GIÁ TRỊ PHẢN ÁNH HIỆN THỰC CỦA ðỊA DANH CÓ NGUỒN GỐC
NGÔN NGỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở THỪA THIÊN HUẾ
Trần Văn Sáng
( Trường ðại học Phú Xuân - Huế
Nghiên cứu sinh Viện Ngôn ngữ học)
1. Dẫn nhập
1.1. ðịa danh, trước hết, là một hiện tượng ngôn ngữ. Nó là những “khối ngôn ngữ kí
sinh” ñược dùng ñể ñịnh danh các ñối tượng ñịa lí. Nhưng ñịa danh ñược sinh ra cùng văn
hoá, phát triển cùng văn hoá, do vậy, nó cũng là một hiện tượng văn hoá. ðịa danh không
chỉ thực hiện chức năng cơ bản là ñịnh danh sự vật, cá thể hoá ñối tượng mà còn thực hiện
chức năng phản ánh. Mỗi ñịa danh ñều ra ñời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nên nó
phản ánh nhiều mặt xã hội xung quanh. ðây cũng có thể quan niệm là chức năng xã hội của
ñịa danh. Ngoài ra, ñịa danh còn biểu hiện ñặc ñiểm văn hoá ngôn ngữ của cộng ñồng. Mỗi
ñịa danh hay một lớp ñịa danh ñều gắn với văn hoá của cộng ñồng hay từng khu vực cụ thể.
Nói như A.V.Superanskaja, nhà ñịa danh học người Nga, ñịa danh chính là “những tấm bia
bằng ngôn ngữ ñộc ñáo về thời ñại của mình”
1
. Theo ñó, ñịa danh phản ánh nhiều khía cạnh
ñịa lý, lịch sử, văn hóa, dân tộc, kinh tế…nơi mà nó chào ñời.
1.2. Nghiên cứu ñịa danh ở Thừa Thiên Huế nói chung, ñịa danh có nguồn gốc ngôn
ngữ dân tộc thiểu số nói riêng, là một hướng tiếp cận liên ngành ngôn ngữ-văn hoá học về
một vùng ñịa lý hội tụ nhiều lớp, nhiều tầng văn hóa có sự giao thoa, tiếp biến giữa các dân
tộc chung sống trên ñịa bàn cư trú (Kinh, Chăm, Cơ Tu, Pa Cô-Ta Ôi). Trong quá trình hình
thành và chuyển biến, ñịa danh không chỉ chịu tác ñộng bởi các yếu tố ngôn ngữ mà còn cả
các yếu tố ngoài ngôn ngữ. Các yếu tố này làm cho ñịa danh trở thành những “trầm tích
sống” bằng ngôn ngữ, ký thác nhiều thông tin tư liệu quý giá ñối với các ngành khoa học:
ngôn ngữ học, dân tộc học, văn hoá học, lịch sử và khảo cổ học.
1.4. Ở Việt Nam, vấn ñề ñịa danh từ lâu ñã ñược nhiều nhà ngôn ngữ học, dân tộc
học, ñịa lý học quan tâm
2
. Tuy nhiên, mảng ñịa danh ngôn ngữ dân tộc thiểu số trên ñịa bàn
Căn cứ vào ngôn ngữ tạo ñịa danh, các ñịa danh ở Thừa Thiên Huế ñược phân thành
hai nhóm chính: a) Nhóm các ñịa danh tiếng Việt, bao gồm Hán Việt và Thuần Việt( 1763
ñịa danh); b) Nhóm các ñịa danh tiếng dân tộc thiểu số (485 ñịa danh).
Căn cứ vào ñối tượng ñịa lí mà ñịa danh phản ánh, chúng tôi chia ñịa danh Thừa
Thiên Huế thành ba nhóm chính: a) Nhóm các ñịa danh hành chính-cư trú (1327 ñịa danh,
chiếm 59%); b) Nhóm các ñịa danh công trình xây dựng (382 ñịa danh, chiếm 17%);
c)Nhóm các ñịa danh chỉ ñối tượng ñịa hình tự nhiên (539 ñịa danh, chiếm 24%).
Trong số 485 ñịa danh dân tộc thiểu số thu thập ñược, nhóm ñịa danh có nguồn gốc
tiếng Pa Cô- Ta Ôi và Cơ Tu chiếm ña số; nhóm các ñịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân
tộc khác Bru-Vân Kiều, Chăm cổ chiếm một phần nhỏ và một số ñịa danh hiện vẫn chưa
xác ñịnh ñược rõ ràng nguồn gốc ngôn ngữ tạo nên chúng.
Sự có mặt ñầy ñủ các loại hình ñịa danh và sự phong phú về ngôn ngữ tạo ñịa danh
qua số liệu thống kê ở trên cho thấy rõ: Thừa Thiên Huế là một vùng ñất có bề dày lịch sử 3
Xem thêm các bài viết của chúng tôi:
Trần Văn Sáng(2008), Bước ñầu tìm hiểu ñặc ñiểm cấu tạo và ý nghĩa các ñịa
danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế, Báo cáo Hội thảo Ngữ học toàn quốc
lần thứ nhất, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Cần Thơ, ngày 18-4; Trần Văn Sáng(2009), Cách phiên chuyển ñịa danh từ
tiếng Pa-cô Ta-ôi ở Thừa Thiên Huế sang tiếng Việt, Báo cáo Hội thảo Ngôn ngữ học toàn toàn, Viện Ngôn ngữ học
Việt Nam, tháng 11, Hà Nội; Trần Văn Sáng (2008), Các phương diện văn hoá của ñịa danh ở Thừa Thiên Huế, Hội
thảo quốc tế Việt Nam-Trung Quốc, Trường ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ðại học Quốc gia Hà Nội, tháng
11, Hà Nội.
văn hoá và giàu bản sắc. Bức tranh ngôn ngữ văn hoá tộc người giàu bản sắc ấy, trước hết,
ñược thể hiện qua hệ thống ñịa danh. Mỗi ñịa danh là một “vật dẫn văn hoá” về vùng ñất mà
nó chào ñời.
Hàm (Taham: làm cho chảy máu), núi Li Leng (Lileng: chắc, bền), thôn Cô Lênh (Kléng:
làm cho mặn mòi, ngọt ngào), thôn A Bã (Abăq: chỉ sự mặn mòi, ñằm thắm), thôn Ka Lô
(Klô: có nghĩa là xấu hổ). Nhóm ñịa danh Cơ Tu: sông Bao Lác (Parlak: khoái cảm); thôn
Cha ðu (Chadu: nấp, che); thôn Poi Ring (Paríng: làm cho thấu ñáo); khe Nà Sặt (Rsặt: chật
chội).
+ ðịa danh phản ánh ñúng vị trí, ñịa ñiểm hình thành ñối tượng ñược gọi tên. Nhóm
ñịa danh Pa Cô- Ta Ôi: ñồi Tu Nơ Trong (Tu Ntrong: ñầu của một chiếc cầu), ñồi Tu Ắt (Tu
Ăt: ñầu nguồn cư trú của gấu khỉ ), ñồi Ka Lâm (Kallơơm: ñiểm tiểu tiện), gò A Xin (Asil:
ñiểm dốc nghỉ ngơi khi ñi rừng về), khe Tu Tôm (Tu Toóm: ñầu một con suối), suối Ka Tê
(Katéh: phía trên kia), núi A Rum Cà Lưng (Arum Karrrúm: núi phía dưới mặt trăng). Nhóm
ñịa danh Cơ Tu: núi Bơ Lạch (Parleech: ñiểm cuối); khe Tu Chùn (Tu Chưnh: ngọn núi ñá);
núi A Tây Luật (Atilượt: ñi qua, vượt trước ñi); núi Cha Lu (Challuch: tuột xuống); núi Bol
Dol (Bôl Dol: ñộng ngang qua).
Các ñặc ñiểm về hình dáng, kích thước, vị trí ñược chủ thể ñịnh danh lựa chọn ñể gọi
tên các ñối tượng ñịa lí ñã phản ánh trung thực những ñặc ñiểm nổi bật về ñịa hình nơi ñịa
bàn mà các dân tộc thiểu số ñang cư trú.
2.2.1.2. Sự phản ánh thế giới thực vật qua ñịa danh: Việc dùng tên cây cỏ ñể ñặt ñịa
danh là một hiện tượng phổ biến bởi thực vật là yếu tố tự nhiên gần gũi với con người, trực
quan và thường ñược nhận biết sớm. Thế giới thực vật ñược phản ánh một cách phong phú
nhất qua ñịa danh phải nói ñến các ñịa danh dân tộc thiểu số, tạo nên một nét văn hoá dân
dã trong lối ñịnh danh của cư dân bản ñịa. Loại ñịa danh dân tộc thiểu số, chẳng hạn ñịa
danh tiếng Pa Cô-Ta Ôi, gọi theo tên thực vật có thể phân chia theo ñặc ñiểm của từng loại
thực vật do tính phong phú của nó:
+ Các thực vật thông thường, phổ biến: thôn A Roh (Aróh là lá tơi), thôn A Ho (Aho
là cây trúc), thôn La Ngà (Langa là cây tre vàng), thôn A Ngo (Ango là cây thông dùng ñun
củi, thắp lửa), thôn A Sam (Asam là một thứ rau như rau dền), núi Ta Vi (Taviar: cây giang),
núi A Túc (Atuk: một loại cây vả), ñồi Kru (Krul: cây chôm chôm), núi A Chét (Acheat: cây
tranh lợp nhà), ñèo A Năm (Anăm: một loại rêu có thể ăn ñược), thôn A Min (Amin: một
loại cây cùng họ với cây mây), thôn Mù (Mu: một loại cây mây), thôn A Bung (Abung: cây
lồ ô).
kì nhông).
Như vậy, môi trường tự nhiên hội ñủ các ñặc ñiểm về tính chất và ñịa hình vùng ñất,
một thế giới ñộng-thực vật phong phú gắn với ñặc trưng vùng cao nguyên miền Trung, tất
cả ñều ñược “hoá thân” thành ñịa danh, qua ñó khắc hoạ rõ nét nhất một không gian văn hoá
của các tộc người ở Thừa Thiên Huế giàu bản sắc. Sinh tụ trên dạng môi trường ñặc thù, các
dân tộc ít người nơi ñây ñều xem rừng núi, cây cỏ, sông suối như bà mẹ lớn, không chỉ nơi
cung cấp thức ăn, thức uống, nguyên liệu làm nhà mà còn là chốn nuôi dưỡng ñời sống tâm
linh, tinh thần, khởi nguồn cho mạch sống văn hoá. Con người và rừng gắn chặt với nhau,
hoà quyện vào nhau, và sức sống và âm vang của núi rừng ñã tạo nên một không gian văn
hoá ñầy sinh khí.
2.2.2. Sự phản ánh các giá trị văn hoá lịch sử qua ñịa danh tiếng dân tộc
Nếu “văn hoá là cái còn lại khi người ta ñã quên ñi tất cả” theo cách nói của Edouart
Herriot
4
thì cũng có thể nói ñịa danh là một trong những “cái còn lại” ñó, trở thành “vật hoá
thạch” lưu giữ nhiều thông tin lịch sử văn hoá của một thời ñại. Ngoài các tài liệu thư tịch
cổ, ñịa danh là một trong những nguồn ngữ liệu quý giá có thể phục vụ cho công tác nghiên
cứu lịch sử, ghi lại rõ nét tất cả những dấu ấn về lịch sử ñã từng xảy ra trên vùng ñất mà ñịa
danh chào ñời. Giá trị phản ánh hiện thực về phương diện thời gian văn hoá, tức mặt lịch sử
phát triển và hình thành của ñịa bàn cư trú, của ñịa danh dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên Huế
rất phong phú và ña dạng, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau.
2.2.2.1. Mỗi ñịa danh ra ñời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất ñịnh. Do vậy,
các ñịa danh ngôn ngữ dân tộc ở Thừa Thiên Huế là một trong những nguồn tài liệu có thể
giúp các nhà sử học, dân tộc học nghiên cứu về quá trình di trú của một hay nhiều tộc
người trong lịch sử. Thừa Thiên Huế, trước khi trở thành vùng ñất kinh sư của Triều
Nguyễn, xét về lịch sử hình thành và phát triển, nó ñược biết ñến là vùng ñất “phên dậu”,
“biên viễn xa xôi”, nơi cư trú của tộc người Chăm, và cư dân Môn-Khơ Me bản ñịa. Nhiều
ñịa danh còn bảo lưu những “dấu vết” của dân tộc Chăm(Chàm) và các cuộc di dân của
người Kinh(Việt) trong tiến trình lịch sử văn hoá vùng Thuận Hoá. Dựa vào những tài liệu
Nam ra trên ñất Thừa Thiên-Huế, trong ñó ñợt di dân thời kỳ các chúa Nguyễn (thế kỷ XVI)
là lớn, ồ ạt và ñáng quan tâm nhất, nhưng ñáng kể nhất vẫn là vùng Thanh-Nghệ-Tĩnh
chuyển vào. Quá trình di trú nói trên phần nào ñược phản ánh qua các ñịa danh. Chẳng hạn,
các làng Khuông Phò, Dương Nỗ, Mỹ Xuyên vốn có tên cũ từ các làng Phò Lê, Nguyệt Viên,
ða Cảm di cư từ Thanh Hoá vào. ðặc biệt, khi tìm hiểu các ñịa danh gốc dân tộc thiểu số ở
Thừa Thiên Huế, chúng tôi phát hiện ñược nhiều “dấu vết” cho quá trình di trú của cư dân
sống trên ñịa bàn. Có những ñịa danh ñược ñem từ bên nước bạn Lào sang theo con ñường
di dân của dân tộc Ta Ôi như thôn A Rum Cà Lưng, thôn A ðớt,…; có những ñịa danh ñược
hình thành theo con ñường di dân của người Kinh sau 1975 lên vùng núi sinh sống bằng
5
Xem thêm: Hoàng Thị Châu (1966), “Mối liên hệ về nguồn gốc cổ ñại ở ðông Nam Á qua một vài tên sông”,
Thông báo khoa học, ðại học Tổng hợp Hà Nội, số 2, Nxb Giáo dục; Trần Trí Dõi(2001), Ngôn ngữ và sự phát triển
văn hoá xã hội, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội; Nguyễn Tài Cẩn (2001), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo),
tái bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
cách giữ nguyên tên gọi vùng ñất cố hương của mình ở ñồng bằng như Hương Giang,
Quảng Phú, Hồng Thượng, Hồng Quảng, Hồng Thuỷ, của huyện Nam ðông, A Lưới.
2.2.2.2 ðịa danh là một phạm trù lịch sử, mang những dấu vết của thời ñiểm mà nó
chào ñời. Vì thế, nó ñược xem là “ñài kỷ niệm” hay là “tấm bia bằng ngôn ngữ ñộc ñáo về
thời ñại của mình”. Vì vậy, ñịa danh ở Thừa Thiên Huế còn cho chúng ta biết ñược các biến
cố- sự kiện lịch sử ñã xảy ra trên một vùng ñất. Nhắc ñến ñồi A Bia thuộc huyện A Lưới,
chúng ta liên tưởng ngay ñến những trận ñánh khốc liệt trong thời kì kháng chiến chống
Mỹ. ðồi A Bia ñược gọi là “ðồi thịt băm” cũng do tính khốc liệt nói trên, mặc dù theo
nguồn gốc tiếng Cơ Tu, A Bia là cách Việt hoá của “Abiah”, nghĩa là một loại sóc có ở chốn
này. Hiện nay, ñịa danh này trở thành di tích lịch sử chiến tranh nổi tiếng và là nơi hàng
trăm du khách ghé thăm mỗi lần lên vùng cao A Lưới. Mỗi ngọn núi, dòng sông, con suối từ
Hồng Vân-Cu Tai phía bắc ñến A ðớt, A Roàng phía nam, những cái tên ñộng A So-A Túc,
A Bia-Lam Sơn, ñộng Tiên Công, sân bay A So, A Sầu, A Lưới, dốc con Mèo,… tất cả những
cho thấy sự phát triển lớn mạnh của cư dân Thuận Hoá-Phú Xuân theo dòng lịch sử.
Sự duy trì tên gọi các làng cổ cho ñến ngày nay là những bằng chứng sống ñộng về chức
năng bảo tồn của ñịa danh, góp phần lưu giữ những giá trị lịch sử và sự phát triển về mặt
kinh tế-xã hội của Thừa Thiên Huế qua các thời kỳ khác nhau. Những tên làng hiện nay
như: Sình, Sịa, Sam, Nong, Truồi,… có thể có nguồn gốc Việt cổ hoặc ngôn ngữ dân tộc
thiểu số Chăm, Pa Cô-Ta Ôi, Cơ Tu, Bru- Vân Kiều.
2.2.3. Sự phản ánh phương diện chủ thể văn hoá qua ñịa danh tiếng dân tộc
Mỗi ñịa danh ñều ñược ra ñời và hình thành gắn liền với ñặc ñiểm văn hoá của chủ
thể tạo nên chúng. Do vậy, ñịa danh có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin về văn
hoá-tâm lí của một tộc người, cũng như nguồn gốc dân cư với tư cách là những chủ thể của
một vùng văn hoá, chủ thể tạo nên các ñịa danh.
2.2.3.1. ðịa danh phản ánh tên người
ðịa danh là sản phẩm do con người tạo ra. Giữa ñịa danh và nhân danh lại có một
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cả hai ñều có thể biểu thị tâm tư, nguyện vọng, tình cảm
của con người, nhưng ñịa danh phần lớn “sống thọ” hơn nhân danh. Vì vậy, từ xa xưa,
người Việt ñã rất thích lấy tên người, tên dòng họ ñặt cho tên làng, tên sông, suối nơi mình
cư trú ñể ghi nhớ những người ñã có những ñóng góp cho ñồng bào, quê hương, tổ quốc.
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các ñịa danh nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc ở Thừa Thiên
Huế phản ánh tên người thể hiện trên mấy khía cạnh sau:
ðịa danh dân tộc thiểu số ñược ñặt theo tên người ñã góp phần phản ánh ñặc ñiểm văn
hoá của chủ thể văn hoá là cư dân Môn-Khơ Me sống trên mảnh ñất Thừa Thiên Huế. Phần
lớn các ñịa danh dân tộc ñặt theo tên những vị anh hùng của cộng ñồng, là nhân vật trong
các truyền thuyết, sử thi hay những người có công khai phá làng bản thôn xóm. Chẳng hạn,
các ñịa danh Pa Cô-Ta Ôi: ñồi Pơ Rok (Prók: tên một nhân vật tiêu biểu trong làng ở xã A
ðớt), núi Quỳnh Trên (Koonh Trên: tên nhà cách mạng, nhà lãnh ñạo huyện A Lưới), thôn
A Lưới (Alơaiq: nhân vật anh hùng của cộng ñồng trong sử thi), thác A Nô (Anôr: nhân vật
lịch sử trong sử thi).
Mỗi ñịa danh là những bài học ngắn gọn viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc
mình. ðặc biệt, ñịa danh gắn với danh nhân là những người ñược sinh ra trên mảnh ñất
mình những câu chuyện cổ tích mang ñậm dấu ấn văn hoá của dân tộc mình.
Qua việc khảo sát ñịa danh trên ñịa bàn Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy: nhóm các
ñịa danh Hán Việt và thuần Việt phản ánh phương diện tâm lí văn hoá của chủ thể ñịnh
9
Mô hình ñịa danh “X + Xá” là một kiểu ñặt ñịa danh mang ñặc trưng cho quá trình tự cư lập làng của người
Việt từ Thừa Thiên Huế trở ra. Xem thêm: Lê Trung Hoa(2006), ðịa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội; danh qua nghĩa của các thành tố tạo ñịa danh là hết sức phổ biến
10
. Chúng thể hiện ước vọng
sự giàu có, thịnh vượng như “phú”(44 ñịa danh): Phú Xuân, ðại Phú, Phú An, Phú ðiền,
Phú Lương, Quảng Phú,…; “lộc”(23 ñịa danh): Bình Lộc, Phú lộc, An Lộc, Mỹ Lộc ðiền
Lộc, Phước Lộc,…; “lợi”(6 ñịa danh): Quảng Lợi, Bình Lời, ðiền Lợi, Mỹ Lợi,…;
“hưng”(3 ñịa danh): Vinh Hưng, Hưng Long, Hưng Thái; ước vọng về sự ñổi mới, trẻ trung
qua các yếu tố tạo ñịa danh “tân”: Tân Mỹ, Tân Hội, Tân Dương,…; “xuân”: Lương Xuân,
Hương Xuân, Xuân Thiên,…; “dương”: Cảnh Dương, Thuỷ Dương, Vân Dương; khát vọng
về một quê hương ñẹp ñẽ, non nước hữu tình với “mỹ”, “tiên”, “tú”, “vân”. Chẳng hạn: Mỹ
Xá, Mỹ Thạnh, Mỹ An, Mỹ Khánh, Mỹ Phú,…; là những ước vọng cho vẻ ñẹp trong tâm hồn
như “lễ”, “nghĩa”, “nhân”, “chánh”, “ñức”, “hiền”, “lương”, “trọng” ñược thể hiện qua các
ñịa danh hành chính: Hiền Lương, ðức Trọng, Phú Lễ, An Nhơn, Tri Lễ, Xuân Chánh,
Thanh Lương, Thanh Cần,…Hơn nữa, cư dân Việt (Kinh) không quên kí thác qua ñịa danh
ước vọng về một vùng ñất hoà bình, yên ổn, cuộc sống trường tồn, vĩnh cửu thể hiện qua
các yếu tố “an”, “yên”, “hoà”, “bình”, “vĩnh”, “diên”, “trường”, “thọ”, “cường”. Chẳng hạn,
tên các làng xã An Bằng, An Thuận, Phước Yên, Hiền Hoà, Bình An, Vĩnh Trị, Vĩnh An,
Long Thọ, Phước Thọ, Phú Cường,… Qua mỗi tên ñất, tên làng, người Việt ñều gửi gắm
những ñiều tốt lành từ sâu thẳm trong tâm hồn. ðiều này thể hiện một cách sinh ñộng ñặc
những cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu phương ngữ học mà còn tạo nên nét văn hoá
ñặc trưng trong cấu tạo ñịa danh. Chẳng hạn, mô hình cấu tạo ñịa danh “Kẻ + X” chỉ tồn tại
trong lối ñịnh danh của các ñịa danh làng xã từ Thừa Thiên Huế trở ra các tỉnh phía Bắc.
2.4.2. Giá trị ngôn ngữ học của ñịa danh ở Thừa Thiên Huế còn thể hiện ở quá trình
biến ñổi ngữ âm của từ trong lịch sử. ðây là những dẫn liệu hết sức quan trọng góp phần soi
chiếu ñịa danh học từ góc nhìn ngữ âm học lịch sử. Chẳng hạn, âm gốc của ñịa danh Vĩ Dạ
là Vi Dã, nghĩa là “cánh ñồng lau sậy”, ñược ñặt từ thời nhà Lê(1428-1788), thuộc huyện
Kim Trà. Quá trình biến ñổi ngữ âm từ Vi Dã thành Vĩ Dạ phản ánh sự ñồng hoá ngữ âm
trong tiếng Việt. Từ “Vi” mang thanh ngang là thanh cao, từ “Dã” mang thanh ngã là thanh
thấp nên khó phát âm; do vậy, thanh ngã của “Dã” ñồng hoá thanh ngang của “Vi” ñể trở
thành “Vĩ” trong Vĩ Dạ. Sự biến ñổi của ñịa danh góp thêm chứng cứ cho quá trình biến ñổi
ngữ âm thường gặp trong tiếng Việt: mãnh (lực)- mạnh, lãnh (cung), lãnh (nhạt)- lạnh.
Những biến ñổi trong các ñịa danh ở Thừa Thiên Huế kiểu Dã Lê thành Dạ Lê, ðông Lâm
biến ñổi thành ðồng Lâm,… ñều tuân theo qui luật ngữ âm nói trên.
Tương tự, sự biến ñổi ñịa danh ở Thừa Thiên Huế theo kiểu Lăng Cô do Làng Cò mà
có, Huế do Hoá mà ra, ñều có thể lí giải ñược từ góc ñộ ngữ âm. Chẳng hạn, theo ý kiến của
nhiều nhà ngôn ngữ, lịch sử văn hoá, ñịa danh Huế xuất hiện dưới dạng Quốc ngữ lần ñầu
tiên trong Từ ñiển Việt - Bồ - La (1651) của A. de Rhodes. Vì trong mục từ Hoá, ông ghi là:
Ho
((
á, Kẻ Ho
(
á, Tho
(
àn Ho
(
á, Kẻ Ho
(
é. Còn ở mục từ Huế, tác giả lại viết: Ho
(
thiểu số ở những vùng có các ñịa danh này xuất hiện.
Từ các dẫn liệu ñược phân tích ở trên cho thấy ñịa danh có những ñóng góp thiết
thực vào việc nghiên cứu ngôn ngữ học trên các phương diện: ngữ âm học lịch sử, phương
ngữ học, từ nguyên học, tiếp xúc ngôn ngữ, xã hội-ngôn ngữ học và tâm lí-ngôn ngữ học.
Quá trình mã hoá các ñịa danh tiếng dân tộc thiểu số Pa Cô- Ta Ôi, Cơ Tu, Bru- Vân Kiều
và Chăm cổ bằng cách Việt hoá, Hán Việt hoá và Pháp hoá trên các bản ñồ ñã góp phần làm
sai lệch ý nghĩa từ nguyên của ñịa danh tiếng dân tộc. Việc tìm hiểu ý nghĩa và nguồn gốc
các ñịa danh có nguồn gốc tiếng dân tộc có giá trị ngôn ngữ học thiết thực, góp phần bổ
sung nguồn ngữ vựng cổ xưa trong các ngôn ngữ này mà chính bản thân người dân tộc thiểu
số cũng khó bề lí giải nó một cách rõ ràng và thấu ñáo.
3. Kết luận
3.1. Có thể nghiên cứu ñịa danh ở Thừa Thiên Huế trên nhiều khía cạnh khác nhau ñể
tìm ra những ñặc ñiểm về cấu tạo, ý nghĩa và nguồn gốc các ñịa danh. Việc nghiên cứu giá
trị phản ánh hiện thực của ñịa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên
Huế từ cách tiếp cận ngôn ngữ-văn hoá học là hướng nghiên cứu liên ngành, góp phần ñào
sâu những tầng văn hoá ẩn chứa ñằng sau các ñịa danh qua các thời kỳ khác nhau trong lịch
sử của một vùng ñất.
3.2. Qua việc nghiên cứu các ñịa danh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy có sự
hội nhập, ñan xen văn hoá của những lớp cư dân có nguồn gốc ngôn ngữ khác nhau sinh
sống trên ñịa bàn: văn hoá Việt, văn hoá Chăm, văn hoá các tộc người nói ngôn ngữ Môn-
Khơ Me bản ñịa. Những sự giao thoa và tiếp xúc, vay mượn ngôn ngữ-văn hoá giữa dân tộc
Kinh(Việt) với các dân tộc thiểu số Chăm, Ta Ôi, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu cũng ñược thể hiện
qua ñịa danh. Chúng trở thành những vật dẫn văn hoá, ký thác nhiều giá trị lịch sử quan
trọng và các ñặc ñiểm tâm lí tộc người của các chủ thể văn hoá ñất thần kinh.
3.3. ðịa danh không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một hiện tượng văn
hoá, một phạm trù lịch sử. Nghiên cứu các phương diện văn hoá của ñịa danh ở Thừa Thiên
Huế, chúng ta có thể biết ñược ñặc ñiểm ñịa lí tự nhiên, lịch sử hình thành và phát triển của
vùng ñất chứa ñịa danh, ghi dấu những sự kiện quan trọng ñã xảy ra của cư dân Thuận Hoá-
Phú Xuân với hơn 700 năm hình thành và phát triển. Những thay ñổi về dân cư và ñịa lí
từng là vùng ñất “phên dậu”, “biên viễn xa xôi”, “Ô châu ác ñịa” của cư dân Chăm ñến tỉnh
9. Quốc sử quán triều Nguyễn(1997), ðại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hoá, Huế.
10. Trần Văn Sáng(2008), Bước ñầu tìm hiểu ñặc ñiểm cấu tạo và ý nghĩa các ñịa danh
có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế, Báo cáo
Hội thảo Ngữ học toàn quốc lần thứ nhất, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Cần Thơ,
ngày 18-4.
11. Trần Văn Sáng(2009), Cách phiên chuyển ñịa danh từ tiếng Pa-cô Ta-ôi ở Thừa
Thiên Huế sang tiếng Việt, Báo cáo Hội thảo Ngôn ngữ học toàn toàn, Viện Ngôn
ngữ học Việt Nam, tháng 11, Hà Nội.
12. Trần Văn Sáng(2009), Các phương diện văn hoá của ñịa danh ở Thừa Thiên Huế,
Báo cáo Hội thảo quốc tế Việt Nam- Trung Quốc về nghiên cứu và giảng dạy ngôn
ngữ và văn hoá, Trường ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ðHQG Hà Nội,
tháng 11, Hà Nội.
13. Hoàng Sơn chủ biên (2007), Người Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế, Nxb Văn hoá dân tộc,
Hà Nội.
14. Ngô ðức Thọ (1997), Nghiên cứu chữ huý Việt Nam qua các triều ñại, Nxb Văn hoá,
Hà Nội.
15. Nguyễn Hữu Thông chủ biên(2007), Katu, kẻ sống ñầu ngọn nước, Nxb Thuận Hoá,
Huế.
16. Viện Từ ñiển học và Bách khoa thư Việt Nam (2009), Tìm hiểu ngôn ngữ các dân
tộc ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
17. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế(2005), ðịa chí Thừa Thiên Huế: phần tự nhiên, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
18. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế(2005), ðịa chí Thừa Thiên Huế: phần lịch sử, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.
B. Tiếng Anh
1. Anderson, John. M (2007), The Grammar of Names, Oxford University Press, New
York
2. Trask.R.L, 1999, Key concepts in language and linguistics, Routledge, London and
New York.
3. Mark J. Alves, 2006, A grammar of Pacoh:a Mon-Khmer language of the central
học.
Thông tin về tác giả
Trần Văn Sáng, Thạc sĩ, Giảng viên Trường ðại học Phú Xuân Huế
Nghiên cứu sinh Viện Ngôn ngữ học khóa 2008.
Hòm thư ñiện tử:
ðiện thoại: 054.3824013 Mobil: 0914 051576