Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết việt nam về nông thôn từ 1986 đến nay - Pdf 19

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI NHƯ HẢI
ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN
TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
Hà Nội, năm 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI NHƯ HẢI
ĐẶC TRƯNG PHẢN ÁNH HIỆN THỰC
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN
TỪ 1986 ĐẾN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HỒ THẾ HÀ
Hà Nội, năm 2013
2
L
L
ỜI CAM ĐOAN
ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
4. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 5
5. CẤU TRÚC LUẬN ÁN 6
NỘI DUNG 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TIỂU THUYẾT VIỆT
NAM VỀ NÔNG THÔN TỪ 1986 ĐẾN NAY 8
1.1. LUẬN BÀN MỘT CÁI NHÌN TOÀN CẢNH 8
1.1.1. Khẳng định sự đổi mới, lạc quan vào sự hồi sinh 8
1.1.2. Quan ngại về dấu hiệu chững lại 12
1.2. LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI TRỘI 17
1.2.1. Nhận định, đánh giá về những thành công 17
1.2.2. Nhận định, đánh giá về những hạn chế 25
Chương 2 DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM VỀ NÔNG THÔN
TỪ 1986 ĐẾN NAY 28
2.1. NHU CẦU ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT 28
2.1.1. Tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986 28
2.1.2. Nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết về nông thôn
sau 1986 30
2.2. NHU CẦU NHẬN THỨC VÀ SỰ CHIẾM LĨNH HIỆN THỰC ĐA
CHIỀU 36
2.2.1. Nhu cầu nhận thức mới về hiện thực trong tiểu thuyết về nông
thôn trước 1986 37
2.2.2. Sự chiếm lĩnh hiện thực đa chiều trong tiểu thuyết về nông thôn
sau 1986 38
2.3. DIỆN MẠO CỦA TIỂUẾU THUYẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG
MẠCH NGUỒN TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 41
2.3.1. Tiến trình của tiểu thuyết về nông thôn trước 1986 41
49

4.3.1. Kết cấu đơn tuyến và sự làm mới trên nền truyền thống 147
4.3.2. Kết cấu lắp ghép và sự cách tân theo hướng hiện đại 150
KẾT LUẬN 161
DANH MỤC CÔNG TRÌNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 165
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 165
166
TÀI LIỆU THAM KHẢO 167
PHỤ LỤC 1 179
186
PHỤ CHÚ 186
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Nông thôn -– nơi chứa đựng những trầm tích về văn hóa truyền thống luôn nằm
ở mạch ngầm trong đời sống của người dân Việt Nam,, Bởi Đó là những giá trị truyền
thống văn hóavốn để đã kết thành những phẩm chất trong sáng, đẹp đẽ ở người nông dân.
Cũng Và dĩ nhiên, nơi đóchính mảnh đất này đã đọng lại không ít những nỗi đau, tủi hờn,
oan khuất đeo bám người dân quê… Hiện thực đời sống xã hội nông thôn và người nông
dân Việt Nam đã được ánh xạ và in dấu lên mọi sáng tác văn học. Điều đó đã được minh
định từ thực tiễn sáng tác, từ truyền thống văn học dân tộc suốt trường kỳ lịch sử với những
hình ảnh mộc mạc, đẹp đẽ của làng quê Việt Nam. Và chúng từng lưu giữ trong các sáng
tác của tập thể dân gian. Các văn thi sĩThời trung đại, các nhà nho – thi sĩ ưu ái dành riêng
chốn quê Việt Nam những vần thơ chân mộc, sâu lắng ân tình. Những năm 1930-1945,
vVăn học lãng mạn, bám rễ vào nguồn mạch dân tộc nhưng tâm hồn lại hút gió Tây
phương, vẫn neo đậu một hồn quê nơi bạn đọc. Vào Những năm 1930-1945,Các nhà các
nhà văn hiện thực phê phán đã khẳng định sự thành công khi dựng nên bức tranh nông thôn
với những mảngh tối -– sáng về thân phận của người nông dân oằn mình dưới ách thống trị
thực dân phong kiến. Văn học cách mạng đã kế thừa thành tựu của văn học hiện thực phê
phán, khẳng định khả năng đấu tranh vươn lên làm chủ của những người cần lao như một
sự phát hiện, hàm ơn với nền văn học của một thời “mất nước nhưng không mất làng”.

thôncùng đề tài trước đó do nguyên nhân chủ quan và khách quan chưa làm được:
“Nông thôn sau 1986 đã có cái nhìn khác trước. Nếu các nhà văn trước 86 đứng ở
phương diện xã hội và phong trào để nhìn con người thì các nhà văn sau 86 đã đứng ở
góc độ con người, xã hội và các vấn đề chung” [24;tr.53-36].
Từ thực tế trên, tiểu thuyết viết về nông thôn dần thu hút được sự quan tâm của
bạn đọc. Đã có một số bài viết hoặc một vài cuốn sách, nhưng tất cả hầu như chỉ mới
dừng lại ở phạm vi hẹp, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và
toàn diện về đề tài này. Đây là khoảng trống không nhỏ cần sự góp sức của tất cả những
ai quan tâm đến mảng tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mớiđương đại.
Vì vậy, chọn đề tài Đặc trưng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam về nông
thôn từ 1986 đến nay, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn tương đối hệ thống về toàn bộ
tiến trình vận động và phát triển cũng như những đặc điểm và thành tựu trên bình diện nội
dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai
đoạn từ 1986 đến 2012nay. Qua đó, thấy được quy luật vận động của tiểu thuyết Việt Nam
viết về nông thôn Việt Nam sau chiến tranh cũng như trên con đường giao lưu của văn học
dân tộc với văn học thế giới.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi phần nào giới hạn đối tượng nghiên cứu. Vì vậy,
toàn bộ các sáng tác của tiểu thuyết viết viết về nông thôn Việt Nam từ 1986 đến 2012
sẽ là đối tượng trực tiếp để khảo sát. Riêng đề tài nông thôn miền núi, chúng tôi tạm
thời không đề cập đến trong luận án. Số lượng tác phẩm viết về nông thôn miền núi sau
đổi mới khá lớn (chủ yếu truyện ngắn), nội dung lại phong phú, độc đáo nên cần chuyên
luận riêng để nghiên cứu kĩ lưỡng và sâu rộng. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu,
chúng tôi có liên hệ, so sánh nhằm chứng minh nét riêng của tiểu thuyết viết về nông
thôn.
Sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian này, vì đó là mốc đánh dấu sự đổi mới toàn
diện của đất nước; văn xuôihọc nói chung, tiểu thuyết viết viết về nông thôn nói riêng đã
có bước ngoặt chuyển mình để đi đến những thành tựu đáng ghi nhận như hôm nay. Tất

… Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu một số thể loại khác như bút ký, truyện ngắn viết
về nông thôncùng đề tài ở thời kỳ trước và sau 1986, nhằm thấy được sự vận động toàn
cảnh của văn xuôi Việt Nam viết về nông thôn trong tiến trình lịch sử văn học.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ đối tượng như vậy, tác giả xác định phạm vi của luận án là nghiên cứu những tiền đề để
tạo nên diện mạo hành tựu của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn Việt Nam giai đoạn từ
1986 đến 2012 như tư duy nghệ thuật; nhu cầu nhận thức về hiện thực đa chiều; diện mạo
của tiểu thuyết viết về nông thôn trong mạch nguồn của tiểu thuyết đương đại…. Từrong đó,
chúng tôi chọn khảo sát những yếu tố đổi mới nổi bật, những phương diện nội dung và nghệ
thuật đặc trưng. Chúng tôi cũng cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề như: nguyên nhân dẫn
đến sự đổi mới của tiểu thuyết nông thôn, sự riêng khác trong việc phản ánh hiện thực nông
thôn, những nét mới trong phương thức biểu hiện của tiểu thuyết nông thôn đương đại và chỉ
ra những tác phẩm tiêu biểu có sự đóng góp trong tiến trình hiện đại hóa văn xuôi nói chung,
tiểu thuyết về đề tài nông thôn nói riêng.thấy được những đóng góp quan trọng, có ý nghĩa
của tiểu thuyết viết về nông thôn trong tiến trình đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986 trong
tính chỉnh thể nội dung và hình thức như quan niệm hiện thực và con người cùng những
phương thức, phương tiện biểu hiện đặc sắc của chúng.

Sau 1986, viết về nông thôn, một số tác giả tiếp tục quay trở lại đề tài cải cách
ruộng, hợp tác hóa nông nghiệp. Vấn đề này rất nhạy cảm nhưng đã được tiểu thuyết quan
tâm một cách rốt ráo vào những năm 1960. Những trầm tích về văn hóa truyền thống nằm
ở mạch ngầm trong đời sống nông thôn Việt Nam. Bởi đó thực sự là những giá trị truyền
thống bề sâu như phong tục, tập tục, tập quán để kết thành những phẩm chất trong sáng,
đẹp đẽ của nông dân Việt Nam, dĩ nhiên, cũng từ đó đọng lại không ít nỗi đau, những tủi
hờn, oan khuất đeo bám họ.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
3.1. Phương pháp nghiên cứu xã hội học văn học: vận dụng để nghiên cứu tiến trình vận
động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam viết về nông thôn, nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu
đóng góp tích cực vào việc đổi mới của tiểu thuyết nông thôn Việt Nam viết về nông thôngiai

1975, và là sự đòi hỏi tự thân của văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn nói
riêng trong sự tiếp tục phát triển ở thời kỳ đổi mới.
4.3. Luận án vận dụng những phương pháp tiếp cận mới của Khoa Nghiên cứu
văn học, đồng thời học tập một số kinh nghiệm nghiên cứu tiểu thuyết của các nhà
nghiên cứu phê bình văn học như M. Bakhtin, Roland Barthesr, Iu. M. Lotman… giúp
bạn đọc có cái nhìn mới mẻ vềvề tiểu thuyết Việt Nam viết Việt Nam viết về nông thôn
sau đổi mới trên cả hai phương diện nội dung và phương thức nghệ thuật so với so với
thời kỳgiai đoạn trước đó. Từ đó, đưa ra những kết luận có tính chất khái quát về sự đổi
5
mới trong tư duy nghệ thuật, trong việc phản ánh hiện thực và cả phương thức biểu hiện
từ nguồn mạch chung trong tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
4.4. Hiện nay, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về nông thôn nói riêng được
nhiều giới quan tâm nghiên cứu và bước đầu khẳng định những thành tựu. Vả lại, giai
đoạn văn học sau 1975 được đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và
bậc Đại học, sau Đại học. Tuy nhiên, tài liệu tham khảo về giai đoạn văn học này cũng
như mảng tiểu thuyết về nông thôn vẫn còn ít ỏi. Vì vậy, luận án cũng sẽ là một tài liệu
tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu, học tậpKết quả của luận án có
thể dùng để đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc THCS, THPT và bậc Đại học, sau
Đại học; đồng thời dùng làm tài liệu tham khảo để viết giáo trình Văn học Việt Nam
hiện đại về đề tài nông thôn.
5. CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm 150 trang chính văn. Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Công trình tác
giả đã công bố có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Phụ chú, phần
Nội dung của luận án gồm 4 chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn n
từ 1986
đến nay
Chương 2: Diện mạo chung của tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn từ 1986 đến nay
Chương 3: Hiện thực và con người trong tiểu thuyết Việt Nam về nông thôn
từ 1986

tật…, nên tâm lý chung của toàn xã hội là truy tìm nguyên nhân của những yếu kém
xuống cấp. Đứng trước những trăn trở đó, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn bắt
đầu chuyển mình và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, thế nhưng thật sự đổi mới
phải bắt đầu sau Đại hội Đảng lần VI. Sự đổi mới có được nhờ từ hai phía: sự chuyển
mình của nông thôn và sự chuyển đổi điểm nhìn từ chính bản thân của mỗi nhà văn. Từ
quan niệm đến cách cảm, cách nghĩ và tái tạo lại hiện thực trên trang viết đã thực sự
“trở dạ”. Ở quan điểm riêng của mình, tác giả cho rằng sự chuyển biến đó trước hết là
do sự mở rộng phạm vi chủ đề. Trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn
nói riêng lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề: chủ đề về số phận con người và hạnh phúc
cá nhân mà trước đó chỉ mới nhen nhóm ở Thời xa vắng, Bến không chồng, Mảnh đất
8
lắm người nhiều ma… Hai là, sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực. Bức
tranh hiện thực nông thôn trước 80 phần lớn chỉ là những hiện thực bề nổi của đời sống
như Buổi sáng, Đất mặn… Sau những năm 1980, hiện thực nông thôn đã tịnh tiến vào
chiều sâu, mạch ngầm tâm thức của đời sống Việt, cách miêu tả đó đã “mang lại một
giá trị nhận thức mới theo quan niệm “nhìn thẳng vào sự thật”… mà Đại hội Đảng lần
thứ VI (1986) đã chỉ ra… Các nhà văn đã khắc phục được những mặt bất cập của giai
đoạn trước, bám sát và bao quát những sự kiện, những vấn đề của đời sống nông thôn
hiện tại” [24;tr.36]. Tác giả khẳng định sự chuyển biến của xã hội hằn in dấu vết trong
nông thôn là có thật và có chiều sâu vững bền.
Khác với Trần Cương, trong bài Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn
học Việt Nam từ tháng 8-1945, Phong Lê không đi sâu tìm hiểu văn xuôi viết viết về nông
thôn. Ở đây, tác giả đã nhìn truyền thống văn học trên hai đề tài lớn: chiến tranh và nông
thôn. Trong đó, đề tài nông thôn “có chiều dài lịch sử ngót một thế kỷ mà công lao tạo
dựng đầu tiên là hơn một thế hệ người viết, kể từ Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn… đến
Ngô Tất Tố, Nam Cao…, và cuộc tìm kiếm kéo dài hơn 20 năm, nhằm xác định một mô
hình thích hợp cho sự phát triển của đất nước trong sự tương ứng với thời đại của những
cuộc cách mạng xã hội và khoa học -– kỹ thuật” [103;tr.21]. Tác giả đã khái quát cả bước
chuyển mình của nông thôn trong trang văn của các bậc tiền bối. Trong bài Các nhà tiểu
thuyết nông thôn trong cơ chế thị trường, Hoàng Minh Tường cũng khẳng định: mảng văn

[57]. Nhân dịp Cuộc thi tiểu thuyết lần 2 (2002-2004) kết thúc, báo Sài Gòn giải phóng
có cuộc trao đổi với nhà thơ Hữu Thỉnh -– Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam. Trong cuộc
trả lời phỏng vấn, ông khẳng định: có mùa gặt mới của tiểu thuyết viết về nông thôn
đầu thế kỷ XXI. Nét mới của cuộc thi tiểu thuyết lần 2 là các nhà văn đã có sự mở rộng
biên độ khi viết về nông thôn. Họ “đặt nông thôn Việt Nam trong những biến cố của
dân tộc đầy bão táp theo chiều dài lịch sử”, “với độ mở và góc khuất mà trước đó nhiều
nhà văn chưa có điều kiện để truyền tải tới bạn đọc. Những yếu tố đó tạo nên bộ mặt và
sức bền của nông thôn Việt Nam. Qua Dòng Sông Mía, Cánh đồng lưu lạc… đã chứng
tỏ được “sức sống của dân tộc, cốt cách của người nông dân được phác họa thật sắc
sảo” [217].
Trong bài viết Tìm kiếm những trang viết về nông thôn, Đỗ Kim Cuông đã tập
hợp những ý kiến tham luận của các nhà văn tham gia Hội nghị nhà văn các tỉnh phía
Bắc tại thành phố Hải Phòng diễn ra vào ngày 10/10/2003. Nhiều nhà văn nói lên
những suy nghĩ, tâm tư tình cảm rất chân thành, giàu tâm huyết và sâu sắc về nông thôn
và nông dân trong thời đại mới. Họ cùng chung quan điểm: sau đổi mới, bộ mặt đời
sống nông thôn, cuộc sống nông dân đang từng ngày thay da đổi thịt, nhưng cũng gặp
không ít khó khăn, cạm bẫy. Do đó, mảng sáng tác “về nông thôn và nhân dân vẫn là
một đề tài lớn”, “vẫn có sức lôi cuốn bạn đọc, vẫn kích thích các nhà văn sáng tạo”
[22]. Phạm Ngọc Tiến trong bài Đề tài nông thôn không bao giờ mòn cũng có cái nhìn
lạc quan. Tác giả khẳng định đề tài nông thôn không hề “bạc màu”, “không bao giờ
mòn”. Bởi, nông thôn Việt Nam đang từng bước chuyển mình, đáng được ghi nhận.
Quá trình nông thôn hóa, sự tác động của công nghiệp vào nông nghiệp, sự lai căng về
10
văn hóa…, cũng có mặt tích cực và tiêu cực nên đáng để các nhà văn suy ngẫm, trăn trở
[169]. Cùng quan điểm, trong cuộc trả lời phỏng vấn với báo Nông nghiệp Việt Nam,
Nguyễn Đăng Điệp đánh giá rất xác đáng: “Văn học về nông dân và nông thôn tuy ít
người theo đuổi nhưng vẫn chưa đến mức đoản mệnh”, “số lượng người viết về nông
thôn nhiều hay ít không phải là quá quan trọng mà quan trọng hơn nhiều là làm sao để
có được nhiều tác phẩm hay” [53]. Bùi Ngọc Tấn cũng rất tin tưởng, lạc quan khi cho
rằng: trong thời gian gần đây, mảng văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn

[82;tr.75]. Năm 1996, trong Luận án phó PTiến sĩ S Ngữ văn Văn xuôi viết về nông thôn
trong công cuộc đổi mới qua một số tác giả tiêu biểu, Lã Duy Lan đã nhìn lại văn xuôi viết
về nông thôn trước 1986 và cũng đã đánh giá được diện mạo chung của văn xuôi viết về
nông thôn sau 1986 đổi mới trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Năm 2012,
trong Luận án ATiến sSĩ Ngữ văn Văn xuôi viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau
1975, Bùi Quang Trường đã khái lược đề tài nông thôn trong văn xuôi Việt Nam trước
1975: đề tài nông thôn trong văn xuôi quốc ngữ buổi giao thời 1900 - – 1930, 1930 -–

1945, 1945 -– 1975, đặc biệt tác giả đã có cái nhìn bao quát về đề tài nông thôn trong văn
xuôi từ 1975 đến 2011nay. Trên phương diện đề tài, tác giả nhận xét : “Trong khoảng thời
gian 35 năm, kể từ 1975 đến nay, văn xuôi viết về nông thôn đã có những bước phát triển
vượt bậc. Sự phát triển này không chỉ thể hiện số lượng tác giả đông đảo, ở số lượng tác phẩm
lớn mà quan trọong hơn là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, về tư duy nghệ
thuật, đổi mới về đề tài, phương thức biểu hiện. … Tất cả những thay đổi này chính là bằng
chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi viết về nông thôn sau 1975 -– một giai đoạn
mới trong sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại viết về nông thôn” [215 ;tr.43-44].
Như vậy, nhiều bài viết khẳng định văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn
đã thực sự hồi sinh, để lại dấu ấn qua mỗi giai đoạn, mỗi tác giả và tác phẩm., tuy nhiên
vẫn chưa có những đỉnh cao, gây được tiếng vang lớn như một số tác phẩm giai đoạn
1932-1945. Trên thực tế, các nhà văn viết về đề tài nông thônnó sau đổi mới đã không
đi theo những lối mòn quen thuộc, mà đã có những bước chuyển mình, hứa hẹn những
thành tựumùa giặt mới trong tương lai.
1.1.2. Quan ngại về dấu hiệu chững lại
Những năm trở lại đây, một số nhà văn, nhà nghiên cứu băn khoăn trước thực
trạng ngày càng thưa dần, thiếu vắng các tác phẩm viết về nông thôn. Trong bài Đề tài
về người nông dân, làm sao cho xứng tầm, Đào Thái Tuấn cho rằng: nông thôn Việt
Nam đang “đứng trước công cuộc Công nghiệp hóa -– Hiện đại hóa đất nước hiện nay
rất nhiều vấn đề về Nông nghiệp - – Nông thôn đã nảy sinh”. Vì vậy,, do đó “mảng về
văn học nông thôn rất quan trọng”,. nNhưng thời gian gần đây “chỉ lẻ tẻ một vài tác
phẩm viết về nông thôn”, “các nhà văn chưa đi sâu vào để tiếp tục khai thác”., Do đó,Vì

mình. Còn sống ở nông thôn không phải là người nông dân vì không có khả năng làm
những việc của nông dân. Là người lừng khừng, đúng hơn là một người nhà quê” [32].
Nguyễn Bính Hồng Cầu cho rằng: “Có thể các nhà văn chưa hiểu hết nông thôn và cũng
có thể các nhà văn tránh né đề tài này để đến với đề tài khác đỡ vất vả hơn. Vì thế mà
nông thôn và nông dân vắng bóng trên văn đàn…” [15].
Một số người còn dự báo đề tài nông thôn hiện tại và tương lai sẽ trở nên vắng
bóng, nhạt nhòa trong giới sáng tác trẻ. Đỗ Hải Ninh gióng lên hồi chuông báo động về
mảng đề tài nông thôn ngày càng ít ỏi hơn, vắng bóng hơn đối với thế hệ viết văn trẻ.
Những cây bút trẻ chuyên sáng tác đề tài nông thôn “có thể đếm trên đầu ngón tay”
[136]. Hồ Huy Sơn cũng đã chỉ ra sự thật đau lòng là giới sáng tác trẻ hiện nay đang
hào hứng, chạy đua với đề tài “hoót” (sex, les, gay, ma, kinh dị, trinh thám), còn đề tài
nông thôn họ lại “xa lánh”. Do đó, hiện nay nhà văn trẻ viết về mảng đề tài này rất “ít
13
ỏi” [156]. Trong bài Những trang viết trẻ thiếu chất nông thôn, Hồ Quỳnh Yên có cái
nhìn đối sánh giữa hai thế hệ sáng tác, sau đó khẳng định: thế hệ trước 1986 (Lê Lựu,
Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Minh Châu, Đào Thắng, Nguyễn Huy
Thiệp) chuyên tâm hơn và có những tác phẩm xuất sắc (Thời xa vắng, Bến không
chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Khách ở quê ra, Dòng sông Mía). Ngược lại,
thật khó khăn khi kể tên các tác giả trẻ nổi lên trong những năm gần đây viết về đề tài
nông thôn. Đây đó, bắt gặp Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy (miền Bắc), Ngô Phan Lưu
(miền Trung), Nguyễn Ngọc Tư (miền Nam). Tác giả còn chỉ ra một thực tế đau lòng:
“Chúng ta thử đi vào một tiệm sách tìm sáng tác của những nhà văn trẻ, nhìn vào từ
truyện ngắn đến tiểu thuyết, thấy nổi lên: 48h yêu nhau, Lạc giới, Đường còn dài còn
dài, Dị bản, Khi nào anh thuộc về em, Giường…”. Cuối cùng tác giả đi đến kết luận:
“Xã hội nông thôn đang dần bị thu hẹp trong những trang viết trẻ. Đây là thực trạng có
thật và đang trở thành mối quan tâm lớn trong thời gian vừa qua… Những tác giả trở về
sau càng thể hiện rõ điều đó” [226]. Cùng quan điểm, trong cuộc phỏng vấn ngắn với
Báo Nông nghiệp Việt Nam, Nguyễn Đăng Điệp cũng đã khẳng định: trong lịch sử văn
học dân tộc có rất nhiều tác phẩm xuất sắc viết về đề tài nông thôn (Tắt đèn, Chí Phèo,
Vợ nhặt, Vỡ đê). Thời đổi mới cũng có một số tác phẩm gây được sự chú ý của bạn đọc,

và nông dân… cũng chẳng có gì để người đọc phải nhớ” [53]. Nguyễn Phúc Lai cho
rằng: cần phải thay đổi từ chính nội tại của nhà văn: “hình như tài năng chúng ta có,
nhưng lại thiếu đi cái động lực để sáng tạo trong mỗi nhà văn”. Nguyễn Hữu Nhàn nói
lên tình trạng hiện nay của các nhà văn thiếu đi cái chiều sâu trải nghiệm hiện thực
nông thôn nên khi “viết về nông thôn mà thoát li nông thôn, không hiểu người nông
dân…, với cách nhìn ấy, văn học chỉ có thể gdiễu cợt châm biếm hài hước nông dân,
không thấy được chiều sâu những biến đổi to lớn trong lòng nông thôn Việt Nam thời
kỳ đổi mới”. Cùng hướng đó, Hoàng Minh Tường và Bùi Ngọc Tuấn cho rằng: Muốn
có những tác phẩm viết về đề tài nông thôn và nông dân hay, nhà văn phải “tắm mình
trong đời sống của chính họ, nhà văn phải đổi mới chính mình, đổi mới cách nghĩ cách
viết”, và đó còn là nhu cầu “được nhìn khác đi, được viết khác đi; đó còn là sự thi đua,
ganh đua làm việc giữa các nhà văn, trong một bầu không khí thân ái, tự do, dân chủ
của đời sống văn học” [22].
Hội thảo Nông nghiệp, nông dân và nông thôn, diễn ra trong hai ngày từ 18 -– 19,
tháng 3, năm 2009, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, Trần Sang đã tập hợp
những ý kiến từ chính các nhà văn tham gia. Ngô Khắc Tài cho rằng nhiệm vụ quan trọng
trong thời buổi hội nhập đối với các nhà văn, là phải “tỉnh táo tìm đường đi cho đúng”,
“nhà văn cần có một đôi mắt lạnh mà lạc quan như vậy, giấc mơ về một đồng quê và hiện
thực xã hội mới gắn kết vào nhau”. Như vậy, trong thời buổi hội nhập ngày nay, các nhà
văn khi viết về đề tài nông thôn, cũng phải viết với góc nhìn mới, khai thác các khía cạnh
mới trong đời sống của họ và hơn hết là tự nâng tầm tri thức mình lên để theo kịp tầm
thời đại: “Sứ mạng của những người cầm bút thật nặng nề, đòi hỏi mỗi người phải tự
nâng mình về nhiều mặt, điều chốt là ra sức tìm hiểu người nông dân cùng lịch sử mảnh
15
đất sinh ra họ một cách thấu đáo” (Lê Chí). Hơn nữa, muốn bạn đọc chấp nhận tác phẩm
của mình, thì nhà văn phải viết hay và viết đúng về nông thôn và nông dân: “Nông thôn
đang chuyển hóa rất nhanh. Nếu thời kỳ trước đổi mới suốt mấy chục năm không có mấy
thay đổi về cơ bản thì bây giờ chỉ đầu năm, cuối năm đã khác. Không chỉ khác về diện
mạo bên ngoài, mà khác cả trong nếp sống, nếp nghĩ. Nếu trước đây ta có một nông dân
hoàn toàn thuần phác, thì hôm nay sự thuần phác dưới bóng tre làng đang bị cơ chế thị

văn học cũng như từ chính giới sáng tác về sự giảm sút chất lượng và số lượng các tác
phẩm viết về đề tài nông thôn là có cơ sở, đúng với tình hình hiện nay. Thực tế đó đã gióng
lên hồi chuông cảnh báo cho văn giới và đặt ra cho họ trách nhiệm khi viết về nông thôn và
nông dân.
1.2. LUẬN BÀN QUANH MỘT SỐ TIỂU THUYẾT NỔI TRỘI
Từ 1986 đến nay, tiểu thuyết viết về nông thôn luôn dành được sự quan tâm của
người đọc, đặc biệt các nhà phê bình. Hàng loạt bài viết đã được in trên tạp chí, báo; nhiều
cuộc hội thảo, tọa đàm diễn ra. Những nhà nghiên cứu, phê bình nổi tiếng như Nguyễn
Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Giá, Bùi Việt Thắng, Lý
Hoài Thu tham gia viết bài. Những ý kiến, nhận định dẫu có trái chiều, nhưng nhìn trên
phạm vi bao quát, chúng tôi nhận thấy đa số đều khẳng định: tiểu thuyết viết về đề tài nông
thôn sautừ 1986 đến nay có bước tiến mới về nội dung và nghệ thuật so với trước.
Do khung giới hạn của luận án, nên chúng tôi chỉ chọn những bài viết tập trung
nghiên cứu một số tác phẩm tiêu biểu, được dư luận quan tâm như Thời xa vắng, Mảnh
đất lắm người nhiều ma, Bến không chồng, Dòng sông Mía, Lão Khổ, Ba người khác
Để tiện theo dõi, chúng tôi tạm sắp xếp nguồn tư liệu thành hai vấn đề sau:
1.2.1. Nhận định, đánh giá về những thành công
1.23.1.1. Năm 1986, Thời xa vắng ra đời, được bạn đọc đón nhận, báo hiệu sự
đổi thay lớn trong dòng chảy của tiểu thuyết viết về nông thôn sau đổi mới. Trên tạp
chí, báo, sách xuất hiện rất nhiều bài viết đánh giá sự đóng góp nhất định về mặt nội
dung và nghệ thuật. Hoàng Ngọc Hiến đề cập đến số phận của người nhà quê trước
những biến động của xã hội nông thôn, trong đó nhân vật Giang Minh Sài là một ví dụ
điển hình. Theo tác giả, anh nông dân này chính là “người nhà quê” của Lê Lựu hai lần
khốn khổ, vừa xung đột với hệ tư tưởng gia trưởng, vừa xung đột với thành phố ở bộ
phận phức tạp nhất của nó là đàn bà, con gái” [64;tr.119], cuộc sống của anh cứ bùng
nhùng, bế tắc, vướng vào hết bi kịch này đến bi kịch khác. Từ nhân vật Giang Minh
Sài, tác giả luận suy đến những vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội nông thôn Việt
Nam sau giải phóng: “Trên đất nước ta sau khi thống nhất, không phải cán bộ tiếp quản
nào cũng trở thành người chủ quản của thành phố, không ít “người nhà quê” tiếp xúc
với đô thị đã bị bại hoàn toàn, sống dở chết dở, điêu đứng bi thảm, sự thất bại của họ

nhà văn ấy. Nếu về văn xuôi Việt Nam hiện đại, chọn lấy 30 tác phẩm, thì có mặt Thời
xa vắng. Nói thế để thấy, trong văn học Việt Nam hiện đại, Lê Lựu đã có một vị trí
đáng kể” [174;tr.22].
1.23.1.2. Năm 1990, Bến không chồng và Mảnh đất lắm người nhiều ma vừa
mới ra đời, ngay lập tức gây tiếng vang trên văn đàn và được dư luận quan tâm. Đáng
chú ý, rất nhiều bài viết bàn luận sôi nổi trên báo Văn nghệ (tháng 1/1991) sau khi tác
phẩm được giải thưởng của Hội nhà văn năm 1991. Có những ý kiến đánh giá khác
18
nhaukhác nhau (khen có và chê có), nhưng hầu như đều thừa nhận hai tiểu thuyết này
khá thành công trên phương diện đề tài, ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu, hình tượng nhân
vật, điểm nhìn trần thuật, không và thời gian… Về phương diện đề tài, Thiếu Mai,
Nguyễn Đăng Mạnh, Trung Trung Đỉnh cùng nhận định: “Năm 1990, sách viết về nông
thôn không ít trong đó có hai cuốn được dư luận chú ý và đánh giá cao nhất là Bến
không chồng của Dương Hướng và Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường. … Ý kiến khá thống nhấtthành công chứ không mâu thuẫn, trái chiều như với
một số tác phẩm khác… Vấn đề dòng họ ở nông thôn đã được hai tác giả quan tâm,
khai thác và khai thác khá thành công. Mảnh đất lắm người nhiều ma tạm coi là một cái
cột mốc trong đề tài nông thôn”, “đã lâu lắm rồi mới xuất hiện một tác phẩm viết về
nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch của Tắt đèn, Chí Phèo. Có thể nói cái làng
Giếng Chùa trong Mảnh đất lắm người nhiều ma là sự cộng lại của hai cái làng Đông
Xá của Ngô Tất Tố và Vũ Đại của Nam Cao” [138], “Có người nói, tiểu thuyết Bến
không chồng viết về đề tài nông thôn. Lại có người nói, tiểu thuyết này viết về đề tài
chiến tranh. Có người lại cho rằng đây là cuốn sách viết về đề tài xã hội. Tất cả đều có
đấy, nhưng theo tôi Dương Hướng không nhằm vào đề tài. Anh khai thác đến tận cùng
thân phận những nhân vật chính” [48;tr.99]. Trần Cương, Bùi Việt Thắng, Nguyên
Ngọc đều khẳng định sự thành công nhiều mặt của tác phẩm, đặc biệt là phạm vi phản
ánh… đi vào hiện thực nông thôn và số phận của người nông dân. Nguyên Ngọc cho
rằng: khi viết Bến không chồng, Dương Hướng luôn cố đặt vấn đề một cách thẳng thắn
trực diện, chứ không né tránh hiện thực, cho dù là một hiện thực nghiệt ngã nhất. Chiến
tranh, hòa bình, thời mở cửa…, những bước ngoặt đó tác động rất mạnh đến từng làng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status