Luận văn thạc sĩ Hành vi giao dịch của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN VIẾT CƯỜNG
HÀNH VI GIAO DỊCH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

5. Cấu trúc của luận văn: 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI 6
1.1. Lý thuyết tài chính truyền thống so với Lý thuyết Tài chính hành vi: 6
1.2. Các yếu tố hành vi tác động đến qui trình ra quyết định của NĐT: 7
1.2.1. Lý thuyết tự nghiệm - Heuristic theory: 8
1.2.2. Thuyết triển vọng - Prospect Theory: 10
1.2.3. Các nhân tố thị trường: 12
1.2.4. Tâm lý bầy đàn: 14
1.3. Quyết định giao dịch và hiệu quả đầu tư chứng khoán: 17
1.3.1. Quyết định bán: 17
1.3.2. Quyết định mua: 17
1.3.3. Hiệu quả đầu tư: 18
1.4. Những nghiên cứu trước đây: 20
1.5. Mô hình nghiên cứu: 24

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 26
2.1. Phương pháp nghiên cứu: 26
2.2. Loại hình nghiên cứu: 26
2.3. Thiết kế nghiên cứu: 27
2.4. Phương pháp thu thập dữ liệu: 28
2.5. Lựa chọn người trả lời: 29
2.6. Thiết kế phép đo và bảng câu hỏi: 30
2.7. Quy trình phân tích số liệu: 33
2.8. Độ tin cậy của phép đo: 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1. Thông tin cơ bản: 38
3.2. Phân tích nhân tố các biến hành vi ảnh hưởng lên quyết định của NĐT cá

5.2. Đóng góp của luận văn: 66
5.3. Hạn chế của đề tài: 67
5.4. Những kiến nghị: 68
5.4.1. Đối với NĐT cá nhân Việt Nam: 68
5.4.2. Đối với các Sở giao dịch, Bộ tài chính: 69
5.5. Đề nghị các hướng nghiên cứu tiếp theo: 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi khảo sát cuối cùng
Phụ lục 3.1: Phân tích nhân tố EFA
Phụ lục 3.2: Kiểm định Cronbach’s Alpha cho các biến nhân tố
Phụ lục 3.3: Phân tích cấu trúc SEM của các nhân tố hành vi và hiệu quả đầu tư
Phụ lục 4: Thông tin về các cuộc phỏng vấn
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Hàm giá trị (Tversky & Kahneman, 1974) 11
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu các nhân tố hành vi tác động đến các quyết định và
hiệu quả đầu tư của NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam 25
Hình 3.1: Quy trình phân tích dữ liệu 36
Hình 4.1: Phân phối mẫu về giới tính 38
Hình 4.2: Phân phối mẫu về tuổi và thời gian tham gia TTCK 38
Hình 4.3: Tỷ lệ người trả lời tham dự khóa học về thị trường chứng khoán 39
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. EFA (EXPLORATORY FACTOR ANALYSIS): Phân tích nhân tố khám phá
2. NĐT: NĐT
3. Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
4. Tr.: trang
5. TTCK: Thị trường chứng khoán
6. VN-Index: Vietnam Index (Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam)

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Mặc dù TTCK Việt Nam đã phát triển đáng kể cả về số lượng cổ phiếu niêm yết và
giá trị giao dịch trong hơn 12 năm qua, nhưng biến động giá cổ phiếu vẫn rất thất
thường trong từng khoảng thời gian khác nhau và sự hiểu biết về tài chính hành vi
của các NĐT cá nhân và các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của
họ là rất hạn chế. Các yếu tố hành vi là yếu tố tâm lý bao gồm cả cảm xúc và nhận
thức, cái mà đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định của NĐT. Sự
phát triển của TTCK Việt Nam bị ảnh hưởng bởi quyết định của NĐT được tóm tắt
trong những giai đoạn quan trọng được liệt kê dưới đây.
Bắt đầu từ 100 điểm vào năm 2000, sau một năm, vào tháng sáu năm 2001, VN-
Index gấp hơn năm lần và đạt tới đỉnh cao ở 571 điểm. NĐT đã quá vui mừng và
mơ ước kiếm tiền một cách nhanh chóng, nhu cầu tăng mạnh trong khi chỉ có vài
cổ phiếu niêm yết trên thị trường. Tuy nhiên, đó là sự thiếu xót về kiến thức và tâm
lý của các NĐT cũng như thiếu sự hỗ trợ từ các nhà chức trách đã làm cho VN-

kết thúc ở mức độ tương tự như năm 2008, xung quanh 316 điểm. Dự báo này là
không chính xác vì vào cuối năm 2009, VN-Index tăng hơn 1.5 lần so với năm
2008. Do đó, có thể nói rằng các phương pháp dự báo dựa trên các lý thuyết tài
chính thông thường không phù hợp với TTCK Việt Nam trong bối cảnh này.
Những lý thuyết này cho rằng các NĐT là hợp lý và tối đa hóa tài sản của mình
bằng cách làm theo các quy tắc tài chính cơ bản và ra quyết định đầu tư khi cân
nhắc kỹ giữa rủi ro và lợi nhuận. Tuy nhiên, mức độ chấp nhận rủi ro của các NĐT
phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân của họ và thái độ đối với rủi ro. Do đó, thật cần
thiết để khám phá các yếu tố hành vi có ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định của
các NĐT cá nhân trên TTCK Việt Nam hiện tại để giúp các NĐT cũng như các
công ty chứng khoán làm tốt hơn những dự đoán và quyết định cho việc kinh doanh
của họ. Tài chính hành vi có thể hữu ích trong trường hợp này bởi vì nó dựa trên
tâm lý học để giải thích tại sao người ta mua hay bán cổ phiếu.
Nhiều nhà nghiên cứu xem tài chính hành vi như là một lý thuyết tốt để hiểu và giải
thích được những cảm xúc và nhận thức sai lầm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư.
Những người ủng hộ tài chính hành vi tin rằng việc nghiên cứu khoa học xã hội
3
như tâm lý học có thể giúp hé lộ những hành vi trong thị trường chứng khoán, bong
bóng thị trường và các cuộc khủng hoảng (Gao và Schmidt, 2005, tr.37). Có hai lý
do tại sao tài chính hành vi là quan trọng và thú vị để áp dụng cho TTCK Việt
Nam. Thứ nhất, tài chính hành vi vẫn còn là một chủ đề mới để nghiên cứu. Cho
đến gần đây, nó được chấp nhận như một mô hình khả thi để giải thích tại sao các
NĐT trên thị trường tài chính đưa ra những quyết định và sau đó những quyết định
này ảnh hưởng đến thị trường tài chính. Thứ hai, do một số bằng chứng chủ quan,
khoa học, và thực nghiệm; có thể kết luận rằng các NĐT châu Á, bao gồm Việt
Nam, thường bị lệch lạc về nhận thức hơn so với những NĐT từ các nền văn hóa
khác (Kim và Nofsinger, 2008, trang 1). Vì vậy, việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng

• Áp dụng tài chính hành vi để xác định các yếu tố hành vi có thể ảnh hưởng đến
quyết định đầu tư của NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam.
• Xác định mức độ tác động của các yếu tố hành vi lên quyết định đầu tư và hiệu
quả của các NĐT cá nhân tại TTCK Việt Nam.
• Đưa một số kiến nghị cho các NĐT cá nhân để điều chỉnh hành vi của họ để đạt
được kết quả đầu tư tốt hơn.
Để có được những mục tiêu nghiên cứu, một số câu hỏi được đưa ra cho tác giả
trong quá trình nghiên cứu. Luận văn này được thực hiện bằng việc trả lời những
câu hỏi sau đây:
- Các biến hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cá nhân tại thị TTCK
Việt Nam là gì và chúng thuộc về yếu tố nào?
- Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT cá nhân tại TTCK
Việt Nam ở mức độ tác động nào?
- Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các NĐT cá nhân tại
TTCK Việt Nam ở mức độ tác động nào?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào các NĐT cá nhân năng
động ở TTCK Việt Nam. Năng động nghĩa là các NĐT rất thích đầu tư, có thể nói
5
là họ có kiến thức về thị trường tài chính trên mức trung bình và họ được chọn ra
một cách ngẫu nhiên bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên.
4. Ý nghĩa của luận văn:
Đối với NĐT cá nhân: Luận văn phân tích các yếu tố tác động đến hành vi tài chính
của NĐT cá nhân, đánh giá một cách khách quan hành vi đầu tư của họ. Từ đó, đưa
ra những giải pháp và kiến nghị thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong tiến trình
ra quyết định của các NĐT cá nhân và giúp cho họ tránh được những suy nghĩ sai
lầm khi đưa ra các quyết định đầu tư.

trường chứng khoán đã được chứng minh là phản ứng thái quá với thông tin bởi
DeBondt và Thaler (1985, tr.392-393). Hơn nữa, Shefrin và Statman (1985, tr.777)
khẳng định rằng NĐT có xu hướng sẵn sàng bán cổ phiếu đang có lời của họ hơn là
cổ phiếu đang thua lỗ ngay cả khi đặt những khoản đầu tư thua lỗ này vào mức giá
là sự lựa chọn tốt nhất. Nếu những nghiên cứu này là bước khởi đầu của tài chính
hành vi, thì lĩnh vực này đã có hơn hai thập kỷ phát triển. Lĩnh vực này nghiên cứu
bổ sung cho những lý thuyết tài chính truyền thống (standard theories of finance) bằng
việc giới thiệu hành vi tác động đến tiến trình ra quyết định. Trái ngược với quan
điểm của Markowitz và Sharp, tài chính hành vi liên quan đến cá nhân và cách thức
thu thập, sử dụng thông tin. Nghiên cứu lý thuyết tài chính hành vi giúp hiểu và dự
báo những dính líu giữa quá trình ra quyết định mang tính tâm lý với hoạt động tài
chính.
7
Ban đầu, tài chính hành vi không được chấp nhận rộng rãi và nghiên cứu của
DeBondt và Thaler không phải là một ngoại lệ vì nó bị nghi ngờ và phải đối mặt
với rất nhiều tranh luận. Lúc đầu, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc định
giá tài sản, tuy nhiên, gần đây, những ảnh hưởng nhiều hơn lên NĐT hợp lý cái mà
các nhà quản lý có thể gặp phải trong quá trình ra quyết định đã được đưa vào
nhiều mô hình. Barberis và Thaler được coi là một trong những nhà nghiên cứu nổi
tiếng, người cung cấp một nghiên cứu xuất sắc về các loại lệch lạc hành vi khác
nhau có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư chứng khoán cũng như thị trường
tài chính.
Mặc dù là một lĩnh vực gây nhiều tranh cãi với các nhà nghiên cứu tài chính theo
quan niệm truyền thống, nhưng tài chính hành vi đang dần khẳng định vị trí then
chốt trong xu hướng tài chính ngày nay. Bằng sự gắn kết lý thuyết về hình thành
tâm lý với ngành tài chính và kinh tế học cổ điển, tài chính hành vi là chìa khóa
giúp tìm ra lời giải thích cho các quyết định liên quan đến kinh tế. Trước đây, quá

chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm mà chúng ta có được trong quá khứ. Ngay từ
khi mới sinh ra, con người đã có xu hướng phân loại các hiện tượng, sự vật và suy
nghĩ. Khi con người đối mặt với một hiện tượng mới, không hoàn toàn phù hợp với
hiện tượng đã phân loại trước đó, họ cũng sẽ cố đưa chúng vào một tập hợp nào đó
dựa trên những sự tương đồng đã kiếm được và từ đó sẽ định hình nên nền tảng để
họ có thể hiểu biết về những nhân tố mới.
Cách thức tiếp thu này cung cấp một công cụ hữu hiệu cho việc xử lý thông tin mới
bằng cách đồng thời kết hợp với những kinh nghiệm có liên quan trong quá khứ.
Tuy nhiên, dựa vào tình huống điển hình có thể tạo ra một số lệch lạc như suy ra xu
hướng thị trường trong tương lai dựa trên một giai đoạn ngắn trong quá khứ mà xu
hướng này không phải là quy luật chung. Tương tự, con người thường có xu hướng
nhận biết xác suất của các vấn đề tương đồng với những ý tưởng trước đó của họ
ngay cả khi kết quả nhận được không có ý nghĩa thống kê.
Ảo tưởng con bạc (Gambler’s fallacy): Niềm tin rằng một mẫu nhỏ có thể giống
với mẫu lớn, xác suất xảy ra trong mẫu nhỏ cũng giống như trong mẫu lớn. Điều
9
này được biết đến như là “luật số nhỏ” (law of small numbers). Người có niềm tin
này có thể dẫn đến “Ảo tưởng con bạc” (Barberis & Thaler, 2003, tr.1065). Cụ thể
hơn, trong thị trường chứng khoán, ảo tưởng con bạc phát sinh khi người ta dự
đoán không chính xác các điểm hồi của thị trường (Waweru và cộng sự, 2008,
tr.27). Ngoài ra, khi người ta rơi vào tình trạng lệch lạc, họ có xu hướng lựa chọn
những thay thế tối ưu đơn giản chỉ vì nó đã được lựa chọn trước đó.
Neo quyết định (Anchoring): Là tâm lý khi cần ước lượng một giá trị với một độ
lớn không biết, con người bắt đầu bằng hình dung bằng một vài số ước lượng ban
đầu và ngầm định một “nguồn tin tưởng” mà sau đó họ sẽ điều chỉnh lên hoặc
xuống theo các thông tin và sự phân tích. Ước lượng, điều chỉnh và đánh giá lại
được hoàn thiện thành ước lượng cuối cùng. Do đó, mốc neo có thể xuất hiện với

“Lý thuyết triển vọng” (Prospect Theory): là một đóng góp quan trọng cho việc nghiên cứu
kinh tế. Nó thách thức một số giả định cơ bản mà các nhà kinh tế đặt ra cho hành vi của con
người. Giáo sư tâm lý học người Mỹ Daniel Kahneman, một trong những nhà nghiên cứu theo
hướng nghiên cứu này, đã đoạt được giải Nobel Kinh tế vào năm 2002, là người tạo nền tảng
vững chắc cho việc xây dựng tài chính hành vi học với “Thuyết triển vọng”. Nền tảng của
thuyết kỳ vọng là hàm giá trị được Kahneman và Tversky (1979) tìm ra khi mô tả
độ hữu dụng của một NĐT tài chính bằng một hàm hữu dụng lõm, hữu dụng biên
của tài sản giảm, tức là mỗi đơn vị tăng thêm trong giá trị tài sản đầu tư sẽ mang lại
một giá trị hữu dụng tăng thêm ít hơn so với sự tăng lên trước đó trong giá trị tài
sản đầu tư nhưng sẽ mang đến sự đau khổ và dằn vặt nhiều hơn khi một giá trị tài
sản bị sụt giảm do thua lỗ.
Lý thuyết triển vọng mô tả một trạng thái tâm lý ảnh hưởng đến quá trình ra quyết
định của một cá nhân bao gồm ác cảm hối tiếc, sợ thua lỗ và tính toán bất hợp lý
(Waweru và cộng sự, 2003, tr.28).
11

Hình 1.1: Hàm giá trị (Tversky & Kahneman, 1974)
Ác cảm hối tiếc (Regret Aversion): Là tâm lý con người luôn tránh các hành động
có tính chất quyết định vì họ sợ rằng, trong nhận thức muộn màng, bất cứ điều gì
họ chọn sẽ ít tối ưu. Về cơ bản, tâm lý này cốt là để ngăn chặn sự nuối tiếc liên
quan đến việc ra quyết định tồi tệ. Nó là một dấu hiệu nhận thức phát sinh trong các
NĐT, khiến họ tránh những hối tiếc khi từ chối bán cổ phiếu đang giảm giá và sẵn
sàng bán những cổ phiếu đang tăng giá. Hơn nữa, các NĐT có xu hướng hối hận
hơn về việc nắm giữ cổ phiếu giảm giá quá lâu hơn so với việc bán những cổ phiếu
đang tăng quá sớm. Con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn
sau khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán. NĐT luôn nghĩ rằng, những cổ
phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán lỗ cổ phiếu. Vì

khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì
cứ giữ, xem như nó chưa bị chuyển qua tài khoản lỗ.
Trong luận văn này, ba yếu tố của thuyết triển vọng: Sợ thua lỗ, Ác cảm hối tiếc,
Tính toán bất hợp lý được sử dụng để đo lường mức độ tác động của chúng lên các
quyết định đầu tư cũng như hiệu quả hoạt động đầu tư của các NĐT cá nhân tại
TTCK Việt Nam.
1.2.3. Các nhân tố thị trường:
Các thị trường tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi của NĐT theo cách của tài
chính hành vi (DeBondt và Thaler 1995, tr.396). Nếu quan điểm của tài chính hành
13
vi là chính xác, người ta tin rằng các NĐT có thể có phản ứng thái quá hoặc chậm
quá với những thay đổi giá hoặc tin tức, ngoại suy các xu hướng trong quá khứ vào
tương lai; thiếu quan tâm đến giá trị cơ bản của một cổ phiếu; tập trung vào cổ
phiếu phổ biến và chu kỳ giá có tính thời vụ. Các yếu tố thị trường rõ ràng có ảnh
hưởng đến việc ra quyết định của NĐT trong thị trường chứng khoán. Waweru và
các cộng sự (2008, tr.36) xác định các yếu tố của thị trường có ảnh hưởng đến việc
ra quyết định của NĐT: thay đổi của giá, thông tin thị trường, xu hướng trong quá
khứ của các cổ phiếu, thị hiếu của NĐT đối với cổ phiếu, phản ứng thái quá với
những thay đổi giá cả, và giá trị cơ bản của cổ phiếu.
Thông thường, sự thay đổi của thông tin thị trường, giá trị cơ bản của các cổ phiếu
và giá cổ phiếu có thể gây ra phản ứng thái quá hoặc phản ứng chậm quá đối với sự
thay đổi giá. Những thay đổi này được thực nghiệm chứng minh là có ảnh hưởng
mạnh đến hành vi ra quyết định của NĐT. Các nhà nghiên cứu cho rằng phản ứng
thái quá hoặc phản ứng chậm quá đối với tin tức có thể dẫn đến chiến lược giao
dịch khác nhau của các NĐT và do đó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ.
Waweru và các cộng sự (2008, tr.36) kết luận rằng thông tin thị trường có tác động
rất cao trong việc ra quyết định của NĐT và một ở khía cạnh nào đó, làm cho các

trường ảnh hưởng đến các NĐT hành vi và các NĐT hợp lý theo những cách khác
nhau, do đó, thật không đầy đủ nếu các yếu tố thị trường không được liệt kê khi
xem xét các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Cùng với các nghiên
cứu của Waweru và cộng sự (2008), luận văn này xem xét các yếu tố thị trường
hoàn toàn như yếu tố hành vi ảnh hưởng đến quyết định của NĐT trong thị trường
chứng khoán.
1.2.4. Tâm lý bầy đàn:
Tâm lý bầy đàn hay còn gọi là tâm lý đám đông trong thị trường tài chính được xác
định là xu hướng hành vi của NĐT làm theo những hành động của NĐT khác hoặc
tuân theo các chuyển động của thị trường thay vì dựa trên nguồn thông tin và chiến
lược của chính NĐT. Theo nghĩa rộng, Nguyễn Đức Hiển (2012) cho rằng, hành vi
bầy đàn trên TTCK có thể được hiểu là một sự hội tụ của hành vi khi các cá nhân
đưa ra các quyết định cùng một chiều hướng trong một thời gian nhất định. Theo
15
quan điểm về tài chính hành vi, tâm lý bầy đàn có thể gây ra một số lệch lạc cảm
xúc, bao gồm sự phù hợp, tương đồng và xung đột về nhận thức, sự lệch lạc và tin
đồn. NĐT có thể thích tâm lý bầy đàn nếu họ tin rằng tâm lý bầy đàn có thể giúp họ
lấy thông tin hữu ích và đáng tin cậy.
Hành vi bầy đàn có lẽ được nhận diện trên hầu hết thị trường tài chính trong một
hoàn cảnh tâm lý. Hành vi bầy đàn gây ra tình trạng thị trường không hiệu quả.
Hành vi bầy đàn có thể xuất hiện đối với NĐT cá nhân và NĐT tổ chức là nguyên
nhân chính gây ra tình trạng bong bóng đầu cơ bởi vì có một xu hướng quan sát
người thắng gần đây, đặc biệt là biểu hiện tốt lặp đi lặp lại nhiều lần.
Trong thị trường chứng khoán, các NĐT có tâm lý bầy đàn đặt quyết định đầu tư
của họ vào quyết định của đám đông trong việc mua hoặc bán cổ phiếu. Ngược lại,
các NĐT theo thông tin và hợp lý thường bỏ qua việc theo đám đông, và điều này
làm cho thị trường hiệu quả. Có một số thành tố ảnh hưởng đến hành vi bầy đàn

Tình huống điển hình
Tâm lý quá tự tin
Neo quyết định
Tâm lý con bạc
Lệch lạc do tính sẵn có thông tin

Thuyết triển
vọng
Tâm lý ghét lỗ
Tâm lý ác cảm hối tiếc
Tính toán bất hợp lý Yếu tố thị
trường
Sự thay đổi giá
Thông tin thị trường
Xu hướng quá khứ của cổ phiếu
Giá trị cơ bản của cổ phiếu
Thị hiếu của NĐT
Phản ứng thái quá đến sự thay đổi về giá Hiệu ứng bầy
đàn
Quyết định mua bán của NĐT khác
Việc lựa chọn cổ phiếu giao dịch của NĐT khác
Khối lượng cổ phiếu giao dịch của NĐT khác
Tốc độ của tâm lý bầy đàn
Bảng 1.1: Các yếu tố hành vi ảnh hưởng đến việc ra quyết định đầu tư (Nguồn:

định chọn một cổ phiếu để bán, họ có thể chỉ tập trung vào các cổ phiếu hiện đang
thuộc về họ. Trong khi đó, với một quyết định mua, NĐT cá nhân có nhiều cơ hội
để lựa chọn các cổ phiếu mong muốn từ nhiều nguồn lựa chọn, điều này giải thích
lý do tại sao yếu tố quan tâm tác động nhiều hơn lên quyết định mua chứng khoán
hơn là quyết định bán.
18
Odean (1999, tr.1293) cho rằng quyết định mua có thể là một kết quả của một
“hiệu ứng quan tâm”. Khi đưa ra quyết định mua cổ phiếu, người ta không thể tìm
thấy một cổ phiếu tốt nào để mua sau khi xem xét một cách hệ thống hàng trăm cổ
phiếu niêm yết. Thông thường họ mua một cổ phiếu thu hút sự quan tâm của họ và
có thể nguồn lớn nhất thu hút chú ý là từ hiệu quả hoạt động lớn trong quá khứ, kể
cả tốt hay xấu.
Barber và Odean (2002, tr.2) đã chứng minh rằng quyết định bán ít được chú ý hơn
so với quyết định mua với trường hợp các NĐT cá nhân. Để đưa ra kết luận này, họ
cho rằng sự quan tâm nắm giữ cổ phiếu thể hiện ở một số tiêu chí: cổ phiếu có khối
lượng giao dịch cao bất thường, cổ phiếu sinh lời bất thường, và cổ phiếu có tin tức.
Cuối cùng, các tác giả khám phá rằng các NĐT cá nhân trong mẫu của họ quan tâm
nhiều đến việc mua các cổ phiếu được quan tâm hơn là bán chúng. Odean (1999,
tr.1293) cung cấp một số hiểu biết về các cổ phiếu ưa thích mà các NĐT cá nhân
muốn mua. Như đã đề cập ở trên, quyết định bán chủ yếu ưu tiên bán cổ phiếu có
lời, trong khi đó, quyết định mua hàng có liên quan đến cả những cổ phiếu lời và cổ
phiếu lỗ trước đó.
Như vậy, từ quan điểm của tài chính hành vi, hành vi của NĐT cá nhân tác động
lên cả quyết định bán và quyết định mua ở các cấp độ khác nhau, trong đó các NĐT
cá nhân quan tâm nhiều hơn đến việc mua các cổ phiếu hơn là bán chúng, và sau đó
chúng cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận chung của thị trường cũng như hiệu quả đầu
tư của NĐT cá nhân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status