BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ĐẶNG THỊ THU HIỀN NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ
RỦI RO THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỊ THU HIỀN
CV : Cho vay
DTTK : Dự trữ thanh khoản
KH : Khách hàng
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng nhà nước
QTRRTK : Quản trị rủi ro thanh khoản
RRTK : Rủi ro thanh khoản
TSC : Tài sản có
TSN : Tài sản nợ
TCKT : Tổ chức kinh tế
TCTD : Tổ chức tín dụng
TG : Tiền gửi
VN : Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu tài sản có của hệ thống NHTM một số nước năm 2012 27
Bảng 2.2: Thống kê một số chỉ tiêu cơ bản tình hình hoạt động của hệ thống các
TCTD đến 31/12/2012, 34
Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn của 22 NHTM năm 2012 37
Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng các NHTM năm 2012 38
Bảng 2.5: Tình hình tổng tài sản của các NHTM Việt Nam năm 2012 40
Bảng 2.6: Vốn tự có của các NHTM Việt Nam năm 2012 42
Bảng 2.7: Tỷ lệ an toàn vốn của một số NHTM năm 2012 43
Bảng 2.8: Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của một số NHTM năm 2012 44
Bảng 2.9: Hệ số H1 và H2 tại các NHTM năm 2011-2012 49
Bảng 2.10: Chỉ số trạng thái tiền mặt của các NHTM năm 2011-2012 50
Bảng 2.11: Chỉ số năng lực cho vay của các NHTM năm 2011-2012 52
Bảng 2.12: Chỉ số Dư nợ trên tiền gửi của khách hàng tại các NHTM năm 2011-
2012 53
Bảng 2.13: Chỉ số chứng khoán thanh khoản tại các NHTM năm 2011-2012 54
1.2.4.4 Kiểm soát rủi ro thanh khoản 9
1.2.4.5 Tài trợ rủi ro thanh khoản 11
1.3. Hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản các NHTM 11
1.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình quản trị rủi ro thanh khoản hoàn thiện 11
1.3.2. Các chỉ số đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản 13
1.4 Kinh nghiệm từ quản trị rủi ro thanh khoản một số nước trên thế giới và bài học
cho hệ thống các NHTM Việt Nam. 15
1.4.1 Kinh nghiệm từ quản trị rủi ro thanh khoản của các nước trên thế giới 15
1.4.1.1 Mỹ 15
1.4.1.2 Ấn độ 20
1.4.1.3 Irael 22
1.4.2. Bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro thanh khoản cho các NHTM Việt
Nam 23
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN
TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 25
2.1. Tổng quan về hệ thống NHTM Việt Nam 25
2.1.1Giới thiệu tổng quát về các NHTM Việt Nam 25
2.1.2.Môi trường hoạt động của các NHTM Việt Nam 29
2.1.2.1. Môi trường pháp lý, khả năng quản lý và giám sát hệ thống NHTM 29
2.1.2.2 Tác động của nền kinh tế vĩ mô 32
2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam 34
2.1.3.1. Thống kê chung của NHNN 34
2.1.3.2. Hoạt động huy động vốn 36
2.1.3.3. Hoạt động tín dụng 38
2.1.3.4. Quy mô tài sản, vốn tự có và hệ số an toàn vốn 40
2.1.3.5. Kết quả hoạt động kinh doanh 43
2.2. Thực trạng hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 45
2.2.1 Bộ máy quản trị rủi ro thanh khoản 45
2.2.2 Các phương pháp và quy trình thực hiện quản trị rủi ro thanh khoản 47
2.2.3 Phân tích hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam 49
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản trị rủi ro thanh khoản có một vị trí rất quan trọng trong quá trình hoạt
động kinh doanh của các NHTM. Rủi ro thanh khoản là một rủi ro đặc biệt nguy
hiểm có thể gây ra hàng loạt các tác hại nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng
như giảm năng lực tài chính, giảm uy tín ngân hàng, mất khả năng thanh toán và có
thể dẫn đến việc ngân hàng bị phá sản. Đặc biệt nghiêm trọng hơn khi rủi ro thanh
khoản của một ngân hàng có thể gây ra các phản ứng dây chuyền tác động xấu đến
toàn bộ hệ thống ngân hàng, toàn bộ thị trường tài chính và ảnh hưởng gây suy
thoái nền kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay các NHTM đang phải đương đầu với
rất nhiều thách thức từ cả trong và ngoài nước: Thứ nhất, là hệ lụy từ cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu mà khơi nguồn là từ thị trường cho vay dưới tiêu chuẩn
của Mỹ; Thứ hai, là từ hàng loạt các chính sách cứng rắn, mạnh tay của NHNN
nhằm thắt chặt chính sách tiền tệ kiểm soát lạm phát trong nước. Chính những tác
động này đã gây ra những khó khăn về tình trạng thanh khoản ở các NHTM Việt
Nam trong thời gian vừa qua.
Về bản chất hoạt động của các NHTM luôn gắn liền với nhiều loại rủi ro khác
nhau, trong đó nổi bật nhất là rủi ro thanh khoản. Các nhà kinh tế đã từng nhận xét
kinh doanh ngân hàng là ngành kinh doanh rủi ro, và quản lý ngân hàng chính là
việc quản trị rủi ro, do vậy luôn đòi hỏi hoạt động quản trị rủi ro phải luôn được ưu
tiên nhận sự quan tâm nhiều nhất.
Thực tế là các NHTM hiện nay đã đều nhận thấy tầm quan trọng của việc quản
trị rủi ro, và đặc biệt là quản trị rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên việc xây dựng, tổ
chức và chiến lược quản trị RRTK ở các ngân hàng chưa phải đã hiệu quả, đúng đắn
và phù hợp các thông lệ quốc tế. Chính vì vậy mà cần phải có một sự nghiên cứu,
đánh giá thực sự sâu sắc về hoạt động quản trị RRTK.
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro
thanh khoản tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu
với mong muốn góp phần làm sáng tỏ hoạt động quản trị RRTK ở các ngân hàng
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro thanh khoản tại NHTM.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt
Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản tại các
NHTM Việt Nam.
4
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THANH KHOẢN VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về rủi ro thanh khoản trong ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm thanh khoản và rủi ro thanh khoản ngân hàng.
Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách
nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể. Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai
tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận với tài sản và
nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của
ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền
thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh. Trong khi đó, nguồn vốn có tính
thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
Vào tháng 2/2000, Ban quản lý rủi ro của hội đồng Bassel về giám sát hoạt
động ngân hàng (BCBS) đã đưa ra các quy định về rủi ro thanh khoản trong ngân
hàng. BCBS đã khẳng định rằng tính thanh khoản của ngân hàng được xác định là
khả năng để tài trợ, cấp vốn cho sự tăng tài sản và đáp ứng được các nghĩa vụ, ràng
buộc khi chúng đến hạn.
Rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh từ trạng thái mà NHTM không có
được đủ vốn khả dụng - cung thanh khoản vào thời điểm mà NHTM cần để đáp ứng
+ Khi NLP < 0: cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh
khoản. Ngân hàng phải đối phó với tình trạng thâm hụt thanh khoản, nhà quản lý
phải quyết định xem vốn thanh khoản bổ sung sẽ được huy động ở đâu và vào lúc
nào với chi phí hợp lý nhất.
+ Khi NLP > 0: tổng cung thanh khoản vượt quá tổng cầu thanh khoản và
nhà quản lý phải xem xét việc đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư thanh khoản
này cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng yêu cầu thanh khoản trong
tương lai.
+ NLP = 0: cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản. Tuy nhiên đây là
tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế.
6
Về mặt quản trị, thừa hay thiếu thanh khoản nhiều đều là dấu hiệu không tốt.
Thừa thanh khoản cho thấy tình trạng quản lý sử dụng vốn kém, hiệu quả sinh lời
kém; thiếu thanh khoản sẽ dẫn đến tình trạng mất an toàn trong khả năng thanh toán
của ngân hàng.
1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh từ hoạt động bên tài sản nợ hoặc tài sản có
của ngân hàng.
Nguyên nhân bên tài sản nợ:
Rủi ro thanh khoản có thể phát sinh bất cứ khi nào khi những người gửi tiền
thực hiện rút tiền ngay lập tức. Khi những người gửi tiền rút tiền đột ngột, buộc
ngân hàng phải đi vay bổ sung hoặc phải bán bớt tài sản (chuyển hóa tài sản có
thành dạng tiền mặt) để đáp ứng khả năng thanh khoản.
Trong tất cả các nhóm thuộc tài sản có, thì tiền mặt có mức độ thanh khoản
cao nhất, chính vì vậy, ngân hàng sử dụng tiền mặt là phương thức đầu tiên và trực
tiếp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Nhưng điều đáng tiếc là tiền mặt không mang
lại thu nhập lãi suất, do đó các ngân hàng luôn có xu hướng giảm thiểu tài sản có ở
dạng tiền mặt.
xuyên liên tục, nó xuất phát từ những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất: Sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời. Ngân hàng
càng tập trung nhiều vốn để đáp ứng yêu cầu thanh khoản thì khả năng sinh lời dự
tính của nó càng thấp và ngược lại. Như vậy, vấn đề đặt ra là các ngân hàng phải
thực hiện quản trị thanh khoản để một mặt để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra trong
hoạt động kinh doanh nhưng mặt khác đảm bảo được khả năng sinh lời cần thiết.
Thứ hai: Quản trị rủi ro thanh khoản giúp NHTM tránh hoặc giảm thiểu
những hậu quả do rủi ro thanh khoản gây ra.
Như vậy, việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách thường
xuyên và trong những trường hợp đặc biệt khẩn cấp là yêu cầu cấp thiết và là nội
dung quan trọng trong công tác quản trị của ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro. Nó liên
quan tới sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng và của cả hệ thống.
8
1.2.3. Ảnh hưởng của quản trị rủi ro thanh khoản đến hoạt động kinh doanh
ngân hàng.
Thứ nhất, do có sự đánh đổi giữa khả năng thanh khoản và khả năng sinh lời
của ngân hàng nên quản trị thanh khoản tốt sẽ làm giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra
trong hoạt động kinh doanh đồng thời vẫn đảm bảo được khả năng sinh lời cần
thiết.
Thứ hai, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra sẽ để lại những hậu quả to lớn:
Làm tăng chi phí do ngân hàng phải huy động với lãi suất cao hơn để đáp
ứng nhu cầu thanh khoản (mua thanh khoản trên thị trường); giảm thu nhập do ngân
hàng phải bán các chứng khoán hoặc các tài sản khác với giá thấp. Hậu quả dẫn đến
giảm giá trị thị trường vốn chủ sở hữu của NHTM.
Nếu thiếu vốn khả dụng kéo dài, chậm được khắc phục có thể làm mất uy tín
của ngân hàng trên thị trường, gây sức ép và trở ngại cho quá trình huy động vốn và
cho vay, giảm thấp khả năng sinh lời. Mức độ nghiêm trọng hơn là xảy ra hiệu ứng
dây chuyền bằng hiện tượng rút tiền ồ ạt của người gửi tiền, có thể đẩy NHTM đến
dùng cho dự trữ và vốn dùng cho kinh doanh, phần dự trữ này có thể lớn, nhỏ tùy
thuộc vào quan điểm của nhà quản lý đối với rủi ro, nghĩa là nhà quản lý sẵn sàng
chấp nhận khả năng ngân hàng rơi vào trạng thái thiếu tiền mặt là bao nhiêu.
1.2.4.4 Kiểm soát rủi ro thanh khoản
Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi ro. Đó chính là việc sử dụng
các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn
ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu các tổn thất, những ảnh hưởng không mong
muốn có thể xảy ra đối với ngân hàng. Qua nhiều năm, các nhà quản lý ngân hàng
đã phát triển một số chiến lược nhằm giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng:
Chiến lược quản lý Tài sản Có, chiến lược quản lý Tài sản Nợ và chiến lược quản lý
phối hợp.
Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” (dự trữ, bán các
chứng khoán và tài sản)
10
Đây là chiến lược cổ điển nhất trong việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Chiến
lược này đòi hỏi ngân hàng tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ những tài sản
có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán ngắn hạn. Khi xuất
hiện nhu cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ bán lần lượt các tài sản dự trữ cho đến khi
nhu cầu thanh khoản được đáp ứng. Chiến lược quản trị thanh khoản theo hướng
này thường được gọi chiến lược chuyển đổi tài sản, bởi vì nguồn cung thanh khoản
được tài trợ bằng cách chuyển đổi tài sản phi tiền mặt thành tiền mặt.
Những tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm: trái phiếu kho bạc, các khoản
vay ngân hàng trung ương, trái phiếu đô thị, tiền gửi tại các ngân hàng khác, chứng
khoán của các cơ quan chính phủ, chấp phiếu của ngân hàng khác. Như vậy, trong
chiến lược quản trị thanh khoản dựa trên tài sản “Có”, một ngân hàng được coi là
quản trị thanh khoản tốt nếu ngân hàng này có thể tiếp cận nguồn cung thanh khoản
với chi phí hợp lý, số lượng vừa đủ theo yêu cầu và kịp thời.
Áp dụng: Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản “Có” thích hợp với
khả năng sinh lời và giảm thiểu được hạn chế của 2 chiến lược trên nên được các
ngân hàng áp dụng phổ biến nhất.
1.2.4.5 Tài trợ rủi ro thanh khoản
Mặc dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn có thể xảy
ra. Khi đó, trước hết cần theo dõi, xác định chính xác những tổn thất về tài sản,
nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý. Sau đó, cần thiết lập các biện pháp tài trợ
phù hợp. Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: Tự khắc phục và
chuyển giao rủi ro.
1.3. Hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản các NHTM
1.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình quản trị rủi ro thanh khoản hoàn
thiện
Các ngân hàng thương mại muốn quản trị rủi ro hiệu quả trước hết cần thiết
phải thành lập bộ phận quản lý tài sản “Nợ”, tài sản “Có” (từ cấp phòng hoặc tương
đương trở lên) để theo dõi và quản lý khả năng chi trả hàng ngày. Bộ phận quản lý
tài sản “Nợ”, tài sản “có” do Tổng Giám đốc (Giám đốc) hoặc Phó Tổng Giám đốc
(Phó giám đốc) được ủy quyền phụ trách.
12
Các NHTM phải xây dựng và ban hành quy định nội bộ về quản lý khả năng
chi trả với đồng Việt Nam, đồng Euro, đồng Bảng Anh và đồng đô la Mỹ, trong đó
tối thiểu phải có các nội dung sau:
- Phân cấp, ủy quyền, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn các bộ phận, cá
nhân có liên quan trong việc quản lý tài sản “Nợ”, tài sản “Có” và việc đảm bảo duy
trì tỷ lệ khả năng chi trả.
- Có quy trình thống kê, xây dựng, quản lý theo dõi kỳ hạn đối với “Tài
sản nợ, tài sản “có”. Hệ thống đo lường đánh giá và báo cáo về khả năng chi trả,
khả năng thanh khoản và hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro thiếu hụt tạm thời khả
năng chi trả và giải pháp xử lý
- Có các phương án xử lý, bảo đảm khả năng chi trả , khả năng thanh
khả năng của ngân hàng đối mặt với các loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro vận
hành. Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo
ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo
vệ những người gửi tiền.
Chính vì lý do trên, các nhà quản lý ngành ngân hàng các nước luôn xác định
rõ và giám sát các ngân hàng phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu. Tại
Việt Nam theo Thông tư 13/2010/TT-NHNN, tỷ lệ này là 9%, còn theo chuẩn mực
Basel mà các hệ thống ngân hàng trên thế giới áp dụng phổ biến thì vẫn là 8%.
Chỉ số H1 và H2
Chỉ số H1 phản ánh tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng vốn huy động của ngân
hàng, H2 phản ánh tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản có của ngân hàng. Tiêu
chuẩn chung của hai hệ số H1 và H2 là lớn hơn 5%.
Chỉ số trạng thái tiền mặt (H3):
Trạng thái
tiền mặt
=
=
Tiền mặt
+
+
Tiền gửi tại các
định chế tài chính
Tổng tài sản có
Về mặt lý thuyết, chỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng có khả năng thanh
toán tức thời để xử lý các nhu cầu tiền mặt tức thời. Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này trên
thực tế quá cao thì sẽ làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống bởi vì các tài
sản tiền mặt hoặc tương đương tiền thường ít đem lại lợi tức cao cho ngân hàng. Do
14
H7 nhỏ hơn 1.
Chỉ số (Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD) / Tiền gửi khách hàng (H8)
15
Chỉ số này càng cao thì càng có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản,
nhưng khả năng sinh lời không cao.
Ngoài ra các NHTM có thể sử dụng các chỉ số sau để đo lường rủi ro thanh
khoản:
Vị trí thanh khoản
cho vay qua đêm
=
=
Tổng cho vay qua đêm
-
-
Tổng nợ qua đêm
Tài sản "Có"
Khả năng thanh khoản tăng khi chỉ số này tăng.
Tỷ số thành phần
tiền biến động
ơ
=
Tiền gửi giao dịch
Tổng số tiền gửi
Tỷ số này giảm thể hiện yêu cầu thanh khoản giảm vì tính ổn định của tiền gửi tăng.
1.4. Kinh nghiệm từ quản trị rủi ro thanh khoản một số nước trên thế giới
và bài học cho hệ thống các NHTM Việt Nam.
1.4.1. Kinh nghiệm từ quản trị rủi ro thanh khoản của các nước trên thế giới
Tất cả các ngân hàng nên có các chính sách và thủ tục được ban giam đốc
thông qua từng ngày để quản lý thanh khoản. Chiến lược thanh khoản và các chính
sách nên được thông báo trong toàn ngân hàng. Ban giám đốc phải thường xuyên
thông báo về trạng thái thanh khoản của ngân hàng và ban giám đốc cũng phải đảm
bảo rằng các quản lý cấp cao kiểm tra và giám sát rủi ro thanh khoản. Các nhà quản
lý cũng cần thiết đưa ra các chính sách phù hợp để xem xét thường xuyên giới hạn
về quy mô trạng thái thanh khoản. Phần quan trọng của quá trình đo lường các yêu
cầu vốn sắp tới là cần phải phân tích thanh khoản theo nhiều kịch bản khác nhau,
các giả thiết cơ bản cho từng kịch bản cần phải được xem xét trong từng thời kỳ.
Một chính sách để quản lý vốn và thanh khoản hợp lý bao gồm:
Thiết lập hội đồng ALCO.
Xem xét định kỳ cấu trúc tiền gửi của ngân hàng (các nhóm tiền gửi,
sự phân phối kỳ hạn, lãi suất, quỹ công).
Các phương pháp tính toán các chi phí cấp vốn.