Tiểu luận Vai trò và chức năng của các ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - Pdf 29

Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng nhất của ý thức giác ngộ dân tộc và
cũng là phương tiện thống nhất dân tộc. Ở các quốc gia đa dân tộc, đa văn hoá và đa ngôn
ngữ cùng với vấn đề dân tộc và tôn giáo, ngôn ngữ càng trở nên có vai trò hết sức quan
trọng. Chính vì thế, ở bất kì quốc gia nào, nhà nước cũng luôn quan tâm đến chính sách
ngôn ngữ, và chính sách ngôn ngữ luôn luôn được coi là một phần không thể thiếu trong
chính sách dân tộc.
Việt Nam là nước có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, vì thế vấn đề dân tộc mà
trong đó trước hết là vấn đề ngôn ngữ văn hóa các dân tộc đã, đang và sẽ là vấn đề nóng
bỏng của đất nước ta. Vì thế có một chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc hợp lí là một
nhiệm vụ thực sự cấp bách, một công việc không ít khó khăn. Bởi lẽ các dân tộc rất đa
dạng về mặt dân số, trình độ phát triển xã hội không đồng đều nhau, điều kiên tự nhiên
nơi các dân tộc cư trú lại rất khác nhau. Trong khi đó, mục tiêu công nghiệp hóa – hiện
đại hóa của Nhà nước ta đòi hỏi các dân tộc phải phát triển như nhau. Đây cũng chính là
nhân tố tác động đến việc hoạch định chính sách cũng như việc thực thi các nhiệm vụ để
hiện thực hóa chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của xã hội và là công cụ tư duy của con
người. Cho đến hiện nay và trong tương lai, không ai có thể phủ nhận được vai trò đặc
biệt quan trọng trong sự phát triển văn hóa của từng cá nhân con người trong một tập thể,
trong một dân tộc.
Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất của xã hội con người. Mỗi một cộng đồng xã
hội hay dân tộc khác nhau có những hình thức giao tiếp khác nhau. Có những dân tộc
trong xã hội chỉ dùng một ngôn ngữ duy nhất để giao tiếp với nhau. Trường hợp ấy người
ta gọi là tình trạng đơn ngữ. Lại có những dân tộc trong xã hội để giao tiếp với nhau
người ta sử dụng nhiều hơn hai ngôn ngữ trong sinh hoạt hàng ngày. Trường hợp ấy
người ta gọi là tình trạng song ngữ.
Việt nam là một quốc gia đa dân tộc và là một địa bàn thu nhỏ của bức tranh ngôn ngữ -
văn hóa khu vực Đông Nam Á . Theo tài liệu số 121 – TCTK của Tổng cục thống kê
ngày 2 – 3 – 1979, nước Việt Nam có 54 dân tộc gồm dân tộc Kinh (Việt) và 53 dân tộc
thiểu số khác. Như vậy Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Các dân tộc thiểu số ở nước
ta cư trú từ Bắc vào Nam, ở miền núi, trung du và đồng bằng tạo thành một bức tranh đa
dạng và phức tạp về địa vực cư trú.Ngoại trừ cộng đồng người Việt là một cộng đồng đơn

187–226) với tư cách là Nam bang học tổ, tức là người đầu tiên tổ chức việc học ở Việt
Nam. Nhưng thực tế vào thời Bắc thuộc quan cai trị chỉ tổ chức dạy chữ Hán cho một số
người Việt, đủ để làm công chức trong bộ máy cai trị của người Hán chứ chưa phải là dạy
Nho giáo nhằm mục đích thi cử. Trong thời kì này, các chùa mới là các trung tâm văn
hoá và nhân dân học chữ Hán ở các chùa chứ không phải các trường do người Trung
Quốc dựng nên. Theo sử sách, dưới thời Bắc thuộc, đã có một ít người giỏi chữ Hán,
nhưng vẫn chưa có chế độ học tập chữ Hán quan trọng ngoài các chùa. Ai muốn đi thi thì
phải sang Trung Quốc, như Trương Trọng, Lí Cầm, Lí Tiến, Khương Công Phụ. Cho đến
trước thế kỉ XI, những người tiêu biểu cho văn hoá Việt Nam vẫn là các nhà sư.
1.2. Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập từ tay người Hán. Do nhu cầu phải đua
tài với Trung Quốc để củng cố độc lập bằng văn hoá, Việt Nam có nhu cầu tiếp thu văn
hoá Hán. Việc học chữ Hán có quy mô chỉ bắt đầu từ thời độc lập. Về vấn đề này, chúng
ta không quên công lao của các vị vua khai quốc thời Lí–Trần. Khi đất nước giành được
quyền độc lập, định hướng cơ bản về ngôn ngữ văn tự là: tiếp tục dùng chữ Hán, coi đó
là nền văn tự chính thức của nhà nước. Căn cứ vào những tài liệu còn lưu giữ được thì
năm 1018 vua Lí Thái Tổ sai Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc sang Tàu lấy Kinh Tam
Tạng đem về để vào Kho Đại Hưng; 1075 vua Lí Nhân Tông mở Khoa thi Tam trường để
tuyển người ra làm quan, năm sau vua lập Quốc Tử Giám, tổ chức giảng dạy và đến năm
1086 Vua lại mở khoa thi chọn người vào Hàn Lâm Viện. Theo Nguyễn Tài Cẩn, "Tri
thức Hán học của người Việt ở giai đoạn Ngô, Đinh, Lê là một sản phẩm còn lưu lại của
chế độ Bắc thuộc, còn tri thức Hán học của người Việt từ đời Lí trở về sau lại là sản
phẩm của một sự định hướng có ý thức của một triều đình nước Việt độc lập. Sự định
hướng này làm cho Việt Nam đi hẳn vào khu vực văn hoá Hán, đứng bên cạnh Trung
Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản. Về mặt ngôn ngữ, sự định hướng này làm cho tiếng Việt đi
xa dần các ngôn ngữ bà con vốn cùng gốc Mon Khmer như mình: Mường, Poọng, Chứt,
Cơtu, Bana, Môn, v.v."
(1)
Nhà Trần và các triều đại tiếp theo vẫn tiếp tục sự nghiệp của nhà Lí, cũng tổ chức học
hành thi cử bằng chữ Hán, cũng sáng tác bằng chữ Hán.
Thực tiễn lịch sử chứng tỏ rằng định hướng ngôn ngữ văn tự của các triều đại Việt

Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu ngày nay) Nam Hải) và theo di chuyển của người
Hán, phương ngữ Quảng Tín phân hoá dần, cho nên hình thành đối ứng không đồng đều
về đặc trưng ngữ âm giữa âm Hán Việt và mấy phương ngữ Hán hiện đại.
1.3. Trên cơ sở của chữ Hán, dựa vào nguyên tắc cấu tạo chữ Hán, người Việt Nam đã
sáng tạo ra chữ Nôm, một thứ chữ ghi lại tiếng nói của dân tộc. Ban đầu, chữ Nôm mới
chỉ là những kí tự dùng để phiên âm các từ ngữ nước ngoài, những địa danh, nhân danh ở
Việt Nam mà vốn chữ Hán không thể thể hiện được. Khi hệ thống văn tự Nôm được hình
thành và việc sáng tác thơ văn bằng chữ Nôm đã trở thành phong trào thì có sự phân công
giữa chữ Hán và chữ Nôm về mặt chức năng: chữ Hán dùng trong hành chính, giáo dục,
trong giao tiếp triều chính, còn chữ Nôm thì dùng trong giao tiếp, văn chương bình dân.
Theo Phan Huy Chú
(4)
, Lê Thánh Tông làm vua 38 năm, mở 12 kì thi, lấy đỗ 501 tiến sĩ,
trong số đó có 9 trạng nguyên. Tuy coi trọng chữ Hán hơn chữ Nôm, nhưng phong trào
sáng tác bằng chữ Nôm vẫn phát triển mạnh. Quan lại, nho sĩ đua nhau làm thơ bằng chữ
Nôm. Ngay vua Lê Thánh Tông cũng có nhiều thơ Nôm được truyền tụng trong lịch sử.
Cái tâm lí "trọng chữ khinh Nôm" có ở hầu hết các nhà nho: sáng tác về những đề tài
trang trọng, nghiêm chỉnh thì dùng chữ Hán, làm thơ để chơi, để mua vui thì dùng Nôm.
Tuy nhiên, cùng với bước trưởng thành của chữ Nôm, vị thế của nó cũng dần thay đổi.
Nguyễn Trãi hết lòng tôn trọng ngôn ngữ dân tộc, tin yêu ngôn ngữ dân tộc. Tất cả các
bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi đều nói đến những cái chân thành nhất, trang nghiêm nhất:
nói đến chí hướng, nói đến đạo lí, nói đến lẽ sống ở đời, Với ý thức tự cường dân tộc,
dưới thời nhà Hồ, Hồ Quý Li đã có một quyết sách lớn nhằm nâng cao vị thế của chữ
Nôm. Tương truyền, Hồ Quý Li đã dịch Kinh Thi, Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy cho các
cung nữ. Điều này chứng tỏ Hồ Quý Li đã có chủ trương đưa chữ Nôm vào lãnh vực giáo
dục. Rất tiếc, công cuộc cải cách của nhà Hồ bị chặn lại bởi gót giày xâm lược của nhà
Minh. Nhà Minh thi hành chính sách đồng hoá rất tàn bạo. Chúng đã đốt phá các văn
liệu, sử liệu Việt, trong đó có cả những tài liệu ghi chép bằng chữ Nôm. Vì thế những tài
liệu bằng chữ Nôm thời Hồ Quý Li đều đã thất truyền.
1.4. Chữ quốc ngữ được các nhà truyền giáo chế tác từ thế kỉ XVII với mục đích chính

điểm và đạo lí chính thống. Vào giai đoạn cuối của nhà Lê, nhà cầm quyền không những
coi thường mà còn e ngại chữ Nôm, có những hoạt động tiêu cực đối với chữ Nôm, thậm
chí còn đốt rất nhiều văn liệu viết bằng chữ Nôm. Năm 1663 đời Lê Huyền Tông, Trịnh
Tạc đã yêu cầu Phạm Công Trứ viết 47 điều giáo hoá bằng chữ Hán, trong đó điều 35 chủ
trương cấm đoán và phá hoại các tác phẩm Nôm. Năm 1718 lại có lệnh của Trịnh Cương
như sau: "Phủ liệu
(5)
vâng lời truyền cho quân dân trong nước biết rằng: phàm sách vở có
quyển nào quan hệ đến sự giáo hoá trong đời mới được khắc in và lưu hành. Lâu nay,
những bọn hiếu sự lượm nhặt bậy bạ các tạp truyện và bỉ ngữ
(6)
bằng quốc âm, không
phân biệt hay dở, khắc gỗ in bán, việc ấy phải nên nghiêm cấm. Từ nay nhà nào có in
những sách như thế, cho trình quan đến bắt và tịch thu ván in phá hết"
(7)
. Năm 1760,
Trịnh Doanh lại sai Nhữ Đình Toản diễn Nôm 47 điều giáo hoá ra lục bát để tiện phổ
biến.
Ngược lại, nhằm tăng cường tính tự tôn và tinh thần dân tộc, triều đại Tây Sơn của
Nguyễn Huệ đã chủ trương dùng tiếng Việt và chữ Nôm trong hành chính (giấy tờ của
Nhà nước), trong giáo dục, thi cử và trong tế lễ thiêng liêng. Đây là Chiếu của Bình Định
Vương Nguyễn Huệ gửi cho Nguyễn Thiếp năm 1788:
"Chiếu truyền La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp khâm tri:
Ngày trước uỷ cho phu tử về Nghệ An tướng địa làm đô cho kịp kì này hồi ngự. Sao
về tới đó chưa thấy đặng việc nhỉ. Nên hãy giá hồi Phú Xuân Kinh, hưu tức sĩ tốt.
Việc chiếu ban hạ, phu tử tảo nghi dữ trấn thủ Thận cộng sự, kinh chi, doanh chi,
tướng địa tu đô tại Phú Thạch hành cung sao cho hậu cận sơn, kì chính địa phòng tại dân
cư chi gian hay là đâu cát địa khả đô, duy phu tử đạo nhãn giám định, tảo tảo tốc hành.
Uỷ cho trấn thủ Thận tảo lập cung điện, kì tam nguyệt nội hoàn thành, đắc tiện giá
ngự. Duy phu tử vật dĩ nhàn hốt thị.

Đỏ, Dao Đeo Tiền, Dao Cooc Ngáng, Dao Ôgang, Dao Quần Chẹt, Dao Đại Bản, Dao
Tiểu Bản ), Mùn (Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao áo Dài, Dao Họ, DaoTuyeenr,
Dao Làn Tẻn, )
Thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), có: Chăm Đông (Chăm Ninh – Bình Thuận),
Chăm Tây (Chăm An Giang, Tây Ninh), Êđê, Giarai, Raglai, Hroi, Churu.
Thuộc ngữ hệ Hán–Tạng, có: Hoa, Lôlô, Hà Nhì, La Hủ, Sila, Cống, Xá Phó, Phù Lá.
Trong các ngôn ngữ trên, chỉ một số ngôn ngữ có chữ viết cổ truyền, đó là các chữ:
Chữ Nôm Tày; các loại chữ Thái cổ ở Tây Bắc, Quỳ Châu, Man Thanh, Lai Pao; chữ
Hán; chữ viết tự dạng Sanscrit của Khmer; chữ Nôm Nùng; chữ Chăm cổ; chữ viết tự
dạng Sanscrit của Lào; chữ Nôm Dao; chữ Nôm Cao Lan.
Đặc điểm nổi bật của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là sống đan xen nhau khiến cho
trạng thái đa ngữ xã hội là trạng thái phổ biến ở các vùng dân tộc thiểu số. Tiếng Việt
được coi là ngôn ngữ giao tiếp giữa các dân tộc. Bên cạnh đó, một số ngôn ngữ như tiếng
Thái, tiếng Tày, tiếng Nùng, cũng được coi là ngôn ngữ vùng, tức là phương tiện giao
tiếp giữa các dân tộc cùng chung sống trong vùng nào đó.
Nói đến chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945, cần đề cập
đến ba mảng sau đây:
– Chính sách đối với các ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số;
– Chính sách đối với tiếng Việt;
– Chính sách đối với các ngoại ngữ
2.2. Chính sách đối với ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số
Đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tôn
trọng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc, bảo đảm sự phát triển tự do và bình đẳng của tất cả các
ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng khi mới thành lập (1930) đã
đề ra chính sách "đoàn kết dân tộc trên cơ sở những nguyên tắc bình đẳng và tương trợ
lẫn nhau để giành lại độc lập và hạnh phúc chung cho các dân tộc". Chính cương của
Đảng năm 1951 ghi rõ: "Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều được bình đẳng về
quyền lợi và nghĩa vụ, Cải thiện đời sống cho các dân tộc ít người, giúp đỡ họ tiến bộ
về mọi mặt, bảo đảm để họ tham gia chính quyền và dùng tiếng mẹ đẻ trong việc giáo
dục ở các địa phương".

A. Cải tiến và xây dựng chữ viết cho các dân tộc thiểu số.
Quyết định của Phủ Thủ tướng số 153-CP ngày 20/8/1969 ghi rõ:
"Dân tộc thiểu số nào chưa có chữ viết riêng nếu có đủ điều kiện cần thiết sau đây thì
được xây dựng và sử dụng chữ viết của dân tộc mình:
a) Dân số tương đối đông, so với các dân tộc anh em khác.
b) Cư trú tương đối tập trung.
c) Có nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức trực tiếp bằng tiếng, chữ phổ thông,
có yêu cầu xây dựng chữ viết riêng để phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá trong dân
tộc mình.
d) Có vốn từ ngữ tương đối phong phú.
Dân tộc thiểu số nào đã có chữ viết riêng nhưng nếu xét thứ chữ viết không thuận lợi
cho sự tiến bộ của mình, thì có thể cải tiến chữ viết cũ, hoặc xây dựng chữ viết mới thích
hợp hơn.
Dân tộc thiểu số nào không đủ điều kiện xây dựng chữ viết riêng nhưng thấy cần thiết
có chữ để ghi tiếng nói của mình, thì có thể dùng chữ phổ thông để phiên âm".
Quyết định của Hội đồng Chính phủ về chủ trương đối với chữ viết của các dân tộc
thiểu số, số 53-CP ngày 22/02/1980 viết:
"Nhiều dân tộc thiểu số chưa có chữ viết có yêu cầu xây dựng bộ vần chữ riêng để có
thể ghi tiếng nói của dân tộc mình. Một số dân tộc thiểu số có chữ viết lối cổ muốn có
chữ viết mới theo chữ cái Latin cho gần gũi với chữ phổ thông. Những yêu cầu này cần
được coi trọng, và từng bước giải quyết".
"Để việc dạy và học chữ dân tộc và chữ phổ thông được dễ dàng, nhanh chóng, thuận
tiện cho cả đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào người Kinh muốn học chữ dân tộc, cần
xây dựng mới hoặc cải tiến chữ viết dân tộc theo bộ vần gần gũi với bộ vần chữ viết phổ
thông".
B. Sử dụng tiếng nói và chữ viết dân tộc sao cho thích hợp, hiệu quả.
Quyết định của Phủ Thủ tướng số 153-CP, ngày 20/8/1969 quy định rõ:
"Chữ dân tộc cần được sử dụng trong phạm vi và với mức độ sau:
a) Trong việc xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá ở vùng người dân tộc đã có chữ viết
riêng. Trong bổ túc văn hoá, nơi nào không biết hoặc ít biết tiếng phổ thông thì cho học

Trong bài Các ngôn ngữ nguy cấp và việc bảo tồn sự đa dạng văn hoá, ngôn ngữ tộc
người ở Việt Nam đăng trên tạp chí Ngôn ngữ, số 4 (năm 1999), Nguyễn Văn Lợi cho
biết trong số 6.500 ngôn ngữ đang tồn tại trên thế giới, chỉ có chừng 300 đến 400 ngôn
ngữ được truyền lại cho các thế hệ tiếp theo, các ngôn ngữ còn lại hoặc chỉ được truyền
lại ở một bộ phận nhỏ, hoặc không được truyền lại, đang nằm bên bờ của sự tiêu vong.
Căn cứ vào sức sinh tồn, những điều kiện xã hội-ngôn ngữ học, ông chia các những nguy
cấp ở Việt Nam thành 5 nhóm:
Nhóm thứ nhất bao gồm các ngôn ngữ hầu như đã bị mất, hiện nay chỉ còn rất ít người
sử dụng (trên dưới 10 người). Đó là các ngôn ngữ như: tiếng Cơlao đỏ ở Trùng Sán,
Hoàng SuPhì (người Cơlao đỏ đã chuyển sang nói tiếng Quan Hoả); Tiếng Tống ở huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (người Tống hiện được xếp vào dân tộc Dao); Tiếng Thuỷ ở
Chiêm Hoá, Tuyên Quang (người Thuỷ cũng được coi là thuộc dân tộc Dao); Tiếng Ơđu
ở Con Cuông, tỉnh Nghệ An (hầu hết người Ơđu chuyển sang nói tiếng Thái, Khơ mú,
hiện chỉ còn vài người nhớ ngôn ngữ này); Tiếng Tu Dí (Bố Y) ở huyện Mường Khương,
tỉnh Lào Cai (người Tu Dí chuyển sang nói tiếng Quan Hoả).
Nhóm thứ hai gồm các ngôn ngữ nguy cấp thực sự, hiện chỉ còn trên, dưới 100 người
sử dụng. Đó là: tiếng Pu Péo, tiếng Cơlao Trắng ở Đồng Văn – Hà Giang; tiếng La Chí ở
Hoàng Su Phì – Hà Giang; tiếng Laha ở Thuận Châu – Sơn La; tiếng Ta Mit ở Than
Uyên – Lào Cai; tiếng Nùng Vẻn ở Hà Quảng – Cao Bằng ; tiếng Đan Lai, Li Hà, Tày
Poong ở Con Cuông – Tân Kì – Nghệ An; tiếng Mã Liềng, Cọi (Krih) ở Hương Khê – Hà
Tĩnh; tiếng Rục, Mày, Sách ở Tuyên Hoá – Quảng Bình; tiếng Arem ở Bố Trạch – Quảng
Bình.
Nhóm thứ ba gồm các ngôn ngữ có số người sử dụng trên dưới một ngàn người, phạm
vi sử dụng tương đối hẹp, chủ yếu trong giao tiếp gia đình, có xu thế bị mất ở thế hệ trẻ,
chịu áp lực rõ rệt từ các ngôn ngữ có vị thế cao hơn. Đó là các ngôn ngữ như Mảng,
Kháng, Xinh Mun thuộc dòng Mon-Khmer và các ngôn ngữ thuộc họ Tạng Miến như:
Cống, Sila, Xá Phó, Phù Lá, La Hủ.
Nhóm thứ bốn gồm các ngôn ngữ có số lượng người sử dụng từ vài ngàn đến chục
ngàn người, chủ yếu được sử dụng trong giao tiếp gia đình thuộc mọi thế hệ, nhưng một
bộ phận có xu thế thay bằng ngôn ngữ khác. Đó là tiếng Nà Mẻo ở Tràng Định tỉnh Lạng

hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" khẳng định: "Nền văn hoá Việt Nam là
nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Bản sắc dân
tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp
nên qua lịch sử ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam".
Muốn duy trì và bảo vệ ngôn ngữ, văn hoá dân tộc thì trước hết phải duy trì và bảo vệ
chính những tộc người nói những ngôn ngữ đó. Vì vậy, vấn đề duy trì và bảo vệ ngôn
ngữ văn hoá không thể tách rời vấn đề phát triển dân tộc mà muốn duy trì và phát triển
dân tộc thì trước hết phải phát triển kinh tế. Trong bài "Tình hình một số ngôn ngữ dân
tộc nguy cấp ở Việt Nam và những luận cứ chính sách đối với các ngôn ngữ ấy" sau khi
phân tích tình hình một số ngôn ngữ dân tộc được coi là nguy cấp, Trần Trí Dõi cho rằng:
– "Việc thúc đẩy nền kinh tế–xã hội của các dân tộc và nhóm tộc người có ngôn ngữ
bị suy giảm là một nhu cầu bức bách. Muốn cho tộc người Arem chẳng hạn không suy
giảm dân số với tỉ lệ 1% năm, đó là vấn đề sản xuất, đó là vấn đề y tế v.v mà cả cộng
đồng phải giải quyết. Cũng vậy, muốn những người Ơđu có điều kiện duy trì tiếng mẹ đẻ
của mình, cộng đồng nhỏ bé của họ hiện nay phải được phát triển, phát triển tới mức họ
có nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày.
– Phải nâng cao chất lượng tiếng mẹ đẻ của họ trong giao tiếp cộng đồng. Cách tốt
nhất để làm được điều này là duy trì tiếng mẹ đẻ trong hoạt động văn hoá của cả dân
tộc Chính văn hoá truyền thống hay bản sắc văn hoá của các dân tộc là cái nền tốt nhất
để lưu giữ ngôn ngữ của họ. Vì thế, để đảm bảo ngôn ngữ của các dân tộc có nguy cơ bị
suy thoái không bị mai một, một công việc tốt nhất là khơi dậy và làm sống lại hoạt động
văn hoá truyền thống của chính họ" (Sách đã dẫn, trang 98).
Tại hội nghị quốc tế về bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể các dân tộc do UNESCO tổ
chức tại Hà Nội, tháng 3/1993, các đại biểu đã đưa ra một số khuyến nghị đối với Chính
phủ Việt Nam về bảo tồn và phát huy văn hoá các dân tộc thiểu số:
– Cung cấp tài chính kịp thời cho chương trình quốc gia: "Kho tàng chung di sản văn
hoá phi vật thể của các tộc người ở Việt Nam".
– Ở cấp độ nhà nước, bảo vệ, giữ gìn, phát triển và khôi phục kho tàng văn hoá phi vật
thể của các dân tộc thiểu số. Những lĩnh vực cần được tập trung chú ý là: khôi phục các

biệt là thiếu hẳn một đội ngũ cán bộ được chuẩn bị về kiến thức và phương pháp, sau
cùng là một chế độ kiểm tra, đánh giá ở cấp Nhà nước, để triển khai".
Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, Trần Trí Dõi rút ra là vấn đề giáo
dục ngôn ngữ "phải được đặt trong nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng nền giáo dục
ấy. Chính nhu cầu lợi ích của người thụ hưởng giáo dục song ngữ nhiều khi là yếu tố
quyết định chi phối hoạt động giáo dục song ngữ. Trong thực hiện giáo dục song ngữ,
khi ngôn ngữ thứ hai là tiếng mẹ đẻ của người thụ hưởng thì lợi ích văn hoá là lợi ích nổi
trội nhất. Nếu không nắm bắt đầy đủ lợi ích này để nhận biết đầy đủ tính đa dạng của
mục đích thụ hưởng thì việc xây dựng một chương trình giáo dục ngôn ngữ sẽ ít khả
năng thu được thành công".
Sau khi nghiên cứu thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía
Bắc Việt Nam, Trần Trí Dõi đã đưa ra một số nhận xét đáng chú ý: " tiếng Thái của
người Thái ở Việt Nam là một ngôn ngữ của một dân tộc thiểu số chứ không phải là một
ngôn ngữ có chức năng ngôn ngữ quốc gia. Vì thế, sự phát triển đa dạng của nó theo từng
phương ngữ là điều tất yếu và không ai có quyền ngăn cản nó. Do đó, việc thống nhất
chữ viết trong sự đa dạng phương ngữ là một điều khó có thể trở thành hiện thực" Ông
viết tiếp: " Khi bày tỏ ý kiến thể hiện mục đích tiếp nhận giáo dục tiếng mẹ đẻ, người
Thái cho rằng họ học là để góp phần bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Bởi vì
chỉ có chữ cổ truyền thống của người Thái mới là thứ văn tự thoả mãn đích thực vai trò
đó. Chúng tôi nghĩ rằng, các kiểu chữ cổ truyền hiện có ở các Mường Thái, chỉ cần bổ
sung thêm một vài chi tiết, sẽ là văn tự tốt nhất được sử dụng trong giáo dục tiếng mẹ đẻ
của dân tộc Thái" (Sách dã dẫn, trang 231). Cuối cùng, ông kiến nghị:
– Các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương phải có kế hoạch từng bước ổn
định, phát triển kinh tế–xã hội vùng dân tộc miền núi.
– Thay vì lấy tiêu chí ngoại ngữ có tính hình thức để thăng ngạch cán bộ công chức,
Nhà nước có thể coi trình độ sử dụng tiếng dân tộc nơi họ công tác làm chứng chỉ thay
thế khi thực hiện công việc tổ chức này. Ngoài ra, cũng nên coi việc người cán bộ ở vùng
dân tộc thiểu số sử dụng được nhiều ngôn ngữ dân tộc khác nhau là một thành tích cần
được khuyến khích trong hoạt động của họ.
– Xây dựng một kế hoạch khả thi trong hoạt động giáo dục tiếng mẹ đẻ cho đồng bào

biết viết chữ quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam trên 8 tuổi mà không biết
đọc và biết viết chữ quốc ngữ đó sẽ bị phạt tiền".
– Sắc lệnh 20 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày
08/9/1945 ra lệnh: "Trong toàn cõi Việt Nam, sẽ thiết lập cho nông dân và thợ thuyền
những lớp học bình dân buổi tối. Trong hạn 6 tháng, làng nào và đô thị nào cũng phải có
ít ra là một lớp học dạy ít nhất là 30 người".
Không dùng thuật ngữ ngôn ngữ quốc gia, các văn bản của nhà nước chỉ gọi tiếng
Việt và chữ quốc ngữ là tiếng và chữ phổ thông. Quyết định của Hội đồng Chính phủ, số
53-CP ngày 22/02/1980 viết: "Tiếng và chữ phổ thông là ngôn ngữ chung của cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Nó là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địa phương
và các dân tộc trong cả nước, giúp cho các địa phương và các dân tộc có thể phát triển
đồng đều các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật, v.v tăng cường khối đại đoàn kết
toàn dân và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Vì vậy, mọi người dân Việt Nam đều có
nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng và chữ viết phổ thông".
Mặc dù sau cách mạng nhà nước chỉ đạo "tất cả các khoa học đều dạy bằng tiếng
Việt", từ phổ thông đến đại học, nhưng về lập pháp ngôn ngữ thì Luật Phổ cập giáo dục
tiểu học (ngày 06/8/1991) mới quy định:
"Giáo dục tiểu học được thực hiện bằng tiếng Việt. Các dân tộc thiểu số có quyền sử
dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu
học".
Thuật ngữ "ngôn ngữ chính thức" chỉ được dùng trong Luật giáo dục tiểu học ngày
10/12/1998:
"Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường".
2. Xác lập vị thế ngôn ngữ quốc gia của tiếng Việt, Đảng và Nhà nước ta đồng thời chỉ
ra phương hướng phát triển của tiếng Việt. Đó là dân chủ hoá, quần chúng hoá.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thổi bùng niềm tự hào và tình yêu đối với tiếng Việt. Người
viết ; "Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta
phải giữ gìn nó, quý trọng nó nhằm làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp. Của mình
có mà không dùng, lại đi mượn của nước ngoài, đó chẳng là đầu óc hay ỷ lại hay sao?"
Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam đã có nhiều cuộc vận động

Để bảo vệ tiếng Việt, Nhà nước cũng có những văn bản nhằm uốn nắn những cách sử
dụng tiếng Việt chưa hợp lí. Nghị định của Chính phủ số 194-CP ngày 31/12/1994 về
hoạt động quảng cáo trên lãnh thổ Việt Nam quy định:
– Tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo phải là tiếng nói và chữ viết Việt Nam, trừ các
trường hợp:
a) Những sách báo, ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng nước ngoài.
b) Những chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng nước ngoài.
c) Những nhãn hiệu hàng hoá viết tắt và viết bằng tiếng nước ngoài. Tên giao dịch
quốc tế của các cơ sở sản xuất kinh doanh–dịch vụ đã được các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền cho phép. Những từ ngữ đã được quốc tế hoá hoặc những từ ngữ mà tiếng
Việt không thay thế được.
Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước Việt Nam còn quan tâm nhiều
hơn nữa. Quyết định của Phủ thủ tướng số 153-CP ngày 20/8/1969 viết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status