1
VỀ BỨC TRANH CÁC NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở TÂY THỪA THIÊN HUẾ
TS. Trần Văn Sáng
1
TÓM TẮT
Bài viết miêu tả đặc điểm loại hình học, cảnh huống ngôn ngữ các dân tộc thiểu số
(DTTS) ở Thừa Thiên Huế, một tỉnh miền Trung của Việt Nam. Các ngôn ngữ DTTS của cư
dân bản địa ở Thừa Thiên Huế đều được xếp vào nhóm Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam
Á, được phân bố ở Việt Nam, Lào và đông bắc Thái Lan. Các ngôn ngữ Tà-ôi, Pa-cô, Cơ-tu
đều thuộc nhóm Katuic Đông; còn tiếng Bru-Vân Kiều thuộc nhóm Katuic Tây. Mục đích bài
viết còn nhằm đối chiều so sánh loại hình học giữa các ngôn ngữ Katuic với tiếng Việt.
SUMMARY
A PICTURE OF ETHNIC MINORITIES LANGUAGE IN THE PROVINCES
OF THỪA THIÊN HUẾ
This text gives the linguistic typological characteristics and a brief description of the
language situation of ethnic minorities language spoken primarily in the central highlands of
Vietnam in the provinces of Thừa Thiên Huế. These ethnic minorities language belongs to the
Katuic subbranch (in central Vietnam, southern Laos, and parts of northeastern Thailand) of
the Mon-Khmer language group, which is in turn part of the Austroasiatic language family.
The Taôih, Pacoh, Katu belongs to the nothern Katuic subbranch, Bru belongs to the western
Katuic subbranch. Other aims of This text are to use an analytical approach to deal with the
linguistic qualities (phonological and morphosyntactic) typical of a Mon-Khmer language
with a Vietnamese comparative-typological perspective.
1.Vài nét về các dân tộc thiểu số ở Tây Thừa Thiên Huế
Khu vực Tây Thừa Thiên Huế thuộc vùng miền núi, bao gồm hai huyện A
Lưới và huyện Nam Đông, nơi cư trú tập trung chủ yếu của các dân tộc thiểu số
(DTTS) của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các DTTS ở Tây Thừa Thiên Huế chủ yếu thuộc nhóm dân tộc nói ngôn
ngữ Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á. Theo số liệu thống kê năm 2009,
dân tộc Tà-ôi (với các nhóm địa phương: Tà-ôi, Pa-cô, Pa-hi) có số lượng
Thừa Thiên Huế là tỉnh đa dân tộc, đa ngôn ngữ. Tiếng nói của các dân
tộc được xem là bản địa thuộc vào các ngữ hệ, chi, tiểu chi sau:
Dân tộc Kinh nói tiếng Việt thuộc nhóm Việt-Mường, chi Môn-Khmer,
ngữ hệ Nam Á, chiếm đa số. Các DTTS gồm Tà-ôi (gồm ba nhóm người Tà-ôi,
3
Pa-cô, Pa-hi), Cơ-tu, Bru-Vân Kiều đều nói ngôn ngữ nhóm Katuic, chi Môn-
Khmer, ngữ hệ Nam Á, chiếm tỉ lệ thiểu số.
Tất cả các ngôn ngữ ở Việt Nam nói chung, các ngôn ngữ DTTS ở Thừa
Thiên Huế nói riêng, đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, tuy mức độ đơn lập
tính biểu hiện ở các ngôn ngữ khác nhau là khác nhau.
Ở đây chúng tôi chỉ trình bày những nét chính hình thái ngôn ngữ và chữ
viết các ngôn ngữ DTTS nhóm Katuic, những ngôn ngữ chính thức của các
DTTS bản địa, chủ thể văn hóa khu vực Tây Thừa Thiên Huế. Vấn đề xã hội
ngôn ngữ học và sự tiếp xúc giữa tiếng Việt với ngôn ngữ DTTS trên địa bàn sẽ
là một chủ đề được chúng tôi trình bày trong một bài viết riêng.
2.1. Đặc điểm loại hình
Các ngôn ngữ DTTS của cư dân bản địa ở Tây Thừa Thiên Huế đều được
xếp vào nhóm Katuic, chi Môn-Khmer, ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic).
Nhóm Katuic gồm nhiều ngôn ngữ phân bố ở Việt Nam, Lào và đông bắc
Thái Lan, chúng được phân thành 2 nhóm: nhóm Katuic Đông và nhóm Katuic
Tây. Các ngôn ngữ Tà-ôi, Pa-cô, Cơ-tu đều thuộc nhóm Katuic Đông; còn tiếng
Bru-Vân Kiều thuộc nhóm Katuic Tây.
Từ góc độ loại hình học, các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Quang Hồng,
N.V.Xtankêvich đều cho rằng, các ngôn ngữ DTTS tiểu chi Katuic đều là những
ngôn ngữ đơn lập, thuộc tiểu loại hình cổ, cận âm tiết tính (sesquisyllabic). Căn
cứ vào đặc điểm âm tiết, Nguyễn Quang Hồng xếp các ngôn ngữ “cận âm tiết
tính” vào loại hình III, đó là “những ngôn ngữ không chấp nhận hiện tượng xê
dịch ranh giới âm tiết, song thừa nhận các tổ hợp phụ âm trong cấu trúc âm tiết
bản ngữ. Các ngôn ngữ này nói chung không quan tâm đến số lượng âm tiết…”
2
trong cho rằng, trong tiếng Tà-ôi, phương
thức biến âm là một trong ba phương thức cấu tạo từ tiểu biểu. Ví dụ: kapeas
(hất ra) > kaleas (bị hất ra vật nhỏ); avoóq (ông) > ivoóq (ông, gọi gián tiếp);
ama (cô) > ima (cô, gọi gián tiếp). Có thể nhận thấy, sự biến âm ở đây diễn ra
không rõ ràng như các ngôn ngữ châu Âu.
2.2. Đặc điểm ngữ âm
Về mặt ngữ âm, các ngôn ngữ “cận âm tiết tính” nhóm Katuic có cấu trúc
âm tiết trong các ngôn ngữ loại hình này có thể rất đa dạng. Tuy nhiên, cũng lưu
ý rằng “tư liệu ngôn ngữ thực tế cho thấy trong các ngôn ngữ này rất ít xuất
3
Xem thêm: Nguyễn Thị Sửu, 2009, Cấu tạo từ tiếng Ta Ôi (trong sự so sánh với tiếng Việt), Luận án Tiến sĩ
Ngôn ngữ học, Viện Ngôn ngữ học.
5
hiện những tổ hợp phụ âm ở cuối âm tiết, mà ở vị đầu âm tiết cũng ít gặp những
tổ hợp nhiều hơn hai phụ âm”
4
. Nhận định này cho thấy vấn đề tư liệu quan
trọng như thế nào cho việc đưa ra một giả thuyết và kết luận khi nghiên cứu
ngôn ngữ về mặt loại hình học.
Có thể nêu những đặc điểm ngữ âm nổi bật nhất của các ngôn ngữ nhóm
Katuic theo các vấn đề sau:
- Từ ngữ âm học thường có dạng đa tiết. Các âm tiết có thể chia thành hai
loại: âm tiết phụ (hay tiền âm tiết) và âm tiết chính. Trong những từ song tiết,
âm tiết phụ đi trước âm tiết chính và âm tiết chính là âm tiết mang trọng âm từ;
có khá nhiều từ có vỏ ngữ âm lớn hơn hai âm tiết. Mô hình từ ngữ âm học có thể
có tới ba tiền âm tiết. Chẳng hạn, từ âm vị học trong tiếng Cơ-tu “gồm một âm
tiết chính và có thể có một, hai hoặc ba âm tiết phụ đứng trước”
5
. Ví dụ: karung
(sông), kakoong (núi), aka (cá suối), ating (lá dong), dhrông (màu hồng),…
m, n, nh, ng, s, sh, h, l, r, g], bán nguyên âm [v, y] và các hợp phụ âm [pr, pl, br,
bl, kr, kl, khl, khr, phl…] trong tiếng Bru-Vân Kiều
8
. Ví dụ: klơ (thăm), tru (cá
sấu), kléh (cưỡi),…
- Số lượng nguyên âm trong các ngôn ngữ nhóm Katuic thuộc vào loại
phong phú. Các nguyên âm đơn có sự đối lập đều đặn về trường độ, khu biệt về
âm vực. Hệ thống nguyên âm tiếng Bru-Vân Kiều lên đến 42 nguyên âm. Ví dụ:
ping (mồ mã) - pĩng (cái hông), mư (bói) - mữ (thuốc súng),…
- Hệ thống âm cuối trong âm tiết chính khá phức tạp, chúng có thể là một
phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm. Ngoài các phụ âm tắc, vô thanh [-p, -t, -c, -k] và
các âm mũi tương ứng [-m, -n, -, -], các bán nguyên âm [-j, -w], các phụ âm
nước, lỏng [-l, -r] có chức năng âm cuối giống nhiều ngôn ngữ DTTS thuộc chi
Môn-Khmer khác, trong hệ thống âm cuối các ngôn ngữ Katuic còn có các phụ
âm thanh hầu [-h, -], tổ hợp bán nguyên âm + phụ âm thanh hầu [-i, -jh, -w]
trong tiếng Tà-ôi [ví dụ: achoiq (gùi nhỏ), koơiq (bé), mooih (héo non),…], hay
các tổ hợp [uq, iq, ih] trong tiếng Bru-Vân Kiều [ví dụ: lauq (múa võ), ruaiq
(ruột), achoaih (ông),…], các tổ hợp [-w, - i, -ih] trong tiếng Cơ-tu [ví dụ:
puih (nóng), tapuih (làm nóng), manưih (người),…].
Về cấu trúc âm tiết trong các ngôn ngữ nói trên, nói chung “còn phức tạp
và không “chặt cứng” do sự có mặt của các phụ âm kép ở đầu âm tiết và cả các
phụ âm xát hoặc rung ở cuối âm tiết. Đó chưa phải là điều kiện cần thiết và tiện
lợi cho việc thực hiện những diễn biến phức tạp về âm điệu trong nội bộ một âm
tiết, do đó chưa thể hình thành ngay một hệ thống thanh điệu phức tạp và hoàn
8
Hoàng Văn Ma, Tạ Văn Thông, 1998, Sđd, tr.48.
7
chỉnh như trong nhiều ngôn ngữ thuộc tiểu chi Việt - Mường hay các ngôn ngữ
thuộc ngữ hệ Tày - Thái, hoặc ngữ hệ Hán - Tạng”
9
Nguyễn Quang Hồng, 2012 , Sđd, tr.262.
10
Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi, 1998, Sđd, tr.58.
11
Nguyễn Thị Sửu, 2009, Sđd.
8
-r- (trung tố chỉ mối quan hệ qua lại giữa các chủ thể bằng hành động được căn
tố biểu thị) [ví dụ: koong (gõ)- kanoong (dùi, cái để gõ); kachăng (cười) -
karchăng (cười với nhau)].
3.4.Đặc điểm về từ vựng
Hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ Katuic phản ánh một bức tranh phong
phú, đa dạng, được hình thành do các mối quan hệ cội nguồn và tiếp xúc với các
ngôn ngữ Môn-Khmer khác cùng họ Nam Á và có quan hệ tiếp xúc, vay mượn
các ngôn ngữ không cùng nguồn gốc và loại hình. Cũng giống các ngôn ngữ
Môn-Khmer khác, trong hệ thống vốn từ cơ bản của nhóm ngôn ngữ Katuic đều
có nguồn gốc Nam Á bản địa. Đó là lớp từ thuộc vốn từ cơ bản như: các từ chỉ
hiện tượng thiên nhiên (mây, mưa, nước, gió…), các từ chỉ bộ phận cơ thể (thân,
chân, tay, cổ, cằm…) hay con người (người, con, thanh niên,…), các từ chỉ thời
gian (ngày, đêm, sáng, tối, giờ,…), các từ chỉ đặc điểm, tính chất (đỏ, xanh,
trắng, vàng, …), các từ chỉ động vật (trâu, bò, ngựa, dê, gà, vịt,…) và các từ chỉ
thực vật (cây, hoa, lá, búp, lúa, thóc…). Tuy nhiên, vấn đề có cùng nguồn gốc
hay do tiếp xúc, vay mượn không phải lúc nào cũng được chỉ ra một cách rõ
ràng và minh xác. Bởi lẽ, trong vốn từ vựng của các ngôn ngữ Katuic có rất
nhiều từ có thể có nguồn gốc với các ngôn ngữ tiểu chi Việt-Mường, ngược lại,
trong nội bộ các ngôn ngữ Nam Á nói chung, chi Môn-Khmer nói riêng, các
ngôn ngữ Việt-Mường hết sức gần gũi với các ngôn ngữ Katuic.
Trong vốn từ vựng các ngôn ngữ Cơ-tu, Bru-Vân Kiều, Tà-ôi, Pa-cô hiện
nay có nhiều từ ngữ vay mượn do quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ trong khu
vực, đặc biệt là tiếp xúc, vay mượn từ tiếng Việt bởi những nguyên nhân ngôn
ngữ học và ngoài ngôn ngữ học. Đa số các từ vay mượn đều thuộc lớp từ vựng
. Có cùng quan điểm, các tác giả “Tiếng Bru-Vân Kiều” nhận xét
“tiếng Bru-Vân Kiều đặc biệt gần với Pakôh; mối quan hệ giữa Pakôh và Taôih
là gần gũi nhất”
13
. Vậy, nhóm Katuic thực chất có mấy ngôn ngữ? Vị trí của
mỗi ngôn ngữ ra sao?
12
Vương Hữu Lễ,1997, Từ điển Bru-Việt-Anh, Nxb Thuận Hoá, Huế, tr.14.
13
Hoàng Văn Ma, Tạ Văn Thông, 1998, Sđd, tr.210.
10
Về vị trí tiếng Cơ-tu và tiếng Bru-Vân Kiều là tương đối rõ ràng. Đó là
hai ngôn ngữ độc lập. Vấn đề còn lại là mối quan hệ giữa tiếng Pa-cô với tiếng
Tà-ôi. Một số tài liệu xem tiếng Tà-ôi như một bộ phận của tiếng Pa-cô, và xem
tiếng Tà-ôi như một phương ngữ của Pa-cô. Chẳng hạn, quan điểm: “có thể xem
sự khác nhau về tiếng nói của ba nhóm Pa cô, Ta ôi, Pa hi là sự khác nhau giữa
các tiếng địa phương của một ngôn ngữ thống nhất, chứ không phải là sự khác
nhau giữa các ngôn ngữ”
14
. Chính mức độ gần gũi giữa tiếng Pa-cô và tiếng Tà-
ôi khiến các nhà nghiên cứu đề nghị một tứ tiếng chung: tiếng Pa cô-Ta ôi. Cũng
có người coi tiếng Pa-cô chỉ là một phương ngữ của tiếng Tà-ôi, chẳng hạn
Nguyễn Thị Sửu. Quan điểm mới nhất là xem tiếng Pa-cô và tiếng Tà-ôi như hai
ngôn ngữ độc lập. Theo Đoàn Văn Phúc, cái gọi là tiếng Pa cô - Ta ôi là “một
khái niệm không rõ ràng”
15
. Ông cho rằng: “tiếng Ta ôi có xu hướng biến đổi
gần với tiếng Phương và các thổ ngữ của tiếng Cơ tu hơn so với tiếng Pa cô, Pa
hi và Bru - Vân Kiều. Ngược lại, tiếng Pa cô, Pa hi có nhiều nét biến đổi giống
với tiếng Bru - Vân Kiều. Như vậy, nhóm ngôn ngữ Cơ tu ở Việt Nam gồm ít
là /N/. /N/ ở vị trí âm đầu và được thể hiện thành một trong các âm mũi nói trên,
thường đồng nhất về vị trí cấu âm với phụ âm đầu của âm tiết chính đi sau đó.
Đặc điểm ngữ âm này cũng không có trong tiếng Việt.
- Hệ thống các âm đầu trong ngôn ngữ DTTS, ngoài những phụ âm đơn có trong
tiếng Việt, còn có các tổ hợp phụ âm [kl-, kr-, pl-, tl-,…]. Tiếng Việt hiện đại
không còn có đặc trưng các tổ hợp phụ âm này.
- Số lượng nguyên âm trong các ngôn ngữ DTTS phong phú và nhiều hơn trong
tiếng Việt. Các nguyên âm đơn có sự đối lập đều đặn về trường độ, khu biệt về
âm vực, không có thanh điệu; trong khi tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu.
- Hệ thống âm cuối trong âm tiết chính phức tạp hơn tiếng Việt, chúng có thể là
một phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm. Ngoài các phụ âm tắc, vô thanh [-p, -t, -c, -k],
các âm mũi tương ứng [- m, - n, -, -], bán nguyên âm [-j, -w] có trong tiếng
Việt, các ngôn ngữ DTTS còn có thêm các phụ âm nước, lỏng [-l, -r] có chức
năng âm cuối, các phụ âm thanh hầu [-h, -], tổ hợp bán nguyên âm + phụ âm
thanh hầu [-jh, -w].
3.2. Những tương đồng và khác biệt về chữ viết
Cả chữ DTTS lẫn chữ Quốc ngữ đều thuộc hệ chữ La tinh. Đó là các loại
chữ viết ghi âm vị. Cách ghi các từ theo nguyên tắc ngữ âm học. Loại chữ này
phản ánh tương đối đúng ngữ âm, phần lớn mỗi chữ tương ứng với một âm, có
giá trị khoa học cao và rất gần với bộ chữ ngữ âm quốc tế (kí hiệu phiên âm
quốc tế). Tuy cùng hệ chữ La tinh nhưng giữa chữ DTTS với chữ Quốc ngữ vẫn
có những khác biệt cơ bản:
12
- Để ghi nguyên âm ngắn, chữ viết DTTS sử dụng “dấu sắc” trên các nguyên âm
ngoại trừ chữ â, ă giống chữ Quốc ngữ, như ư-ứ, ê-ế, u-ú, oo-oó, a-ă, ơ-â,…Ví
dụ: toóm (suối), kaseénh (con rắn), achúh (thác),… trong tiếng Tà-ôi; koóh
(núi), kammoóng (siêng năng), koónh (đàn ông, đực), … trong tiếng Pa-cô.
- Để ghi hiện tượng âm tắc thanh hầu ở cuối âm tiết, chữ DTTS dùng con chữ
“q” để biểu thị, còn chữ Quốc ngữ không ghi. Ví dụ: daq (sông), a-aq (con
qụa) trong tiếng Pa-cô; kireq (cây mây), aroq (khoai môn),… trong tiếng Cơ-
địa ở khu vực Bắc Trường Sơn, Trung Trung Bộ. Các ngôn ngữ DTTS ở Tây
Thừa Thiên Huế đều là những ngôn ngữ đơn lập thuộc tiểu loại hình cổ, cận âm
tiết tính, chúng vừa mang những đặc điểm chung có ở các ngôn ngữ Môn-
Khmer, vừa có những khác biệt về loại hình học với tiếng Việt, một ngôn ngữ
đơn lập điển hình. Việc tìm hiểu đặc điểm loại hình học các ngôn ngữ Katuic
một cách chuyên sâu sẽ góp phần vào việc:
(1) Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ và chữ viết các ngôn ngữ DTTS trên địa
bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, góp phần biên soạn từ điển dân tộc -Việt, Việt - dân
tộc, sách giáo khoa bằng tiếng dân tộc trong chương trình giáo dục phổ thông;
(2) Nhận biết những điểm tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt so với
các ngôn ngữ DTTS để thấy rõ sự giao thoa, chuyển hóa, vay mượn giữa các
ngôn ngữ cũng như vấn đề chuẩn hóa cách viết tên riêng gốc DTTS nói chung,
địa danh gốc DTTS nói riêng trong văn bản tiếng Việt và trên bản đồ quốc gia.
Huế, 22/12/2014
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN
Tiếng Việt
1. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi (1998), Tiếng Katu, Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
3. Nguyễn Quang Hồng (2012), Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, in lần thứ ba, Nxb
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Vương Hữu Lễ (1997), Từ điển Bru-Việt-Anh, Nxb Thuận Hoá, Huế.
5. Hoàng Văn Ma, Tạ Văn Thông (1998), Tiếng Bru-Vân Kiều, Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
14
6. Đoàn Văn Phúc (2009), Vị trí của tiếng Tà ôi trong nhóm ngôn ngữ Cơ tu ở Việt
Nam, trong “Tìm hiểu các ngôn ngữ dân tộc ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, tr. 294-318.
7. Trần Văn Sáng (2013), “Cách phiên chuyển địa danh gốc dân tộc thiểu số ở Thừa