trường phái này tin rằng trong ngắn hạn, bất kỳ một tác ñộng nào qua chính sách tài
khóa và tiền tệ làm thay ñổi tổng cầu, thay ñổi sản lượng và việc làm là không thực
tế, những lợi ích trong dài hạn phải ñược ưu tiên hơn trong ngắn hạn, Trường phái
này dựa vào Lý thuyết lượng tiền ñể giải thích nguyên nhân gây nên lạm phát. Có
8
một số dạng mô tả Lý thuyết lượng tiền, chúng có bản chất giống nhau, chỉ khác
nhau về cách thức thể hiện, dạng thức ñơn giản là phương trình Cambridge mô tả
thị trường tiền tệ cân bằng khi cung tiền (Ms) bằng Cầu tiền (Md), phương trình
Cambridge ñược viết như sau: Ms = k. P. Y. Bên phải của phương trình biểu thị nhu
cầu về tiền của nền kinh tế, với biến P biểu thị mức giá chung của toàn bộ nền kinh
tế; Y là tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh và k là hằng số, Cung
tiền là biến ngoại sinh, ñược xác ñịnh qua chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung
ương. Trong lý thuyết lượng tiền, các nhà kinh tế theo trường phái này giả sử Y
không ñổi và nhu cầu về tiền của nền kinh tế là một tỷ lệ cố ñịnh của GDP theo giá
hiện hành. Lý thuyết về lượng tiền chỉ rõ khi Cung tiền tăng sẽ dẫn tới tăng giá của
nền kinh tế, nói cách khác, lạm phát là sản phẩm của cung tiền tăng cao hơn tỷ lệ
tăng trưởng của nền kinh tế. Nghĩa là, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung
tiền chứ không thực sự tác ñộng lên tăng trưởng kinh tế. Nếu cung tiền tăng nhanh
hơn tốc ñộ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ cung tiền và
hệ số tạo tiền ổn ñịnh thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát. Trong tác phẩm bất
hủ: “Lịch sử tiền tệ của Hợp chủng quốc Hoa kỳ 1817-1960” Milton Friedman và
Anna Schwart ñã viết: “Vấn ñề tiền tệ và giải thích những biến ñộng về giá cả, sản
lượng, việc làm luôn tìm thấy từ biến ñộng của tiền tệ, Chính phủ chịu trách nhiệm
về những biến ñộng tiền tệ này”. Các nhà kinh tế theo Trường phái Tiền tệ luôn ñề
cập tới vai trò của Ngân hàng Trung ương với chức năng kiểm soát mức cung tiền,
trực tiếp kiểm soát tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế, nếu Ngân hàng Trung ương giữ
của nhà sản xuất, ñiều này dẫn tới tăng ñầu tư, tăng năng lực sản xuất của công ty
và tăng trưởng kinh tế. Hai là, lạm phát kéo theo việc phân phối lại thu nhập giữa
các tầng lớp dân cư theo hướng mang mối lợi nhiều hơn cho nhóm có thu nhập cao
(Nhóm này thường nắm giữ tài sản có lợi nhuận cao và thu nhập không phụ thuộc
vào tiền lương). Nhóm thu nhập cao có tỷ lệ ñể dành cao hơn, vì vậy khi có lạm
phát dẫn tới tăng ñể dành và ñây là nguồn vốn ñể tăng ñầu tư, làm giảm lãi suất dẫn
tới tăng trưởng kinh tế. Cùng với quan ñiểm này, một số nhà kinh tế cho rằng lạm
phát làm giảm giá trị tài sản của toàn bộ cộng ñồng dân cư, ñể giá trị tài sản không
bị suy giảm, người dân sẽ tăng ñể dành nhằm cơ cấu lại các loại tài sản họ ñang
10
nắm giữ. Tăng ñể dành ñồng nghĩa với tăng ñầu tư ñể tăng giá trị tài sản của họ, dẫn
ñến tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết tăng trưởng Keynes mới bắt nguồn từ trường phái Keynes với việc ñưa ra
khái niệm về sản lượng tiềm năng, nền kinh tế ñạt mức sản lượng tiềm năng khi ở
vào trạng thái toàn dụng lao ñộng. Toàn dụng lao ñộng ñược hiểu theo nghĩa thất
nghiệp ở mức tỷ lệ tự nhiên – tỷ lệ thất nghiệp không làm tăng hoặc giảm lạm phát.
Mô hình Keynes mới vận hành theo “Cơ chế lạm phát nội tại” nghĩa là, lạm phát
gây nên bởi các biến nội sinh của nền kinh tế: Một là, nếu chính sách kinh tế làm
cho sản lượng (GDP) vượt mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn tỷ lệ thất
nghiệp tự nhiên, các yếu tố khác không ñổi, khi ñó lạm phát sẽ gia tăng vì các nhà
sản xuất sẽ tăng giá sản phẩm và lạm phát nội tại xấu hơn. Hai là, nếu chính sách
kinh tế làm cho GDP giảm xuống dưới mức tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp cao hơn
tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, các yếu tố khác không ñổi, khi ñó lạm phát sẽ giảm vì các
nhà sản xuất sẽ cố gắng sử dụng hết tiềm năng của nền kinh tế bằng cách giảm giá
dẫn tới lạm phát giảm và giảm tỷ lệ thất nghiệp; Ba là, nếu chính sách kinh tế giữ
cho GDP ñứng ở mức sản lượng tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp bằng tỷ lệ thất nghiệp
tự nhiên và nền kinh tế không có các cú sốc bên Cung, khi ñó tỷ lệ lạm phát sẽ
không thay ñổi. ðiểm hạn chế của lý thuyết tăng trưởng Keynes mới ở chỗ các nhà
kinh tế không biết ñược chính xác GDP tiềm năng, tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và
giá trị của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hễ chính phủ áp dụng các biện pháp nhằm ñưa
tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức này, thì giá cả sẽ tăng lên (lạm phát), và có sự
dịch chuyển lên phía trái dọc theo ñường cong Phillips ngắn hạn. Sau khi lạm phát
12
tăng tốc, cá nhân với hành vi kinh tế ñiển hình (hành vi duy lý) sẽ dự tính lạm phát
tiếp tục tăng tốc. Trong khi tiền công danh nghĩa không ñổi, lạm phát tăng nghĩa là
tiền công thực tế trả cho họ giảm ñi. Họ sẽ giảm cung cấp lao ñộng, thậm chí tự
nguyện thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp lại tăng lên ñến mức tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát vẫn giữ ở mức cao. Nếu nhà nước vẫn cố gắng giảm
tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tự nhiên, cơ chế như trên lại xảy ra. Hậu quả là,
trong dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức tự nhiên mà tỷ lệ lạm phát lại bị nâng lên
liên tục. Chính sách của nhà nước như vậy là chỉ có tác dụng trong ngắn hạn, còn về
dài hạn là thất bại. Tập hợp các ñiểm tương ứng với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và các
mức tỷ lệ lạm phát liên tục bị ñẩy lên cao tạo thành một ñường thẳng ñứng. ðường
này ñược gọi là ñường Phillips dài hạn.
Hình 1.2: ðưởng cong Philips ngắn hạn và dài hạn
Bên cạnh ñó, theo Edmund Phelps (1976), trong giai ñoạn lạm phát ñình ñốn những
năm 1970, mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp diễn ra không ñúng như theo
ñường cong Philips và ông ñã cải biên nó thành ñường cong Philips ñiều chỉnh. Ông
cho rằng khi kỳ vọng lạm phát tăng lên thì ñường cong Phillips ngắn hạn sẽ dịch
chuyển sang phải. Như vậy với kỳ vọng lạm phát quá cao thì lạm phát ñình ñốn có
thể xảy ra (vừa có lạm phát cao vừa có thất nghiệp cao) và mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế sẽ ñược biểu diễn theo quy luật Okun (1960) (trong ñó
tốc ñộ tăng trưởng GDP tỷ lệ nghịch với tỷ lệ thất nghiệp)
13
nhất thiết tạo thành một chu trình như lý luận ñã trình bày. ðường cong Phillips rất
hữu ích trong việc hoạch ñịnh chính sách của chính phủ, vì việc quan trọng và chủ
yếu nhất mà một chính phủ quản lý nền kinh tế cần làm là phát triển và tăng trưởng
kinh tế.
2.2.2. Nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế.
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà kinh tế ñã sử dụng mô hình kinh tế lượng khác
nhau ñể kiểm chứng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cả trong
ngắn hạn và dài hạn. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là mối quan hệ một chiều, mà có tác
ñộng qua lại lẫn nhau, là tích cực trong một số trường hợp, nhưng lại là tiêu cực ở
những trường hợp khác. Và lạm phát chỉ tác ñộng tiêu cực ñến tăng trưởng kinh tế
khi ñạt ngưỡng nhất ñịnh nào ñó. Ở mức dưới ngưỡng, lạm phát không nhất thiết tác
ñộng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể tác ñộng tích cực ñến tăng
trưởng kinh tế.
Nghiên cứu của Naqvi và Khan (1989) về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
ñã phát hiện ra một số ñiểm thú vị về lạm phát và tăng trưởng ở Pakistan. Thứ nhất,
hai ông thấy rằng lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ nghịch biến. Thứ hai, hai
ông còn phát hiện ñược mức ngưỡng lạm phát ảnh hưởng ñến tăng trưởng kinh tế
15
tại Pakistan. ðó là Pakistan nên giữ lạm phát ở mức một con số và duy trì tốc ñộ
tăng trưởng GDP trong khoảng 6,5-7 %.
Bên cạnh ñó, Fischer (1993) ñã ñưa ra kết luận nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế thông qua việc khảo sát một số biến vĩ mô của 93 quốc
gia như sau: Thứ nhất, khi lạm phát tăng ở mức ñộ thấp mối quan hệ này có thể
không tồn tại, hoặc thậm chí mang tính ñồng biến. Thứ hai, khi lạm phát ở mức cao
thì mối quan hệ này là nghịch biến. Tuy nhiên, hạn chế của ông là không chỉ ra
ñược mức cao là bao nhiêu thì sẽ có quan hệ nghịch biến và ảnh hưởng tiêu cực ñến
tăng trưởng kinh tế.
mục tiêu bằng số cụ thể cho chính sách: giữ lạm phát dưới mức ngưỡng.
Barro (1996) cũng ñã nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ tăng trưởng - lạm phát
thông qua việc khảo sát diễn biến này tại 100 quốc gia trong thời gian ba mươi năm
kể từ năm 1960 ñến 1990, với các biến là tăng trưởng kinh tế GDP, tỷ lệ lạm phát,
và các nhân tố quyết ñịnh khác của tăng trưởng kinh tế bao gồm tốc ñộ tăng trưởng
GDP bình quân ñầu người thực tế và tỷ lệ ñầu tư so với GDP. ðể ñánh giá tác ñộng
của lạm phát ñối với tăng trưởng kinh tế, tác giả ñã sử dụng phương trình hồi quy,
trong ñó các nhân tố quyết ñịnh của tăng trưởng là hằng số. Khung lý thuyết mô
hình ñược dựa trên quan ñiểm mở rộng của mô hình tăng trưởng Tân cổ ñiển, ñược
trình bày bởi Barro and Salai-Martin (1995). Ngoài ra, ñể ước lượng tác ñộng của
lạm phát ñến tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ và các nhân tố
quyết ñịnh khác của tăng trưởng kinh tế ñược coi là biến giải thích. Kết quả cho
thấy, lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực ñến tăng trưởng kinh tế và lạm phát cao và
kéo dài gây suy giảm tăng trưởng kinh tế. Nếu gia tăng lạm phát trung bình 10 ñiểm
phần trăm mỗi năm sẽ làm tốc ñộ tăng trưởng GDP bình quân ñầu người thực tế
giảm 0.2-0.3 ñiểm phần trăm và tỷ lệ ñầu tư so với GDP giảm 0.4-0.6 ñiểm phần
trăm mỗi năm.
Theo sau ñó, Malla (1997) cũng ñã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ lạm phát và
tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia OECD và một số nước châu Á một cách riêng
biệt. Malla (1997) ñã phát hiện ra có mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa giữa
lạm phát và tăng trưởng tại các nước OECD, trong khi mối quan hệ này tại các nước