BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN THANH THUẬN MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI, ĐỘ
MỞ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH:
BẰNG CHỨNG Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM TRẦN THANH THUẬN
MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI, ĐỘ
MỞ TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH:
BẰNG CHỨNG Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT
TRIỂN
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục cụm từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
TÓM TẮT 1
1. Giới thiệu 2
2. Tổng quan những nghiên cứu trước đây 4
2.1. Tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính 4
2.2. Tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài chính 6
2.3. Tác động của độ mở thương mại đến độ mở tài chính 10
3. Phương pháp nghiên cứu 18
3.1. Mô hình nghiên cứu 18
3.2. Dữ liệu nghiên cứu 25
3.2.1. Mẫu nghiên cứu 25
3.2.2. Dữ liệu nghiên cứu 27
3.3. Phương pháp nghiên cứu 29
4. Kết quả nghiên cứu 33
4.1. Thống kê mô tả 33
4.2. Kết quả các kiểm định cho 5 phương trình 34
4.3. Kết quả nghiên cứu 51
5. Kết luận 58
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
ệ
t
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM
Fixed Effects
Model
Mô hình
hi
ệ
u
ứ
ng c
ố
đ
ị
nh
FGLS
Feasible Generalized Least
Squares
Phương pháp b
ình ph
ương
nhỏ nhất tổng quát
Phương pháp trung b
ình
nhóm gộp
REM Random Effects Model
Mô hình
hi
ệ
u
ứ
ng ng
ẫ
u
nhiên
UNCTAD
United Nations Conference
on Trade and Development
H
ộ
i ngh
ị
liên hi
ệ
p qu
ố
c t
ế
về thương mại và phát triển
Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả kiểm định phương trình (5)
Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả hồi quy 5 phương trình bằng phương pháp FGLS
1
TÓM TẮT
Trong bài luận văn, tôi đã sử dụng mô hình dữ liệu bảng (panel data) để ước
lượng mối liên hệ giữa độ mở và phát triển tài chính tại các nước đang phát triển.
Bài viết dụng dữ liệu mẫu ở 29 quốc gia đang phát triển trong thời gian 11 năm
từ 2000 - 2011. Bằng phương pháp ước lượng FGLS (Feasible Generalized Least
Squares) đã cho ra kết quả thực nghiệm là có tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa
độ mở thương mại và độ mở tài chính, độ mở tài chính và phát triển tài chính ở
các nước đang phát triển. Để từ đó, có thể xây dựng nên một sự tăng trưởng kinh
tế ổn định tại những nước đang phát triển này.
2
1. Giới thiệu
Trong thập kỷ qua, khi toàn cầu hóa kinh tế thế giới ngày càng phát triển thì
mối liên hệ giữa tài chính và độ mở trở nên rõ ràng, sâu sắc hơn. Chúng có
những ảnh hưởng lẫn nhau để giúp cho nền kinh tế của quốc gia ngày càng phát
triển. Phát triển tài chính đã giúp cho nguồn lực của quốc gia vững mạnh hơn,
thêm nữa, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ góp phần làm
cho các quốc gia đang phát triển gặt hái được những thành tựu về mở rộng
thương mại, để từ đó tạo nền tảng cho xây dựng một nền kinh tế phát triển. Việc
tự do hóa thương mại đã thúc đẩy các quốc gia buôn bán, trao đổi hàng hoá một
cách mạnh mẽ, hình thành nên một nền kinh tế mở đa ngành đa nghề với sức
cạnh tranh cao. Ngoài ra, việc bãi bỏ rào cản thuế quan khi thực hiện tự do hóa
thương mại cũng thu hút rất nhiều nguồn vốn từ bên ngoài (FDI). Đây chính là
Phần 4: Nội dung, kết quả nghiên cứu, trình bày kết quả ước lượng đạt được.
Phần 5: Kết luận. 4
2. Tổng quan những nghiên cứu trước đây
Nghiên cứu của Dornburch (1992), The Case for Trade Liberalization in
Developing Countries.
Dornburch (1992) nghiên cứu về tự do hóa thương mại ở những nước
đang phát triển trên thế giới, đặc biệt là ở ba nước Thổ Nhĩ Kỳ, Hàn Quốc,
Mexico. Trong bài nghiên cứu tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng về lợi ích của
tự do hóa thương mại đối với phát triển kinh tế ở những nước đang phát triển.
Tác giả cho rằng, phát triển thương mại có những lợi ích sau: nâng cao sự phân
bổ nguồn tài nguyên thiên nhiên sao cho lợi ích phù hợp với chi phí xã hội; tiếp
cận công nghệ cao; có thể đạt được lợi ích kinh tế theo quy mô; nâng cao cạnh
tranh trong nước.
2.1. Tác động của độ mở thương mại đến phát triển tài chính
Trước đây, có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về tác động của độ mở thương mại
đến phát triển tài chính và trong bài nghiên cứu này tôi xin giới thiệu hai bài
nghiên cứu với phương pháp và kết quả khá tốt.
Nghiên cứu của Do, Q T. and Levchenko (2004), Trade and Financial
Development.
Do, Q T. and Levchenko (2004) nghiên cứu về độ mở thương mại có tác
động đến phát triển tài chính của một quốc gia hay không? Để minh chứng cho
vấn đề này tác giả đã tiến hành hồi quy bằng phương pháp OLS cho dữ liệu được
thu thập từ 22 quốc gia OECD và 55 nước đang phát triển trong thời gian 1965-
1995. Trong bài nghiên cứu, tác giả đưa ra các biến: phát triển tài chính (được đo
thực hiện mục tiêu đó, tác giả sử dụng dữ liệu bảng cho 88 quốc gia (trong đó
các quốc gia nghiên cứu được phân thành ba nhóm: nhóm nước thu nhập cao,
nhóm nước thu nhập trung bình và nhóm nước thu nhập thấp) trong khoảng thời
gian từ 1960-2005 và phương pháp PMG (Pooled Mean Group). Phương pháp
này được lựa chọn do tác động dài hạn có thể kiểm định dựa vào sự đồng nhất
giữa các quốc gia trong mẫu nghiên cứu, còn tác động ngắn hạn được kiểm định
dựa vào đặc điểm riêng biệt từng quốc gia như chính sách tiền tệ, sự bất hoàn
hảo của thị trường, tính linh hoạt của giá cả và tiền lương… Trong bài nghiên
cứu, để đo lường phát triển tài chính tác giả sử dụng 3 biến: tín dụng tư nhân
(lprivo), cung tiền M3 (llly), tài sản ngân hàng (ldby); độ mở thương mại đo
lường bằng logarit của tổng xuất nhập khẩu/GDP (ltrade). Bên cạnh đó để kết
quả nghiên cứu không bị chệch, tác giả đưa thêm các biến kiểm soát khác vào
mô hình nghiên cứu, gồm: GDP trên đầu người (initial), chi tiêu chính phủ/GDP
(lgov), tỉ lệ lạm phát (lpi). Kết quả nghiên cứu cho thấy: tác động của độ mở
thương mại đến phát triển tài chính phụ thuộc vào mức thu nhập của các quốc
gia. Đối với những nước có thu nhập thấp, độ mở thương mại tác động cùng
chiều đến phát triển tài chính trong dài hạn, tác động nghịch chiều trong ngắn
hạn. Đối với những nước có thu nhập cao, độ mở thương mại tác động cùng
chiều đến phát triển tài chính trong dài hạn, không có tác động trong ngắn hạn.
2.2. Tác động của độ mở thương mại, độ mở tài chính đến phát triển tài
chính.
Nghiên cứu của Rajan và Zingales (2003), The great reversals: the
politics of financial development in the twentieth century.
7
Rajan và Zingales (2003) nghiên cứu về phát triển tài chính ở các quốc
chứng khoán). Độ mở thương mại đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu /GDP và
tỷ trọng nhập khẩu/ tổng nhập khẩu. Độ mở tài chính đo lường bằng dòng vốn tư
nhân và chỉ số tự do hóa tài chính được xây dựng bởi 2 nhà nghiên cứu Chinn và
Ito (2002). Biến thể chế (institution) được đo lường bằng những biến đo lường
rủi ro quốc gia. Khi sử dụng yếu tố phát triển khu vực ngân hàng để đo lường
phát triển tài chính, dữ liệu thu thập được cho 43 nước, nhiều hơn 21 năm nghiên
cứu nên tác giả có thể áp dụng phương pháp GMM để đưa ra kết quả ước lượng.
Khi phát triển tài chính được đo lường bằng yếu tố phát triển thị trường vốn, dữ
liệu chỉ thu thập được cho 20 nước, ít hơn số năm nghiên cứu. Do vậy, trong
trường hợp này tác giả sử dụng phương pháp ước lượng PMG. Nhìn chung các
kết quả đều cho thấy rằng, độ mở thương mại và độ mở tài chính có tác động
thúc đẩy phát triển tài chính. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng khẳng định tác động
của độ mở thương mại đến phát triển tài chính đối với mỗi quốc gia phụ thuộc
vào mức thu nhập trung bình mỗi quốc gia.
Nghiên cứu của Baltagi và cộng sự (2009), Financial development and
openness: Evidence from panel data.
Baltagi và cộng sự (2009) cũng sử dụng dữ liệu bảng để nghiên cứu về
phát triển tài chính và độ mở thương mại, độ mở tài chính ở những quốc gia phát
triển và đang phát triển trên thế giới. Nhân tố phát triển tài chính được đo lường
bằng tín dụng tư nhân và chỉ số vốn hóa chứng khoán thị trường. Đối với những
nước đang phát triển, tác giả sử dụng hai biến để đo lường độ mở tài chính: chỉ
9
số tự do hóa tài chính (thu thập cho 42 nước đang phát triển từ 1980-2003) được
tính bằng tổng tài sản và nợ nước ngoài của quốc gia /GDP và chỉ số tự do hóa
dòng vốn được đo lường từ bốn biến giả về giới hạn giao dịch vốn được trình
bày trong báo cáo của IMF. Độ mở thương mại được đo lường bằng tổng xuất
nhập khẩu/GDP. Ngoài ra, trong mô hình nghiên cứu tác giả cũng đưa thêm các
kiểm định qua ba bước. Đầu tiên, tác giả kiểm định tính dừng và số đồng liên kết
của dữ liệu. Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp phân tích đồng liên kết của
Pedroni (1999) để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa các biến. Cuối cùng, tác
giả sử dụng phương pháp Difference GMM được xây dựng bởi Arellano và
Bond (1991) để đưa ra kết quả ước lượng. Bài nghiên đã đạt được những kết quả
quan trọng sau: Thứ nhất, bài nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ nhân quả
giữa phát triển tài chính với độ mở tài chính và độ mở thương mại. Sự mở cửa
thị trường hàng hóa và dịch vụ ở các nước đang phát triển là điều kiện tiên quyết
cho sự phát triển. Và ngược lại, phát triển tài chính và độ mở tài chính tạo điều
kiện cho các nước đang phát triển đạt được lợi ích lớn hơn trong việc mở cửa
thương mại. Thứ hai, bài nghiên cứu cho rằng mối quan hệ giữa các chỉ số đo
lường phát triển tài chính và độ mở tài chính là không đồng nhất. Tồn tại một
mối tương quan dương giữa độ mở tài chính và tín dụng dành cho khu vực tư
nhân (PRIVO). Trong khi đó, không có bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa
độ mở tài chính với cung tiền M3 (LLY).
2.3. Tác động của độ mở thương mại đến độ mở tài chính
Nghiên cứu của Kandiero và Chitiga (2006), Trade Openness and
Foreign Direct Investment in Africa.
Kandiero và Chitiga (2006) nghiên cứu về tác động của độ mở thương mại đến
đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI cho các nước ở châu Phi qua bốn giai đoạn
1980-1985, 1985-1990, 1990-1995, 1995-2001. Tác giả hồi quy biến FDI theo
11
các biến độ mở thương mại (Openess), thuế đánh trên thương mại quốc tế
(TAX), cơ sở hạ tầng (ROAD), lương (WAGE), quy mô thị trường (GDP), tỷ giá
hối đoái thực (REER). Ngoài ra để đưa ra kết quả hồi quy đáng tin cậy, sau đó
tác giả còn đưa vào hai biến khác là biến vùng miền và biến đo lường sự ổn định
chính trị của từng quốc gia. Phương pháp được sử dụng trong bài nghiên cứu là
Granger, Var và VECM. Bài nghiên cứu đã đưa ra các kết quả: thứ nhất, không
có mối quan hệ trong dài hạn giữa các nhân tố phát triển tài chính, độ mở và tăng
trưởng kinh tế. Thứ hai, ít có bằng chứng cho thấy có mối quan hệ nhân quả giữa
chiều sâu tài chính và tăng trưởng kinh tế. Thứ ba, tồn tại một mối liên hệ giữa
độ mở thương mại và độ mở tài chính.
Nghiên cứu của Asongu Simplice Anutechia (2010), Linkages between
Financial Development and Openness: panel evidence from developing
countries.
Asongu (2010) nghiên cứu lý thuyết về mối liên kết giữa phát triển tài
chính và độ mở tại 29 nước đang phát triển ở châu Phi trong vòng 21 năm từ
1987-2008. Mối liên kết này tương quan dương và từ đó nó làm góp phần tăng
trưởng nền kinh tế ở các nước đang phát triển. Trong bài nghiên cứu, tác giả sử
dụng kỹ thuật dữ liệu bảng để kiểm định mối liên hệ hai chiều giữa phát triển tài
chính và độ mở với các biến: phát triển tài chính (được đo lường bằng 2 yếu tố:
tín dụng tư nhân bằng tiền gởi ngân hàng/GDP (PCRgdp) và cung tiền M3/GDP
(LLgdp)); độ mở tài chính (được đo lường bằng 2 yếu tố: đầu tư nước
ngoài/GDP (FDIgdp) và dòng vốn tư nhân/GDP (PCFgdp)); độ mở thương mại
13
(được đo lường bằng tổng xuất nhập khẩu/GDP (IXgdp) và biến kiểm soát tăng
trưởng GDP trên đầu người (GDPpcg). Để tiến hành tìm ra các ước lượng cho
mô hình, tác giả đã tiến hành các kiểm định. Thứ nhất, kiểm định nhân tố bằng
phương pháp PCA (Principal Component Analysis) để đo lường mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố đến các biến phát triển tài chính và độ mở tài chính). Thứ
hai, tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để xem xét tính dừng của chuỗi
dữ liệu. Cuối cùng, tác giả thực hiện phương pháp GLS with FE (Generalized
Least Squares with Fixed Efect) để tìm ra các ước lượng và kiểm định các ước
lượng bằng kiểm định Robust. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy: độ mở
thương mại đến phát
triển tài chính phụ
thuộc vào mức thu
nhập trung bình của
mỗi quốc gia.
Kim và cộng
sự (2009)
- 88 nước từ
1960-2005.
- Phương pháp
PMG
Tác động của độ mở
thương mại đến phát
triển tài chính trong
ngắn và dài hạn phụ
thuộc vào mức thu
nhập trung bình mỗi
quốc gia.
15
Tác động
của độ mở
thương mại,
độ mở tài
chính đến
phát triển
tài chính
đang phát triển
trên thế giới
- Phương
pháp GMM
Những nền kinh tế
đóng của sẽ được
hưởng nhiều lợi ích
từ mở cửa thương
mại và mở cửa tài
chính.
Hanh (2009) Các nước châu Á Tồn tại mối quan hệ
16
t
ừ
1994
-
2008.hai chi
ề
u gi
ữ
chính và độ mở
- Có mối quan hệ giữa
độ mở tài chính và
độ mở thương mại.
17
Asongu
(2010)
28 nước đang phát
triển ở châu Phi từ
1987-2008
Phương pháp
phân tích dữ liệu
bảng.
Độ mở thương mại và
độ mở tài chính có
mối quan hệ hai chiều
và là quan hệ cùng
chiều.
Độ mở tài chính và
phát triển tài chính có
mối quan hệ hai chiều
và là quan hệ nghịch
chiều.
18