Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HOÀNG THỊ HUYỀN
CÁC HÌNH THỨC BẢO TỒN NGÔN NGỮ
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60 14 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TSKH Nguyễn Văn Hộ THÁI NGUYÊN, 2013 Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
Thầy GS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ. Các kết quả và số liệu đảm bảo tính khách
quan, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên và các em học
sinh trường Tiểu học Hoá Thượng 1 và trường Tiểu học Linh Sơn (huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình khảo sát và khảo nghiệm.
Xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị học viên lớp Giáo dục học K19,
những người luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn Hoàng Thị Huyền
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BẢO TỒN NGÔN NGỮ
dạy học ở trường tiểu học 42
2.3.1. Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong cuộc sống
hàng ngày của học sinh và phụ huynh học sinh 42
2.3.2. Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ DTTS ở trường tiểu học Hoá
Thượng 1 và Linh Sơn 51
Kết luận chương 2 65
Chƣơng 3. MỘT SỐ HÌNH THỨC BẢO TỒN NGÔN NGỮ DÂN TỘC
THIỂU SỐ TRONG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC VÙNG
ĐÔNG BẮC 67
3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất các hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân
tộc thiểu số trong dạy học ở trường tiểu học 67
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu của giáo dục tiểu học
(được quy định tại điều 27, chương II luật giáo dục 2005) 67
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tôn trọng nhân cách đối tượng và yêu cầu
hợp lý với đối tượng giáo dục 67
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường. 68
3.1.4. Nguyên tắc tự nguyện, lồng ghép và có chọn lọc 68
3.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 69
3.2. Một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học ở
trường tiểu học vùng Đông Bắc 69
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn v
3.2.1. Tổ chức bài học trên lớp thông qua giao tiếp giữa giáo viên và
học sinh có sử dụng ngôn ngữ DTTS 69
3.2.2. Dạy tiếng DTTS như một môn học tự chọn 71
3.2.3. Thăm quan học tập 72
3.2.4. Học nhóm 73
DT
3
Học sinh
HS
4
Thiểu số
TS
5
Trung bình cộng (mức độ)
X Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc thiểu số 42
Bảng 2.2: Hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số của phụ huynh
học sinh 49
Bảng 2.3: Hoàn cảnh sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh người dân tộc
thiểu số 50
Bảng 2.4: Mức độ cần thiết của việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số
trong dạy học 51
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hoá đã và đang mang lại những thay đổi trên quy mô
toàn thế giới mà phần nổi dễ được nhận biết đó là sự thay đổi về kinh
tế. Cùng với dòng chảy toàn cầu hoá đối với kinh tế là toàn cầu hoá đối với
khoa học, công nghệ, thông tin, văn hoá và ngôn ngữ. Ngôn ngữ với tư cách
vừa là công cụ giao tiếp vừa là một phần của văn hoá, có chức năng phản ánh
mọi đổi thay của xã hội, đồng thời có chức năng tác động vào xã hội, góp
phần làm thay đổi xã hội như một xung lực. Cũng như đối với kinh tế và các
lĩnh khác khác, toàn cầu hoá có tác động cả tích cực và tiêu cực đến ngôn
ngữ. Sự gia tăng các cuộc tiếp xúc giữa các quốc gia, DT ở mọi lĩnh vực trong
đó đặc biệt có sự tiếp xúc giữa các nền văn hoá đã tác động mạnh mẽ đến tiếp
xúc ngôn ngữ. Hệ quả của các cuộc tiếp xúc này đã hình thành một xu hướng
chung là, ngôn ngữ của các quốc gia lớn hơn, có nền kinh tế phát triển mạnh
hơn cũng như ngôn ngữ của các DT phát triển mạnh hơn sẽ tác động đến ngôn
ngữ của các quốc gia, DT còn lại. Kết quả của sự tác động này có thể làm cho
ngôn ngữ các DTTS nghèo đi và tất yếu sẽ dẫn tới nguy cơ suy thoái.
Việt Nam là một quốc gia đa DT. Trong 54 DT, tuy có khác nhau về
quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế- xã hội, nhưng mỗi DT đều có bản
sắc văn hóa truyền thống với phong tục, tập quán, ngôn ngữ riêng, tạo nên sự
phong phú, đa dạng của văn hóa Việt Nam. Trong đó có 53 DTTS với trên 13
triệu người, chiếm 13,8% dân số cả nước. Mỗi DT đều có tiếng nói riêng, một
số DT có chữ viết riêng (gần 30 DTTS có chữ viết, tiêu biểu như: Tày, Thái,
Hoa, Khơme, Nùng, H’Mông, Giarai, Êđê, Bana,…). Tuy nhiên, ngôn ngữ
các DT ở nước ta phát triển không đồng đều, ngoài ngôn ngữ phổ thông, một
số ngôn ngữ DTTS đang có nguy cơ bị mai một.
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
với những người không cùng ngôn ngữ. Bởi thế, họ càng ít có cơ hội để sử
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 3
dụng tiếng mẹ đẻ. Kết quả là ngôn ngữ của họ dần bị quên lãng và biến mất
theo mức độ và thời gian hội nhập.
Nhận thức được vị trí, vai trò của ngôn ngữ DTTS trong việc duy
trì và phát triển văn hoá của đồng bào DTTS. Ở một số địa phương đã và
đang đưa tiếng DTTS vào trong nhà trường, thực hiện quá trình dạy học
và giáo dục học sinh bằng cả ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ DTTS
nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh DTTS hình thành và phát
triển nhân cách. Tuy nhiên việc đưa ngôn ngữ DTTS vào quá trình dạy
học cũng gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại về nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức,…
Như vậy, bảo tồn ngôn ngữ DTTS nói chung, bảo tồn ngôn ngữ DTTS
ở vùng Đông Bắc nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng. Ngôn ngữ tộc người
có được duy trì và phát triển hay không phụ thuộc phần nhiều vào chính đồng
bào DTTS, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người có vai trò quyết định đối với sự
tồn vong của nền văn hoá, ngôn ngữ tộc người trong tương lai.
Xuất phát từ những điều đã trình bày trên đây cũng như góp phần bảo
tồn văn hoá, ngôn ngữ DTTS, nâng cao chất lượng đào tạo học sinh DTTS, tôi
đã lựa chọn: “Các hình thức bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong dạy học
ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam” làm vấn đề nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về việc bảo tồn ngôn ngữ
DTTS trong dạy học ở trường tiểu học vùng Đông Bắc Việt Nam nhằm đề
xuất một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường
tiểu học. Qua đó, góp phần bảo tồn ngôn ngữ DTTS và nâng cao chất
lượng đào tạo HS nói chung, HS DTTS nói riêng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá, phân tích tài liệu lý thuyết liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 5
Phương pháp điều tra bằng ankét, phương pháp quan sát, phương pháp
trò chuyện, phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong quá
trình dạy học ở trường tiểu học.
Chương 2: Thực trạng bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở trường tiểu
học vùng Đông Bắc.
Chương 3: Một số hình thức bảo tồn ngôn ngữ DTTS trong dạy học ở
trường tiểu học vùng Đông Bắc.
Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài
liệu tham khảo và Phụ lục. Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn
người dân phải nói ngôn ngữ khác không phải là ngôn ngữ DT mình sẽ làm
cho họ đánh mất tình cảm và lòng tự hào DT. Chính vì vậy, Lê-nin đã đưa
quyền học tập bằng tiếng mẹ đẻ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 7
điều kiện cho người DT học tập bằng tiếng mẹ đẻ vào cương lĩnh của Đảng
Cộng sản Liên Xô.
Ở Nga, đạo luật về ngôn ngữ của Liên bang Nga được thông qua năm
1990 công nhận rằng tất cả các ngôn ngữ là một phần di sản văn hoá, lịch sử
DT được Nhà nước bảo hộ. Nhà nước thực hiện một chính sách ngôn ngữ trên
cơ sở khoa học có khả năng bảo tồn mọi ngôn ngữ của các DT Nga và đảm
bảo sự phát triển và nghiên cứu ngang bằng tất cả các ngôn ngữ đó. Mọi sự
tuyên truyền thù địch và xúc phạm bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều bị ngăn
cấm. Đạo luật chú ý đặc biệt tới việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các
DT ít người. [14, tr 120]
Trung Quốc là một quốc gia đa DT, các DTTS có số lượng quá ít so
với DT đa số nhưng lại chiếm tới 60% lãnh thổ của đất nước. Mỗi DT có
ngôn ngữ riêng dẫn tới tình trạng đa ngữ ở nước này. Cùng với sự phân
tán lãnh thổ của ngôn ngữ các DT, tình trạng khác biệt giữa nhiều vùng
khác nhau của ngôn ngữ phổ thông là đặc điểm quan trọng ảnh hưởng tới
chính sách ngôn ngữ của quốc gia này. Chính vì vậy, chính phủ nước này
thực hiện phương châm là bình đẳng trong quyền lợi và trách nhiệm giữa
các DT. Theo phương châm đó, chính sách bình đẳng ngôn ngữ được lựa
chọn và được hợp thức hoá về mặt pháp luật. Điều 4, Hiến pháp 1984 của
quốc gia này nêu rõ: “Mọi dân tộc đều có quyền tự do sử dụng và phát
triển ngôn ngữ và chữ viết riêng của mình”. Trong đạo luật của nước
Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1984 về vấn đề tự trị của các DT, Nhà
nước đã có những quy định cụ thể về chính sách ngôn ngữ. Trong điều 49
sau: (a) Dạy bằng tiếng Tây Ban Nha, còn tiếng Catalan được dạy như
một môn học; (b) Dạy bằng tiếng Catalan, còn tiếng Tây Ban Nha được
dạy như một môn học; (c) Tiếng Tây Ban Nha được sử dụng như một
phương tiện dạy học chủ yếu, tiếng Catalan được dạy như một môn học và
dần dần được dạy cho phần lớn các khoá học. Như vậy, các DTTS trong
vùng được học tập bằng cả ngôn ngữ mẹ đẻ và ngôn ngữ phổ thông. Qua
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 9
đó, cộng đồng DTTS nơi đây vừa bảo tồn được ngôn ngữ của DT mình
mà vẫn theo kịp sự phát triển của các DT đa số khác. [14, tr 159]
Google- một công ty Internet tầm cỡ thế giới có trụ sở tại Hoa Kỳ đang
thực hiện một dự án có tên “Những ngôn ngữ có nguy cơ biến mất” nhằm bảo
vệ hơn 3.000 ngôn ngữ thoát khỏi nguy cơ "tuyệt chủng". Trang web của dự
án có tên endangeredlanguages.com là nơi phối hợp trực tuyến nhằm bảo vệ
tính đa dạng của ngôn ngữ trên thế giới. Thông qua trang web này mọi người
có thể kiểm tra và chia sẻ nội dung về các ngôn ngữ có nguy cơ biến mất. Ông
Rissman- người thực hiện dự án cho biết người sử dụng có thể tải lên trang
web này các đoạn video, âm thanh hay những văn bản về các loại ngôn ngữ
hiếm gặp, đồng thời nhấn mạnh việc bảo vệ hơn 3000 ngôn ngữ có nguy cơ
biến mất này chính là bảo vệ tính đa dạng của văn hóa. Nó thể hiện sự tôn
trọng những lớp người đi trước và cũng là sự khích lệ đối với thế hệ trẻ. [28]
1.1.2. Những nghiên cứu trong nƣớc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, DT Việt Nam luôn phát huy tinh
thần anh dũng, kiên cường, bất khuất, không cúi đầu trước bất kỳ kẻ thù
xâm lược nào. Cũng trong quá trình ấy, DT Việt Nam ý thức rất rõ ràng
về lòng tự hào, tự tôn DT, trong đó có việc bảo tồn, phát huy vốn ngôn
ngữ, chữ viết riêng. Có rất nhiều hội thảo, công trình nghiên cứu khoa
học, bài báo bàn về vấn đề ngôn ngữ và bảo tồn ngôn ngữ DTTS, có thể
phú và đa dạng hơn. Chính vì thế, ở Việt Nam, người DTTS có nhu cầu cao
trong việc sử dụng cả tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ của mình. Và đồng thời
người ta cũng nhận ra vai trò nghiêng về chức năng “Phát triển” kinh tế- xã
hội đối với tiếng phổ thông và ưu tiên về chức năng “Nâng cao giá trị văn
hoá” cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình đối với người DT. [4]
Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã thông qua “Đề án dạy tiếng Thái,
Mông cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở giai đoạn 2011- 2015, định
hướng đến năm 2020”, do Sở GD – ĐT tỉnh Điện Biên thực hiện. Đề án nhằm
mục tiêu bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của DT Thái, Mông trên địa bàn
tỉnh Điện Biên. Theo đó sẽ hoàn chỉnh bộ chương trình và tài liệu dạy tiếng
Thái, Mông; triển khai thực hiện chương trình dạy cho HSTH, trung học cơ
sở theo quy mô, nội dung và lộ trình; đào tạo đội ngũ cán bộ giáo viên dạy
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 11
tiếng Thái, Mông phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu tiếng DT…Đề án
thống nhất, đối với tiếng Thái sẽ sử dụng ngôn ngữ ngành Thái đen (Tay
Đăm) và mẫu chữ Thái cổ; đối với tiếng Mông thì sử dụng ngôn ngữ ngành
Mông đỏ (Mông Lềnh - Mông Hoa) và sử dụng mẫu chữ do Bộ GD-ĐT quy
định. Theo đánh giá của Ban dân tộc tỉnh Điện Biên việc triển khai đề án để
bảo tồn, phát huy chữ viết, ngôn ngữ Thái, Mông là nhu cầu cấp thiết. Vì vậy,
ngoài yêu cầu có một bộ sách giáo khoa chuẩn, đòi hỏi nguồn giáo viên tham
gia công tác giảng dạy phải được sàng lọc kỹ, hội tụ các yếu tố tâm huyết, yêu
nghề, hiểu biết văn hóa DT. [22]
Hội thảo ngôn ngữ học toàn quốc "Chính sách của Đảng và Nhà nước
Việt Nam về ngôn ngữ trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập quốc tế" được tổ chức vào ngày 26,27/11/2009 đã đề cập tới vai trò,
chức năng của ngôn ngữ DTTS trong đời sống của mỗi DT và trong việc giữ
gìn bản sắc văn hoá DT. Hội thảo làm rõ một số vấn đề chính sau: Chức năng
1.1.3.1. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề DT và thực
tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như
dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta
ngay từ khi thành lập cho đến nay luôn coi vấn đề DT và xây dựng khối đại
đoàn kết toàn DT có tầm quan trọng đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
Nước Việt Nam là một, DT Việt Nam là một, đồng bào các DT đều là anh em
ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ
thiêng liêng của các DT. Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại
đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Trong mỗi thời kỳ cách
mạng, Đảng và Nhà nước luôn coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề DT là
nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như
tiềm năng của từng DT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.
Chính sách DT là hệ thống các quan điểm chính trị của một giai cấp,
đại diện là chính đảng và nhà nước của nó, để giải quyết mối quan hệ giữa các
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 13
DT. Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách
DT đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Trong thời kỳ đổi mới, các
nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm. Nếu như
trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh:
Đoàn kết, bình đẳng giữa các DT thì từ Đại hội VI trở đi các nguyên tắc này
đã được xác định là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’ (Đại hội VI,
VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X). [7]
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của các thế hệ đi trước, hơn 70 năm
qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quyết sách đúng đắn về vấn đề DT.
phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các
dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi, vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng”, kiên quyết “Chống kỳ
thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực
đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”. [6]
Ngoài ra còn có những văn bản quan trọng có liên quan đến miền núi
và vùng DT đã được ban hành: Nghị quyết Bộ Chính trị số 22- NQ/TƯ,
(ngày 27/11/1989)- Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh
tế- xã hội miền núi; Nghị quyết số 23 Hội nghị Trung ương lần thứ 7 Ban
chấp hành Trung ương khoá IX (ngày 12/3/2003) về công tác DT trong
thời kì đổi mới, tiếp tục thể hiện sự nhất quán trong đường lối chỉ đạo của
Đảng và Nhà nước về vấn đề DT .
Như vậy, chính sách DT của Đảng và Nhà nước mang tính toàn diện,
tổng hợp, xuyên suốt các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến mỗi DT
và quan hệ giữa các DT trong cả cộng đồng quốc gia. Phát triển kinh tế- xã
hội của các DT là nền tảng để tăng cường đoàn kết và thực hiện quyền bình
đẳng DT, là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các DT. Do đó, chính sách DT còn mang tính cách mạng và tiến bộ,
đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi vì nó không bỏ sót bất cứ DT nào,
Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn 15
không cho phép bất cứ tư tưởng khinh miệt, kỳ thị, chia rẽ DT; nó tôn trọng
quyền làm chủ của mỗi người và quyền tự quyết của các DT . Mặt khác, nó
còn nhằm phát huy nội lực của mỗi DT kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả
của các DT anh em trong cả nước.
1.1.3.2. Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về vấn đề ngôn ngữ
dân tộc
Việt Nam là quốc gia đa DT thống nhất gồm 54 DT, nhưng người Kinh