Ôn tập phần tiếng việt - Pdf 29

PHẦN TIẾNG VIỆT
BÀI 1: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ
A.ÔN TẬP LÝ THUYẾT:
1. So sánh: Cách đối chiếu sự vật này với sự vật khác để làm cho sự vật được miêu tả thêm cụ thể và có hình ảnh hơn.
So sánh bao giờ cũng có hai vế: vế được so sánh và vế so sánh. Giữa hai vế thường có từ so sánh: như giống, tựa, bằng,
là, hay là,…
Ví dụ: Mặt trời xuống biển như hòn lửa
(“Đoàn thuyền đánh cá”-Huy Cận)
* So sánh “mặt trời xuống biển” với “hòn lửa” (từ so sánh: như): Tạo vẻ đẹp ấn tượng, bất ngờ về cảnh mặt trời lặn
xuống biển.
2. Nhân hóa: Sự diễn đạt bằng cách biến các sự vật không phải là người thành những nhân vật mang đặc điểm, tính
cách như con người. Nó giúp cho vật được miêu tả thêm sinh động, gợi cảm và hấp dẫn.
Ví dụ: Sóng đã cài then, đêm sập cửa (“Đoàn thuyền đánh cá”-Huy Cận)
* Có hai hình ảnh nhân hóa: (1) sóng đã cài then, (2) đêm sập cửa.
 Làm cho cảnh biển lúc hoàng hôn buông xuống trở nên sinh động và hấp dẫn : màn đêm là tấm cửa khổng lồ và
sóng biển là then cửa.
3. n dụ: Là phép tu từ so sánh ngầm; trong đó chỉ nêu lên hình ảnh so sánh, còn vật được so sánh bò ẩn đi; giữa hai
hình ảnh ấy có nét tương đồng nhau. Nó có sức gợi (gợi tả và gợi cảm) rất lớn.
Ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
(Ca dao)
* Có hai hình ảnh ẩn dụ: “thuyền” chỉ người con trai ra đi, rày đây mai đó; còn “bến” chỉ người con gái ở lại quê nhà.
 Khẳng đònh tấm lòng thủy chung son sắt của bến (người con gái ở lại) đối với thuyền (người con trai ra đi).
Hoán dụ: Là phép tu từ trong đó người ta dùng hình ảnh mang ý nghóa này để diễn đạt thay cho hình ảnh mang ý nghóa
khác; giữa hai hình ảnh đó có quan hệ gần nhau, liên hệ với nhau. Nó nhằm nhấn mạnh ý nghóa quan trọng của việc
miêu tả, làm cho lời văn tăng thêm sức gợi.
Ví dụ: Đầu xanh có tội tình chi
Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi
(“Truyện Kiều”-Nguyễn Du)
* Có hai hình ảnh hoán dụ: “đầu xanh” chỉ tuổi trẻ; “má hồng” chỉ người con gái.
 Nổi rõ tấm lòng của tác giả trước sự khốn đốn, đau khổ của Kiều, người con gái trẻ tuổi bò vùi dập đáng thương

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông ngọn cỏ rầu rầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
m ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
(“Truyện Kiều”-Nguyễn Du)
Lặp ngữ “Buồn trông” đầu mỗi câu lục và kết cấu C-V, nhằm nhấn mạnh, làm tăng thêm nỗi buồn mênh mông và
tâm trạng cô đơn của Kiều lúc bò Tú Bà đưa ra “giam lỏng” ở lầu Ngưng Bích.
10.Tương phản (đối lập):
Là cách dùng từ ngữ để nói lên những ý trái ngược nhau trong cùng một văn cảnh. Nó có tác dụng khắc họa tính chất,
đặc trưng của sự vật một cách sâu sắc, đậm nét.
Ví dụ: Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
(“Qua đèo Ngang”-Bà Huyện Thanh Quan)
* Sự đối lập rất chỉnh giữa hai câu cho ta thấy rõ sự hoang vắng, thưa thớt của cảnh và cảm thông nỗi buồn cô đơn,
trống trải thấm thía trong lòng người lữ khách Bà Huyện Thanh Quan.
11. Câu hỏi tu từ:
Là loại câu hỏi mà nội dung của nó đã bao hàm ý trả lời và biểu thò một cách tế nhò cảm xúc của người phát ngôn. Câu
hỏi tu từ khác câu hỏi thường ở chỗ: câu hỏi tu từ không cần câu trả lời, mà nhằm biểu lộ thái độ, tình cảm của người
hỏi.
Ví dụ: Nhác trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
(“Truyện Kiều”-Nguyễn Du)
 Câu hỏi tu từ “Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?”: Thể hiện thái độ ngạc nhiên và ghê tởm, khinh bỉ của tác giả đối
với mụ Tú Bà, chủ lầu xanh.
11. Đổi trật tự cú pháp:
Là biện pháp thay đổi trật tự thông thường của các thành phần trong câu, của các thành tố trong cụm từ nhằm nhấn
mạnh ý và làm cho câu có thêm tính gợi cảm, gợi hình tượng.

(7) Chúng nó chẳng còn mong được nữa (8) Mái tóc em đây hay là mây là suối
Chặn bàn chân một dân tộc anh hùng Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Những bàn chân từ than bụi, bùn lầy Thòt da em hay là sắt là đồng
Đã bước dưới mặt trời cách mạng (“Trần Thò Lý”-Tố Hữu)
(Tố Hữu)

(9) Đau lòng kẻ ở người đi (10) Sớm mai, mây ghé chòi canh
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm Trưa vàng, mây đến lượn quanh đàn gà
(“Truyện Kiều”-Nguyễn Du) Xế chiều, mây đậu vườn hoa
Đêm trăng, mây lại vào nhà vấn vương
(Lưu Trùng Dương)
(11) Giải thích nghóa của từ “xuân” trong đoạn thơ sau. Từ “xuân” nào sử dụng biện pháp tu từ; hãy chỉ ra và phân tích
giá trò thẩm mỹ của nó:
“Mùa xuân là tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”
(Hồ Chí Minh)
(12) - Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(“Viếng lăng Bác”-Viễn Phương)
- Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
(“Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”-Nguyễn Khoa Điềm)
Trong bốn câu thơ trên, từ “mặt trời” trong những câu thơ nào được sử dụng biện pháp tu từ? Phân tích giá trò biểu cảm
của nó.
(13) Cày đồng đang buổi ban trưa (14) Bàn tay ta làm nên tất cả
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Ca dao) (“Bài ca vỡ đất”-Hoàng Trung Thông)
(15) Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa
Tia nắng tía nháy hoài trên ruộng lúa
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh

mạnh công lao to lớn của Bác đối với đất nước, với nhân dân khiến cho tóc Bác bạc phơ; đồng thời, tỏ lòng lo lắng,
thành kính biết ơn của tác giả đối với Người.
Bài tập (7): Phép tu từ hoán dụ: “bàn chân” chỉ bước tiến. Cụ thể: hình ảnh “bàn chân một dân tộc anh hùng” chỉ
bước tiến của dân tộc ta; hình ảnh “bàn chân từ than bụi, bùn lầy” chỉ bước tiến của giai cấp công nhân (bàn chân từ
than bụi) và bước tiến của giai cấp nông dân (bàn chân từ bùn lầy); trong đo còn có thêm hai hình ảnh hoán dụ khác:
“than bụi” chỉ giai cấp công nhân, “bùn lầy” chỉ giai cấp nông dân.
Phép tu từ ẩn dụ “mặt trời” trong hình ảnh “mặt trời cách mạng” chỉ ánh sáng chân lý của cách mạng, lý tưởng của
Đảng. Các phép tu từ trong đoạn thơ khẳng đònh sự thất bại phải có của quân thù trước một lực lượng cách mạng hùng
hậu, dũng cảm của những con người thuộc giai cấp công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời thể
hiện niềm tự hào của dân tộc ta, một dân tộc anh hùng.
Bài tập (8): Ba câu thơ là ba câu hỏi tu từ kết hợp với một loạt 5 hình ảnh so sánh: (1) mái tóc em – mây (từ so sánh:
hay là), (2) mái tóc em – suối (từ so sánh: là), (3) đôi mắt em nhìn – chớp lửa đêm giông (từ so sánh: hay), (4) thòt da
em – sắt (từ so sánh:hay là), (5) thòt da em – đồng (từ so sánh: là). Tưởng là sự ngạc nhiên, nhưng thật ra là ca ngợi vẻ
đẹp ngoại hình, nhất là tôn vinh vẻ đẹp phẩm chất anh hùng của chò Trần Thò Lý, người con gái Việt Nam anh dũng,
bất khuất trước sự tra tấn dã man của kẻ thù.
Bài tập (9): Phép tu từ nói quá kết hợp phép tiểu đối: “lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm”. Sử dụng các phép tu từ này,
nhà thơ đã diễn tả thật đúng và thật hay nỗi buồn đau não nuột của những con người trong buổi chia ly: Nước mắt chia
ly rơi thấm qua đá, con nhện giăng tơ cũng buồn lây trước cảnh chia ly thấm đẫm tình người đó.
Bài tập (10): Một loạt 3 hình ảnh nhân hóa: mây được gán cho những hành động và tình cảm như con người: ghé, đến
lượn quanh, đậu, vào nhà vấn vương, khiến cho thiên nhiên (mây) trở nên có hồn hơn, gần gũi, gắn bó với con và mọi
sinh hoạt ở nông thôn.
Bài tập (11): Từ “xuân” (1) là mùa xuân, một trong bốn mùa của năm; từ “xuân”(2) ẩn dụ chỉ cảnh đất nước tươi
đẹp: làm cho lời căn dặn và ước mang của Bác Hồ nhân ngày xuân về trên đất nước ta trở nên có hình ảnh và hấp
dẫn hơn.
Bài tập (12):
Trong 4 câu thơ trên, từ “mặt trời” trong các câu 1 và 3 có ý nghóa tả thực, mặt trời là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm
cho muôn loài trong ngày trên trái đất. Từ “mặt trời” trong các câu 2 và 4 dùng phép ẩn dụ:
+”Mặt trời” ở câu 2, ẩn dụ chỉ Bác như một mặt trời: Bác là người đem đến cho dân tộc ta ánh sáng chân lý của chủ
nghóa Mác Lê nin, con đường giải phóng dân tộc thoát khỏi bóng đêm nô lệ của thực dân, đế quốc. Đồng thời, tư
tưởng và tình thương của Bác còn như mặt trời tỏa sáng khắp mọi nơi, cho mọi người. Cách so sánh ngầm ấy vừa ngợi

Đặt cuối câu kể; sau dấu chấm phải viết hoa.
Ví dụ: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận.
Dấu cảm(!):
-Đặt cuối câu cảm hoặc câu cầu khiến.
Ví dụ: + Ôi! Anh Núp! Anh Núp thiệt! Lũ làng ơi! Thiệt anh Núp về rồi đây nè!
+ Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên!
- Dấu cảm đặt trong ngoặc đơn dùng biểu thò thái độ hoài nghi, châm biếm.
Ví dụ: + Dưới chiêu bài văn minh khai hóa (!), thực dânPháp sử dụng chính sách ngu dân để dễ bề cai trò.
Dấu hỏi(?):
-Đặt cuối câu hỏi.
Ví dụ: Đổi xe ở đây chứ anh yêu ơi?
- Dấu hỏi đặt trong ngoặc đơn dùng biểu thò thái độ hoài nghi, châm biếm.
Ví dụ: Đưa quân ồ ạt vào nước ta, chúng cướp phá, giết hại đồng bào ta. Như thế là ủng hộ Đồng Minh(?)
b. Cách sử dụng các dấu câu dùng chỉ ranh giới giữa các vế, các thành phần, các bộ phận của câu:
Dấu phẩy (,):
-Dùng để tách thành phần phụ (thành phần trạng ngữ, thành phần chú thích, thành phần xen kẽ, thành phần chuyển
tiếp, thành phần hô ngữ) với thành phần khác ở trong câu.
Ví dụ:
(1) Tách thành phần trạng ngữ: Với tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố trở thành nhà văn hiện thực xuất sắc.
(2) Tách thành phần chú thích: Hồ Chủ tòch, người con ưu tú của dân tộc, sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.
(3) Tách thành phần xen kẽ: Việc tự phê bình, như nhiều người nói, là rất bổ ích.
(4) Tách thành phần chuyển tiếp: Vả lại, bây giờ dân chủ rồi thì ở đâu cũng là đất nước của mình.
(5) Tách thành phần hô ngữ: Trời ơi, chỉ còn có 5 phút!
-Dùng để tách các thành phần cùng loại (trường hợp giữa chúng không có từ nối).
Ví dụ: + Chúng ta sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vó đại.
+ Tre, nứa, mai, vầu giúp người trăm công nghìn việc khác nhau.
- Dùng để tách cụm chủ vò làm trạng ngữ với cụm chủ vò khác trong câu ghép chính phụ.
Ví dụ: Tuy khó khăn còn nhiều, nhưng nhân dân ta sẽ xây dựng thành công chủ nghóa xã hội.
- Dùng để tách các cụm chủ vò trong câu ghép đẳng lập.
Ví dụ: Trường lớp là nhà, học sinh là chủ.

-Thay cho chữ vân vân (v v…):
Ví dụ: Những truyện như Sự tích trăm trứng, Sơn Tinh-Thủy Tinh, Thánh Gióng … là những truyện xuâtsawcs trong
kho tàng truyện cổ Việt Nam.
-Đặt giữa câu thường ẩn sự trào lộng:
Ví dụ: Quan đi kinh lý trong vùng
Đâu có … gà vòt thì lùng về xơi
(Tú Mỡ)
-Đặt đầu câu báo hiệu sự việc cần được trình bày có sự tiếp nối với phần trước nó:
Ví dụ: … Bà Nghò chỉ tay quát thằng nhỏ lấy nước.
Dấu ngang (-):
- Dùng để phân biệt thành phần chú thích trong câu (giống dấu ngoặc đơn):
Ví dụ: Một buổi, sau khi ôm ra mấy chồng báo chí cho tôi chọn, Minh – tên cô thủ thư – nhờ tôi trông hộ phòng.
- Dùng đặt trước câu đối thoại:
Ví dụ: - Bà cho cháu hỏi thăm một câu, được không ạ?
-Dùng đặt ở đầu câu hoặc trước các từ ngữ có tính chất liệt kê:
Ví dụ: Nhiệm vụ của chúng ta là:
- Phát triển sản xuất.
- Phát triển văn hóa.
- Ủng hộ cách mạng của các nước anh em.
-Dùng đặt giữa các tên riêng để chỉ sự liên kết:
Ví dụ: Cuộc đua xe đạp đường dài Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu.
Dấu ngoặc đơn ( ) :
Dùng để xác đònh thành phần chú thích trong câu:
Ví dụ: + Cuộc hội nghò ấy có cả anh Lê Duẩn và anh Thức 9hiện công tác ở Bộ Công an) tham gia.
+ Ở đất Mường Giơn, ông phải là người họ Lò chỉ chuyên làm kì mục, tạo bản (trưởng thôn).
Dấu ngoặc kép “”:
-Dùng để đóng khung lời nói hoặc lời văn, lời thơ của người khác mà người viết trích dẫn:
Ví dụ: Tình yêu đất nước đang chắp cánh ước mơ cho mỗi con người ở thời điểm lòch sử mà “Mỗi chú bé đều nằm mơ
ngựa sắt. Mỗi con sông đều muốn hóa Bạch Đằng”
-Dùng để đóng khung từ ngữ trong câu văn thơ nhằm lưu ý người đọc hiểu theo một ý nghóa khác hoặc có khi biểu thò ý

“(1)Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại
nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
(2)Tôi quên sao được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu
trời quang đãng.
(3)Buổi mai hốm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng
dài và hẹp. (4)Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạï. (5) Cảnh vật xung quanh
tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự đổi thay lớn: hôm nay tôi đi học”.
BT2:
a. Các cháu hãy nghe lời Bác, lời một người lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các cháu được giỏi giang.Trong
năm học tới đây, các cháu hãy cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn nghe thầy, đua bạn. Sau tám mươi
năm trời nô lệ, nước nhà yếu hèn. Ngày nay, chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng
ta, làm sao cho chúng ta theo kòp các nước khác trên hoàn cầu. Trong cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông chờ ở
các cháu rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang
sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.
(Hồ Chí Minh)
b. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi
cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn nghe thấy… Chao ôi là buồn!
- Vải hôm nay bán mấy?
- Kém ba xu. dì ạ !
- Thế thì còn ăn thua gì ?
- Cố kéo co mới được một tấm năm xu .
- Thật thế đấy . Nhưng chẳng lẽ lại rằng chơi.
(Nam Cao)
c. Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây là thành phố Sài Gòn) là thành phố đông dân nhất.
d. Để đẩy mạnh phong trào thi đua học tốt của lớp, chúng ta phải phê phán những tật xấu (quay cóp, lười biếng,
mất trật tự khi thầy cô giáo giảng bài …), vì những tật xấu ấy kìm hãm sự tiến bộ của lớp.
BÀI 3: LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN
A. ÔN TẬP LÝ THUYẾT:
Các đoạn văn trong một văn bản cũng như các câu trong một đoạn văn phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và
hình thức.

Câu 2 có từ “nghệ só” cùng trường liên tưởng với “tác phẩm nghệ thuật” ở câu 1.
“những vật liệu mượn ở thực tại” đồng nghóa với “cái đã có rồi”
+Phép thế: Câu 3 liên kết với câu 2 bằng từ “anh” thay thế cho từ “nghệ só”
+Phép lặp: Câu 3 liên kết với câu 1 bằng cách lặp lại từ “tác phẩm”
B. BÀI TẬP THỰC HÀNH:
BT1: Tìm những phép lặp cụ thể được sử dụng trong đoạn văn sau đây và cho biết tác dụng diễn đạt của nó:
(1) Trời xanh thẳm, biển cũng xanh thẳm, như dâng cao, chắc nòch. (2) Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dòu hơi
sương. (3) Trời âm u mây mưa, biển xám xòt nặng nề. (4) Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu, giận dữ.
BT2: Hãy xác đònh và chỉ ra các phép liên kết câu được sử dụng trong đoạn văn sau:
(1) Trăng là cái liềm vàng giữa đồng sao. (2) Trăng là cái đóa bạc trên tấm thảm nhung da trời.
BT3:
Hãy chỉ ra phương tiện liên kết trong đoạn văn sau:
“Hẳn không có ai làm thơ như Bác. Thơ tứ tuyệt mà đến câu thứ ba vẫn chưa tìm ra thơ. Nhưng khi câu cuói cùng đột
ngột vút lên một cách vô cùng sảng khoái thì toàn bộ bài thơ lại bộc lộ rất rõ tâm trạng náo nức rất vui của bác Hồ
trong không khí chiến thắng của dân tộc, mùa xuân 1968…
Cho nên thơ Bác vừa rất dễ lại vừa rất khó. Đối với người đọc cũng thế, đối với nhà thơ cũng vậy”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
BT4:
Hãy chỉ ra phép thế trong đoạn văn sau và cho biết tác dụng của nó:
“Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi tưởng tượng đến một trang nam nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn còn
thô sơ và giản dò như tâm hồn tất cả mọi người thời xưa. Tráng só ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã sông pha ra trận,
đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bò thương nặng. Tuy thế, người trai làng Phù Đổng vẫn còn ăn một bữa cơm…”
(Nguyễn Đình Thi)
BT5:
Hãy tìm những từ, những tổ hợp từ có quan hệ liên tưởng với các từ in nghiêng trong những câu nối tiếp sau đây và cho
biết tác dụng của quan hệ liên tưởng đó:
“Xe đỗ ở một thò trấn ven đường. Hai dãy phố với vài ba quán ăn, dăm gốc phượng non cành lá thưa thớt. Người lái xe
và chú bé phụ lái đã ra gọi hủ tiếu, lave ngay trên vỉa hè, dưới một tán dù vải”
BT6:
Hãy xác đònh và chỉ ra các phép liên kết câu được sử dụng trong đoạn văn sau:

Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya”
(“Người đi tìm ình của nước”-Chế Lan Viên)
Giải thích kết cấu nội dung của đoạn thơ. Chế Lan viên đã dùng những phép liên kết nào để viết 4 câu thơ trên?

HƯỚNG DẪN GIẢI CÁC BÀI TẬP VỀ LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN
BT1:
-Các phép lặp cụ thể trong đoạn văn:
+Lặp từ vựng: Trời, biển./ +Lặp cấu trúc ngữ pháp: Cấu trúc là kiểu câu ghép đẳng lập, gồm 2 vế: chủ ngữ của mỗi vế
đều là một từ “trời”, “biển” và các từ có ý nghóa miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên làm vò ngữ được lặp lại.
- Tác dụng diễn đạt của phép lặp trong đoạn văn đã cho:
+Thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng cho người đọc về cảnh sắc của “trời” và “biển”.
+Tạo nên sự cân đối, nhòp nhàng giữa các câu văn, các ý trong đoạn văn: trời thay đổi, biển cũng thay đổi theo.
BT2:
Trong đoạn văn trên đã sử dụng các phép liên kết: Phép lặp
+Lặp từ vựng: trăng, là . / +Lặp cú pháp: cấu trúc C-V với chủ ngữ là danh từ và vò ngữ là một tổ hợp gồm: là+cụm
danh từ.
-Phép liên tưởng:”liềm vàng” ở câu (1) và “đóa bạc” ở câu (2) có quan hệ liên tưởng với nhau; ”sao” ở câu (1) và
“trời” ở câu (2) có quan hệ liên tưởng với nhau.
BT3:
Từ “cho nên” biểu thò ý nghóa kết quả trong mối quan hệ nhân quả, là phương tiện được sử dụng để liên kết hai đoạn
văn lại với nhau.
BT4:
-Trong đoạn văn trên, người viết sử dụng phép thế bằng tổ hợp từ đồng nghóa: Phù Đổng Thiên Vương, trang nam nhi,
tráng só ấy, người trai làng Phù Đổng.
-Phép thế đồng nghóa trong đoạn văn trên giúp cho câu văn thêm sinh động và giúp cho người đọc hiểu thêm về người
tráng só ở làng Phù Đổng.
BT5:
Những từ, tổ hợp từ có quan hệ liên tưởng với các từ, tổ hợp từ trong đoạn văn trên là:
+Thò trấn – hai dãy phố – vỉa hè. / +Quán ăn –hủ tiếu – lave – tán dù vải.

+Phép nối: bằng quan hệ từ “và”- đầu câu (2)./ +Phép thế: Bác – Người
BÀI TẬP VỀ LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN TRONG SÁCH”NGỮ VĂN 9”
I. BÀI TẬP TRANG 43:
Phân tích sự liên kết về nội dung, về hình thức giữa các câu trong đoạn văn sau:
“(1)Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh,
nhạy bén với cái mới.(2) Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng
đầu.(3) Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. (4)y là những lỗ hỏng về kiến thức cơ bản do
thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khả năng thực hành và sáng tạo bò hạn chế do lối học
chay, học vẹt nặng nề. (5)Không nhanh chóng lấp những lỗ hỏng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có
và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng”.
(“Chuẩn bò hành trang vào thế kỷ mới”-Vũ Khoan)
II. BÀI TẬP TRANG 49-51:
1. Chỉ ra phép liên kết câu và liên kết đoạn văn trong những trường hợp sau:
a. “Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và
cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của
thực dân và phong kiến.
Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa”.
(“Về vấn đề giáo dục”-Hồ Chí Minh)
b. “Văn nghệ đã làm cho tâm hồn họ thực được sống. Lời gửi của văn nghệ là sự sống.
Sự sống ấy tỏa đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không
riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức” .
(“Tiếng nói của văn nghệ”-Nguyễn Đình Thi)
c.”Thật ra, thời gian không phải là một mà là hai: đó vừa là một đònh luật tự nhiên, khách quan, bao trùm thế giới, vừa
là một khái niệm chủ quan của con người đơn độc. Bởi vì chỉ có con người mới có ý thức về thời gian. Con người là sinh
vật duy nhất biết rằng mình sẽ chết và biết rằng thời gian là liên tục”.
(“Thời gian là gì?”-Tạp chí tia sáng)
d. “Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành. Muốn ác phải là kẻ mạnh”.(“Chí Phèo”-Nam Cao)
2. Tìm trong hai câu dưới đây những cặp từ ngữ trái nghóa phân biệt đặc điểm của thời gian vật lý với đặc điểm của
thời gian tâm lý, giúp cho hai câu ấy liên kết chặt chẽ với nhau:
“Thời gian vật lý vô hình, giá lạnh, đi trên một con đường thẳng tắp, đều đặn như một cái máy (tuyệt hảo bởi không

BT1
a. Phép liên kết câu và liên kết đoạn văn:
-Phép lăp, liên kết câu: “trường học” (câu1) – “trường học” (câu 2)
-Phép thế, liên kết đoạn văn: “như thế” (đoạn 2) – thay cho câu 2 (đoạn 1)
b. Phép liên kết câu và liên kết đoạn văn:
- Phép lặp, liên kết câu: “văn nghệ” (câu 1 đoạn 1) – “văn nghệ” (câu 2 đoạn 1)).
- Phép lặp, liên kết đoạn văn: “sự sống” (câu 2 đoạn 1) – “sự sống” (câu 1 đoạn 2).
c. Phép lặp, liên kết câu:
+ thời gian (câu1) - thời gian (câu 2) - thời gian (câu 3)
+ con người (câu 1) – con người (câu 2) – con người (câu 3)
d. Phép liên kết câu và liên kết đoạn văn:
Phép trái nghóa, liên kết câu: yếu đuối (câu 1) – mạnh (câu 2); hiền lành (câu 1) – ác (câu 2)
BT2.
Các cặp từ ngữ trái nghóa:
+(thời gian) vật lý (câu 1) - (thời gian) tâm lý (câu 2)
+ vô hình (câu 1) - hữu hình (câu 2)
+ giá lạnh (câu 1) - nóng bỏng (câu 2)
+ thẳng tắp (câu 1) - hình tròn (câu 2)
+ đều đặn (câu 1) - lúc nhanh lúc chậm (câu 2)
BT3:
a. Lỗi về liên kết nội dung:
- Lỗi: Các câu không phục vụ chủ đề chung của đoạn văn.
-Chữa: Thêm một số từ ngữ hoặc câu để thiết lập liên kết chủ đề giữa các câu trong đoạn văn:
+Cắm đi một mình trong đêm. Trận đòa đại đội 2 của anh ở phía bãi bồi bên một dòng sông. Anh chợt nhớ hồi đầu mùa
lạc hai bố con anh cùng viết đơn xin ra mặt trận. Bây giờ, mùa thu hoạch lạc đã vào chặng cuối.
b. Lỗi về liên kết nội dung:
-Lỗi: Trật tự các sự việc nêu trong các câu không hợp lý:
-Chữa: Thêm trạng ngữ chỉ thời gian vào câu 2 để làm rõ mối quan hệ về thời gian giữa các sự kiện
Năm 19 tuổi chò đẻ đứa con trai, sau đó chồng mắc bệnh, ốm liền trong hai năm rồi chết. Suốt hai năm anh ốm nặng,
chò làm quần quật phụng dưỡng cha mẹ chồng, hầu hạ chồng, bú mớm cho con. Có những ngày ngắn ngủi cơn bệnh

3. Trình bày nội dung theo cách móc xích:
Móc xích là cách trình bày nội dung theo kiểu ý nọ tiếp ý kia, ý sau móc nối vào ý trước(qua những từ ngữ cụ thể) để
bổ sung, giải thích cho ý trước.
Lược đồ: (1) câu chốt
(2)
(3)…
Ví dụ: (1) Muốn xây dựng chủ nghóa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. (2) Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kỹ
thuật cải tiến. (3) Muốn sử dụng tốt kỹ thuật thì phải có văn hóa. (4) Vậy việc bổ túc văn hóa là cực kỳ cần thiết.
(Hồ Chí Minh)
4. Trình bày nội dung theo cách song hành:
Song hành là cách trình bày nội dung theo kiểu sắp xếp các ý ngang nhau, không có hiện tượng ý này bao quát ý kia
hoặc ý này móc vào ý kia.
Lược đồ:
(1) (2) (3)…
Ví dụ: (1)Mọi tiếng động trong nông trường đã im bặt từ lâu. (2) Những quả đồi trọc nằm gối đầu vào nhau ngủ im
lìm. (3) Chỉ có gió và bóng tối vẫn thì thào đi lại. (4) Hơi lạnh trên khắp mọi nẻo căm căm.
B. BÀI TẬP THỰC HÀNH:
BT1: Hãy phân tích cách trình bày nội dung của đoạn văn sau:
(1) Cái nóng hừng hực bốc lên. (2) Bên ngoài, trời không có nắng. (3) Trong trường, trời không có gió.(4) Trên đầu,
mái tôn như miếng sắt nung.(5) Những cái đầu nghiêng nghiêng, hết lắc bên này lại lắc bên kia. (6) Những đỉnh trán
tươm mồ hôi hột. (7) Chỉ có đầu cây viết thì thào với trang giấy trắng hết dòng này qua dòng kia. (8) Học sinh đang thi.
(9) Trời đất thì như rán mỡ.
BT2: (1) “Tính dân tộc-hiện đại là một trong những nét nổi bật của thế giới hình ảnh thơ Chế Lan Viên. Nhà thơ chú
trọng trước hết khai thác những hình ảnh truyền thống và góp phần đổi mới sáng tạo. Rõ nhất là vận dụng những ẩn dụ
vốn có trong văn học dân gian. Con cò, chim cuốc, chim tu hú được huy động vào thơ với vẻ đẹp và sức hấp dẫn mới
mẻ”
Đoạn văn trên được trình bày nội dung theo cách nào? Căn cứ vào đâu mà em biết?
BT3: Các ý trong đoạn văn sau đây được trình bày theo cách móc xích. Em hãy chỉ ra những từ ngữ tạo nên cách móc
xích giữa câu đứng sau với câu đứng trước liền kề nó theo từng cặp câu: câu (2) với câu (1), câu (3) với câu (2), … câu
(5) với câu (4).

Đoạn văn sau đây trình bày nội dung theo cách nào? Hãy xác đònh các phép liên kết đã được sử dụng trong đoạn văn.
“Mưa đã ngớt. Trời rạng dần. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. Mưa tạnh. Phía đông
một mảng trời trong vắt. Mặt trời ló ra, chói lọi trên những vòm lá bưởi lấp lánh” .(Tô Hoài)
nhẹ tỏa lên, phủ mờ những cây cúc áo, rồi tan dần theo hơi ấm mặt trời. Phtú yên tónh của rừng ban mai biến dần đi”.
BT9:
Hãy sắp xếp các câu sau đây theo một trình tự phù hợp để thành một đoạn văn và giải thích rõ đoạn văn được trình
bày nội dung theo cách nào?
(1) Tác phẩm đã thể hiện tư tưởng nhân nghóa của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược.
(2) Tác phẩm còn là bản tuyên ngôn độc lập lần hai của dân tộc ta.
(3) Bài cáo cũng đã thể hiện khí thế hào hùng, mạnh mẽ của nhân dân ta qua hai cuộc phản công thần tốc đánh giặc
Minh giành độc lập.
(4) “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là một áng thiên cổ hùng văn của văn học cổ.
BT10:
Đoạn văn sau được trình bày nội dung theo cách nào? Căn cứ vào đâu mà em biết?
“Văn học làm cho chúng ta sống lại những quãng đời xưa. Văn học làm cho chúng ta căm thù chế độ phong kiến, thông
cảm với nỗi khổ của nhân dân. Văn họcgiúp ta thêm yêu cuộc sống ngày nay, cuộc sống do Đảng và Bác Hồ mang lại”
(Xuân Diệu)
BT11:
Đoạn văn trên được trình bày nội dung theo cách nào? Căn cứ vào đâu mà em biết?
Trần Đăng Khoa rất biết yêu thương. Em thương bác đẩy xe bò “mồ hôi ướt lưng, căng sợi dây thừng” chở vôi cát về
xây trường học và mời bác về nhà chơi. Em thương thầy giáo một hôm trời mưa, đường trơn bò ngã, cho nên dân làng
bèn đắp lại đường” (Xuân Diệu)

HƯỚNG DẪN GIẢI CÁC BÀI TẬP VỀ ĐOẠN VĂN:
BT1: -Câu chốt: đoạn văn không có câu chốt (không có câu nào thể hiện tập trung nội dung chính của đoạn văn)
-Ý của 9 câu trong đoạn văn đều ngang nhau (có tầm quan trọng như nhau) trong việc thể hiện nội dung của
đoạn văn, không có ý nào bao quát ý nào.
-Đoạn văn được trình bày theo cách song hành.
BT2: -Đoạn văn được trình bày nội dung theo cách diễn dòch.
- Đoạn văn có 4 câu: câu 1 là câu chốt, mang ý nghóa khái quát, có tư cách là đề tài của toàn đoạn. Ba câu còn

-Các phép liên kết đã sử dụng:
+Lặp từ vựng: “mưa” ở câu (1) và (4); “trời” ở câu (2) và (5).
+Liên tưởng:
* Các từ “mưa” ở câu (1) và (4) – từ “trời” ở câu (2) và (5), từ “mặt trời” ở câu (6) có liên tưởng với nhau.
* Các từ “ngớt”, “rạng”, “râm ran”, “tạnh”, “trong vắt”, “ló”, “chói lọi”, “lấp lánh” trong các câu có liên tưởng với
nhau.
BT9:
Sắp các câu thành đoạn văn theo thứ tự: (4), (1), (3), (2)
Đoạn văn được trình bày nội dung theo cách diễn dòch:
+Câu (1) là câu chốt của đoạn văn: nêu ý đánh giá khái quát về tác phẩm “Cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi.
+Các câu (2), (3), (4) giải thích rõ giá trò của áng thiên cổ hùng văn “Cáo bình Ngô”.
BT10:
Đoạn văn trên trình bày nôïi dung theo cách song hành. Nội dung của các câu (1), (2), (3) được sắp xếp ngang nhau,
không có hiện tượng bao quát nhau hay móc nối vào nhau.
BT11:
Đoạn văn được trình bày nội dung theo cách diễn dòch:
+Câu (1) là câu chốt của đoạn văn: nêu ý khái quát về lòng yêu thương của Trần Đăng Khoa.
+Các câu (2), (3) nêu cụ thể, rõ ràng về lòng yêu thương đó của Trần Đăng Khoa.
BÀI 5: NHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý
I.ÔN TẬP LÝ THUYẾT:
1. Phân biệt nghóa tường minh và hàm ý:
-Nghóa tường minh là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu.
- Hàm ý là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ
ngữ ấy.
2. Điều kiện sử dụng hàm ý:
-Người nói(người viết) có ý thức đưa hàm ý vào câu nói.
-Người nghe(người đọc) có năng lực giải đoán hàm ý.
Ví dụ: Phân tích nghóa tường minh và hàm ý của các phát ngôn (in nghêng)sau:
(1)Nam học không kém gì An.
-NTM: so sánh tương đương lực học giữa Nam và An.

b.Tìm những từ ngữ miêu tả thái độ của cô gái trong câu cuối đoạn văn. Thái độ ấy giúp em đoán ra điều gì liên quan
tới chiếc mùi soa?
* Giải:
a) Câu “Nhà hoạ só tặc lưỡi đứng dậy” , đặc biệt là cụm từ “tặc lưỡi” cho thấy ông hoạ só cũng chưa muốn chia tay anh
thanh niên. Đây là cách dùng hình ảnh để diễn đạt ý của ngôn ngữ nghệ thuật.
b) Trong câu cuối đoạn văn, những từ ngữ miêu tả thái độ của cô gái liên quan tới chiếc mùi soa là:
-mặt đỏ ửng (ngượng).
-nhận lại chiếc khăn(không tránh được)
-quay vội đi (quá ngượng)
Qua các hình ảnh này, có thể thấy cô gái đang bối rối đến vụng về vì ngượng. Cô ngượng vì đònh kín đáo để khăn lại
làm kỉ vật cho người thanh niên, thế mà anh lại quá thật thà tưởng cô bỏ quên, nên gọi cô để trả lại.
BT3: Hãy cho biết hàm ý của câu in đậm trong đoạn trích sau:
Bác lái xe dắt anh ta lại chỗ nhà hoạ só và cô gái:
-Đây, tôi giới thiệu với anh một hoạ só lão thành nhé. Và cô đây là kỹ sư nông nghiệp. Anh đưa khách về nhà đi. Tuổi
già cần nước chè:ở lào Cai đi sớm quá. Anh hãy đưa ra cái món chè pha nước mưa thơm như hoa của Yên Sơn nhà anh.
(“Lặng lẽ SaPa”-Nguyễn Thành Long)
* Giải:
Hàm ý của câu “Tuổi già cần nước chè:ở lào Cai đi sớm quá”: Ông hoạ só chưa kòp uống nước chè.
BT4: Tìm câu chứa hàm ý trong đoạn trích sau và cho biết nội dung của hàm ý.
Mẹ nó đâm nổi giận q đũa bếp doạ đánh, nó phải gọi nhưng lại nói trổng:
-Vô ăn cơm !
Anh Sáu vẫn ngồi im, giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn cơm”. Con bé đứng đứng trong bếp nói vọng ra:
- Cơm chín rồi!
Anh cũng không quay lại.
(“Chiếc lược ngà”-Nguyễn Quang Sáng)
* Giải:
Câu “Cơm chín rồi!”có chứa hàm ý; đó là “Ông vô ăn cơm đi”.
BT5: Đọc các đoạn trích sau đây (trích từ truyện ngắn “Làng” của Kim Lân) cho biết những câu in đậm có phải là câu
chứa hàm ý không ? Vì sao?
a. Có người hỏi:

(“Tắt đèn”-Ngô Tất Tố)
1. Nêu hàm ý của những câu in đậm. Vì sao chò Dậu không dám nói thẳng với con mà phải dùng hàm ý?
2. Hàm ý trong câu nói nào của chò Dậu rõ hơn? Vì sao chò Dậu phải nói rõ hơn như vậy? Chi tiết nào trong đạon trích
cho thấy cái Tí đã hiểu lầm hàm ý trong câu nói của mẹ?
* Giải:
1. Hàm ý câu nói in đậm thứ nhất của chò Dậu “Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa thôi “ có hàm ý là: Sau bữa ăn
này con không còn được ở nhà với thầy mẹ và các em nữa. Mẹ đã bán con rồi. Chò Dậu không dám nói thẳng ra điều
này vì đó là điều rất đau lòng.
2. Hàm ý câu nói in đậm thứ hai của chò Dậu” Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghò thôn Đoài” có hàm ý là: Mẹ đã bán con hco
nhà cụ Nghò ở thôn Đoài rồi. Hàm ý này rõ hơn vì cái Tí không hiểu được hàm ý của câu nói thứ nhất. Sự “giãy nảy”
và câu nói trong tiếng khóc của cái Tí “U bán con thật đấy ư?” cho thấy Tí đã hiểu ý mẹ.
BT7: Người nói, người nghe những câu in đậm dưới đây là ai? Xác đònh hàm ý của mỗi câu ấy. Theo em, người nghe
có hiểu hàm ý của người nói không? Những chi tiết nào chứng tỏ điều đó?
a) –Anh nói nữa đi. –Ông giục.
-Báo cáo hết! – Người con trai vụt trở lại giọng vui vẻ Năm phút nữa là mười. Còn hai mươi phút thôi. Bác và cô vào
trong nhà. Chè đã ngấm rồi đấy.
Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục cả chính người hoạ só già. n gtheo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo nhìn
qua một lượt trước khi ngồi xuống ghế.
(“Lặng lẽ Sa Pa”- Nguyễn Thành Long)
* Giải:
a)-Người nói câu in đậm là anh thanh niên, người nghe là ông hoạ só và cô gái.
- Hàm ý của câu “Chè đã ngấm rồi đấy” là: Mời bác và cô vào trong nhà uống nước.
- Hai người nghe đều hiểu hàm ý đó, chi tiết “Ông theo liền anh thanh niên vào trong nhà” và “ngồi xuống ghế” cho
biết điều này.
b)-[…] Anh Tấn này! Anh bây giờ sang trọng rồi, còn cần quái gì các thứ đồ gỗ hư hỏng này nữa. Chuyên chở lại lòch
kòch lắm. Cho chúng tôi khuân đi thôi. Chúng tôi nhà nghèo dùng được tất.
-Có gì đâu mà sang trọng! Chúng tôi cần phải bán các thứ này đi để…
-i chà! Anh bây giờ làm quan rồi mà bảo là kkhông sang trọng? Những ba nàng hầu. Mỗi lần đi đâu là ngồi kiệu lớn
tám người khiêng, còn bảo là không sang trọng? Hừ! Chẳng cái gì giấu nổi chúng tôi đâu!
Tôi biết không thể nói làm sao được đành ngậm miệng, đứng trầm ngâm.

Anh Sáu vẫn ngồi im […]
(“Chiếc lược ngà”-Nguyễn Quang Sáng)
* Giải:
-Hàm ý của câu “Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!” là: chắt giùm nước kẻo cơm bò nhão.
-Em bé không nói thẳng mà phải dùng hàm ý vì đã có lần trước đó nó nói thẳng rồi“Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”
mà không có hiệu quả và vì vậy bé mới bực mình. Vả lại, lần nói thứ hai này yếu tố thời gian bức bách (để lâu sẽ
nhão cơm).
-Việc sử dụng hàm ý của em bé không thành công vì “Anh Sáu vẫn ngồi im”, tức là anh tỏ ra không giúp em bé.
BT9: Hãy điền vào lượt lời của B trong đoạn thoại sau đây một câu có hàm ý từ chối.
A: Mai về quê với mình đi!
B: […]
A: Đành vậy.
* Giải:
Có thể nêu việc bện phải làm ngày mai nên không thể đi được. Chẳng hạn: Mình bận ôn thi rồi (hàm ý từ chối: không
thể cùng về quê vào ngày mai được)
BT10: Tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua việc ông so sánh “hi vọng” với “con đường” trong các câu sau:
Tôi nghó bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt
đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.
(“Cố hương”-Lỗ Tấn)
* Giải:
Qua sự so sánh của Lỗ Tấn có thể nhận ra hàm ý: Tuy hi vọng chưa thể nói là thực hay là hư, nhưng nếu cố gắng thực
hiện thì có thể đạt được.
BT11: Phân tích nghóa tường minh và nghóa hàm ẩn trong những câu in đậm sau:
Chủ nhà dọn cơm khách, mang thiếu một đôi đủa. Ai nấy cầm đũa mời nhau còn khách không có đũa đứng dậy nói với
chủ nhà rằng:
-Cho tôi xin một chén nước lạnh.
Chủ nhà hỏi:
-Hả, để làm chi vậy?
-Đặng rửa tay cho sạch mà bốc đồ ăn.
(Truyện cười dân gian)

I.ÔN TẬP LÝ THUYẾT:
1. Phân biệt nghóa tường minh và hàm ý:
-Nghóa tường minh là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu.
- Hàm ý là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ
ngữ ấy.
2. Điều kiện sử dụng hàm ý:
-Người nói(người viết) có ý thức đưa hàm ý vào câu nói.
-Người nghe(người đọc) có năng lực giải đoán hàm ý.
Ví dụ: Phân tích nghóa tường minh và hàm ý của các phát ngôn (in nghêng)sau:
(1)Nam học không kém gì An.
-NTM: so sánh tương đương lực học giữa Nam và An.
-HY: có ý đánh giá cao học lực của An.
(2) Cô gái ấy thông minh nhưng không đẹp.
-NTM: đối lập giữa thông minh và không đẹp.
-HY: có ý chê cô gái không đẹp hơn là thích thông minh.
(3)Biết con gái đang nấu cơm, bà mẹ hỏi :
-Con nấu cơm hay nấu cháo ấy?
-NTM: hỏi con là nấu cơm hay nấu cháo.
-HY: chê con nấu cơm mà cho quá nhiều nước.
(4) Chò hấp tấp nói với em đang mãi chơi ngoài sân:
-Mưa rồi em ơi!
-NTM: thông báo là trời mưa.
-HY: yêu cầu em phải vào nhà tránh mưa.
II. BÀI TẬP THỰC HÀNH:
BT1: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
-Trời ơi, chỉ còn có 5 phút!
Chính là anh thanh niên giật mình nói to, giọng cười nhưng đầy tiếc rẻ. Anh chạy ra nhà phía sau, rồi trở vào liền, tay
cầm một cái làn. Nhà họa só tặc lưỡi đứng dậy. Cô gái cũng đứng lên, đặt lại chiếc ghế, thong thả đi đến chỗ bác già.
-Ô! Cô còn quên chiếc mùi soa đây này!
Anh thanh niên vừa vào, kêu lên. Để người con gái khỏi trả lại bàn, anh lấy chiếc khăn tay còn vo tròn cặp giữa cuốn

b. –Này, thầy nó ạ.
Ông Hai nằm rũ ra ở trên giường không nói gì.
-Thầy nó ngủ rồi à?
- Gì?
Ông lão khẽ nhúc nhích.
- Tôi thấy người ta đồn…
Ông lão gắt lên:
- Biết rồi!
Bà Hai nín bặt. Gian nhà lặng đi, hiu hắt.
BT6: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Chò Dậu vừa nói vừa mếu:
-Thôi u không ăn, để phần cho con. Con chỉ được ăn ở nhà bữa này nữa thôi. U không muốn ăn tranh của con. Con cứ
ăn thật no, không phải nhường nhòn cho u.
Cái Tí chưa hiểu hết ý câu nói của mẹ, nó xám mặt lại và hỏi bằng giọng luống cuống:
-Vậy thì bữa sau con ăn ở đâu?
Điểm thêm một “giây” nức nở, chò Dậu ngó con bằng cách xót xa:
-Con sẽ ăn ở nhà cụ Nghò thôn Đoài.
Cái Tí nghe nói giãy nảy, giống như sét đánh bên tai, nó liệng củ khoia vào rổ và oà lên khóc:
-U bán con thật đấy ư? Con van u, con lạy u, con còn bé bỏng, u đừng đem bán con đi, tội nghiệp. U để cho con ở nhà
chơi với em con.
(“Tắt đèn”-Ngô Tất Tố)
1. Nêu hàm ý của những câu in đậm. Vì sao chò Dậu không dám nói thẳng với con mà phải dùng hàm ý?
2. Hàm ý trong câu nói nào của chò Dậu rõ hơn? Vì sao chò Dậu phải nói rõ hơn như vậy? Chi tiết nào trong đạon trích
cho thấy cái Tí đã hiểu lầm hàm ý trong câu nói của mẹ?
BT7: Người nói, người nghe những câu in đậm dưới đây là ai? Xác đònh hàm ý của mỗi câu ấy. Theo em, người nghe
có hiểu hàm ý của người nói không? Những chi tiết nào chứng tỏ điều đó?
a) –Anh nói nữa đi. –Ông giục.
-Báo cáo hết! – Người con trai vụt trở lại giọng vui vẻ Năm phút nữa là mười. Còn hai mươi phút thôi. Bác và cô vào
trong nhà. Chè đã ngấm rồi đấy.
Thì giờ ngắn ngủi còn lại thúc giục cả chính người hoạ só già. n gtheo liền anh thanh niên vào trong nhà, đảo nhìn

A: Mai về quê với mình đi!
B: […]
A: Đành vậy.
BT10: Tìm hàm ý của Lỗ Tấn qua việc ông so sánh “hi vọng” với “con đường” trong các câu sau:
Tôi nghó bụng: Đã gọi là hi vọng thì không thể nói đâu là thực, đâu là hư. Cũng giống như những con đường trên mặt
đất; kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi.
(“Cố hương”-Lỗ Tấn)
BT11: Phân tích nghóa tường minh và nghóa hàm ẩn trong những câu in đậm sau:
Chủ nhà dọn cơm khách, mang thiếu một đôi đủa. Ai nấy cầm đũa mời nhau còn khách không có đũa đứng dậy nói với
chủ nhà rằng:
-Cho tôi xin một chén nước lạnh.
Chủ nhà hỏi:
-Hả, để làm chi vậy?
-Đặng rửa tay cho sạch mà bốc đồ ăn.
(Truyện cười dân gian)
BT12: Hàm ý của phát ngôn sau là gì?
“Nhiều anh trai làng thấy cô có sắc lại có vốn, muốn hỏi cô làm vợ để được cưới cả cô lẫn cái vốn của cô”
(Nam Cao)
BT13: Phân tích nghóa tường minh và hàm ý bài thơ “Bạn đến chơi nhfa” của Nguyễn Khuyến.
BT14: Phân tích nghóa tường minh và nghóa hàm ẩn trong những câu in đậm trong đoạn trích sau:
Đùng đùng, cai lệ giật phắt cái thừng trong tay anh này và chạy sầm sập đến chỗ anh Dậu…
-Tha này! Tha này!
Vừa nói hắn vừa bòch luôn vào ngực chò Dậu mấy bòch, rồi lại sấn đến để trói anh Dậu…
Chò Dậu nghiến hai hàm răng:
-Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!
Rồi chò túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa…
(“Tắt đèn”-Ngô Tất Tố)
HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ HÀM Ý
BT1:
a) Qua câu “Trời ơi, chỉ còn có 5 phút!”, anh thanh niên muốn nói: Tiếc quá, thời gian sao mà trôi nhanh thế!.Nhưng

biết điều này.
b)- Người nói câu in đậm là anh Tấn, người nghe là chò hàng đậu (ngày trước).
-Hàm ý của câu” Chúng tôi cần phải bán các thứ này đi để…” là: Chúng tôi không thể cho được.
-Người nghe hiểu được hàm ý đó, thể hiện ở câu nói cuối cùng: “i dào! Thật là càng giàu có càng không dám rời
một đồng xu! Càng không giám rời một đồng xu lại càng giàu có!”.
c)
-Người nói các câu in đậm là Thuý Kiều, người nghe là Hoạn Thư.
-Hàm ý của câu “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!” là: nói “mát mẻ”, nói “giễu cợt” rằng: Quyền quý như tiểu htư
mà cũng có lúc phải đến quỳ trước mặt “Hoa Nô” này sao?
Hàm ý của câu” Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” là: Hãy chuẩn bò mà nhận sự báo ứng thích đáng .
- Hoạn Thư có hiểu hàm ý đó cho nên mới “hồn lạc phách xiêu, Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca”.
BT8:
-Hàm ý của câu “Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!” là: chắt giùm nước kẻo cơm bò nhão.
-Em bé không nói thẳng mà phải dùng hàm ý vì đã có lần trước đó nó nói thẳng rồi“Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”
mà không có hiệu quả và vì vậy bé mới bực mình. Vả lại, lần nói thứ hai này yếu tố thời gian bức bách (để lâu sẽ
nhão cơm).
-Việc sử dụng hàm ý của em bé không thành công vì “Anh Sáu vẫn ngồi im”, tức là anh tỏ ra không giúp em bé.
BT9:
Có thể nêu việc bện phải làm ngày mai nên không thể đi được. Chẳng hạn: Mình bận ôn thi rồi (hàm ý từ chối: không
thể cùng về quê vào ngày mai được)
BT10:
Qua sự so sánh của Lỗ Tấn có thể nhận ra hàm ý: Tuy hi vọng chưa thể nói là thực hay là hư, nhưng nếu cố gắng thực
hiện thì có thể đạt được.
BT11:
-NTM: Giải thích lý do xin một chén nước lạnh: để rửa tay cho sạch mà bốc đồ ăn.
-HY: Cho tôi xin một đôi đũa ăn.
BT12:
Mỉa mai hành vi lấy vợ để đào mỏ.
BT13:
-NTM: Kể lại tình cảnh của tác giả khi bạn dến chới nhfa.

+Nói dơi nói chuột: nói lăng nhăng, linh tinh, không xác thực.
Hứa hươu hứa vượn: hứa để được lòng rồi không thực hiện lời hứa.
3.Phương châm quan hệ: Khi giao tiếp, cần nói đúng vào đề tài giao tiếp, tránh nói lạc đề.
Ví dụ: Thành ngữ “Ông nói gà bà nói vòt” chỉ tình huống hội thoại vi phạm phương châm quan hệ.
* Lưu ý: Có những trường hợp xét trên bề mặt câu chữ là lạc đề, nhưng đặt trong tình huống giao tiếp cụ thể vẫn đáp
ứng được phương châm quan hệ.
Ví dụ: Khách: Nóng quá!
Chủ nhà: Mất điện rồi!
(Khi khách nói “Nóng quá!”, chủ nhà hiểu đó không phải là một thông báo mà là một yêu cầu “Làm ơn bật giùm
quạt!”, nên mới đáp “Mất điện rồi!” (Không bật quạt được”).
4. Phương châm cách thức: Khi giao tiếp, cần chú ý nói ngắn gọn, rành mạch; tránh cách nói mơ hồ.
Ví dụ: +Câu tục ngữ “ăn nên đọi, nói nên lời” khuyên người ta nói năng phải rõ ràng, rành mạch.
+Thành ngữ “dây cà ra dây muống” chỉ cách nói dài dòng, rườm rà.
+Thành ngữ “lúng búng như ngậm hột thò” chỉ cách nói ấp úng, không thành lời, không rành mạch.
* Những cách nói đó làm cho người nghe khó tiếp nhận hoặc tiếp nhận không đúng nội dung được truyền đạt, làm cho
việc giao tiếp không đạt hiệu quả như mong muốn.
* Hoặc câu “Tôi đồng ý với những nhận đònh về truyện ngắn của ông ấy” có thể hiểu mơ hồ theo 2 cách sau:
(1) Tôi đồng ý với những nhận đònh (của ai đó) về truyện ngắn của ông ấy.
(2) Tôi đồng ý với những nhận đònh về truyện ngắn (nào đó) của ông ấy.
5. Phương châm lòch sự: Khi giao tiếp, cần chú ý đến sự tế nhò, khiêm tốn và tôn trọng người khác.
Ví dụ: Trong mẫu chuyện “Người ăn xin”, cả hai nhân vật người ăn xin và cậu bé đều cảm thấy mình đã nhận được từ
người kia một cái gì đó.
B. Quan hệ giữa phương châm hội thoại và tình huống giao tiếp:
Để tuân thủ các phương châm hội thoại, người nói phải nắm được các đặc điểm của tình huống giao tiếp: nói với ai?
Nói khi nào? Nói ở đâu? Nói nhằm mục đích gì ?
C.Những trường hợp không tuân thủ phương châm hội thoại:
1. Phương châm hội thoại chỉ là những yêu cầu chung trong giao tiếp chứ không phải là những quy đònh có tính chất
bắt buộc trong mọi tình huống.
2.Những trường hợp không tuân thủ các phương châm hội thoại thường là do:
a.Người nói vô ý, vụng về, thiếu văn hóa giao tiếp.

- Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa giữa trời mà reo
(Nguyễn Công Trứ)
- Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay
(“Muốn làm thằng cuội”-Tản Đà)
GI Ý:
Cả hai nhà thơ đều nói đến sự chán đời, bất mãn trước thời cuộc, nhưng:
+ Cách thể hiện khác nhau: Nguyễn Công Trứ ao ước được làm cây thông đứng giữa trời cất tiếng reo vui cùng gió
mây. Còn Tản Đà ước ao được làm đôi chim nhạn tung cánh bay giữa bầu trời khoáng đãng.
+ Thế nhưng cái ngông của hai nhà thơ đều giống nhau: thích làm những việc trái với lẽ thường, vượt lên trên cái bình
thường. Bởi họ là những người có bản lónh, có ý thức sâu sắc về tài năng của mình và có cá tính mạnh mẽ, không chòu
khép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lề thói thông thường, lấy sự “ngông để bày tỏ thái độ bất hòa đối với xã hội.
+Tuy vậy, cảm hứng lãng mạn trong cái ngông của Tản Đà đã mang đậm dấu ấn thời đại và đi xa hơn người xưa.
BT2: Nêu cảm nhận của anh (chò) về cái hay của các tác giả trong việc miêu tả công sức làm ra hạt gạo ở các câu thơ:
- Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
(Ca dao)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status