Bài giảng chính sách và chiến lược phát triển nông thôn - Pdf 29

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA KH UYẾN NỒNG & PTNT
- - - - -
■Js.t3.gs'
- - - - -
BÀI GIẰNG
C H ÍN H SẨ C H V À CHIÊM LƯỢC
©
P H Á T IT tĩỂ M M®M® Timm
Biên soạn: £7cỹ. < D i n h íìíg Ẩ M L Ẩ U iế t
A 4
Thái Nguyên, năìrí 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
MỤC LỤC
Phầnl: Lý thuyết chung về giới và phát triển
1
Chương 1: Khái niệm cơ bản và một sô' quan điểm về giới trong Phảt triển
1
1 Lịch sử phát triển khái niệm giới trong phát triển
1
2 Giới và giới tính
4
3 Vai trò của giới
8
4 Điểu kiện và vị thế của giới
11
5 Nhu cẩu của giới
12
ố Bình đẳng giới
13
7 Bất bình đẳng giới

55
"hương 3: Giám sát và đánh giá dự án PTNT có lồng ghép giới
'57
1 Lổng ghép giới trong giám sát và đánh giá dự án phát triển nông thôn
57
2 Những khía cạnh giới cần lưu ý trong giám sát và đánh giá dự án
58
3 Mộc số-lưu ý về vấn để giới tròng cống tác nghiên cứu PT NLN và KN
58
ị Giải pháp vấn đề giới vào công tác-PTNN/ KN
60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
Chương I
NHẬP MÔN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIEN n ô n g t h ô n
l . l ế ĐẠI CƯƠNG VỀ "CHÍNH SÁCH"
l ễi.l . Khái niệm chính sách
Có thể hình dung chính sách là tập hợp những biện pháp được thể chế
hóa, nhằm tạo ra sự phân biệt đối xử khác nhau với các nhóm xã hội khác
nhau để điều chỉnh hành vi của các nhóm người trong xã hội, nhằm mục đích
định hướng động cơ hoạt động của họ vào việc thực hiện mục tiêu phát triển
chung của toàn xã hội.
_
__________ _
___
_
__
Trên quan điểm xã hội học, chính sách luôn tồn tặi các dạng thiết chế sau:
Thiết chế công bổ (explicit institutions), là những thiết chế đuợc thể hiện
rõ ràng trong lời văn của văn bản chính sách, gây những tác động trực tiếp

tác động gián tiếp.
Khi công bố một chính sách, bao giờ cũng xuất hiện trong xã hội ba
nhóm người: một nhóm được hưởng lợi nhờ chinh sách; một nhóm bị thiệt do
chính sách, còn một nhóm không bị thiệt, cũng chẳng bị hại, gọi đó là nhóm
vô can trước chính sách. Chẳng hạn, với chính sách "nhập linh kiện các thiết
bị kỹ thuật được miễn thuế", thì nhóm hưởng lợi là nhà đầu tư xây dựng
xưởng lắp ráp thiết bị và người lao động trong lĩnh vực công nghiệp lắp ráp;
nhóm bị thiệt là nhóm các nhà sản xuất linh kiện trong nước và người lao
động trong 'các xí nghiệp chế tạo linh kiện; còn nhóm vô can là nhóm những
người bán hàng linh kiện, nhóm' này cứ có linh kiện là bán, dù sản xuất trong
nước hay sản xuất ờ ngoài hước họ cũng chẳng thiệt hại gì; ngoài ra, những
người thuộc nhóm vô can còn" bao gồm rất đông đảo những người sản xuất và
kinh doanh những mặt hàng không liên quan đến đối tượng của chính sách
này, ví dụ, những người làm dật may, v.v
Chủ trương "làm lợi1' cho ai và "làm thiệt hại" là công việc của cơ quan
quyết định chính sách. Ví dụ trong trường hợp nêu trên, cơ quan quyết định
chính sách "cố ý" làm hại bộ phận công nghiệp chế tạo, để buộc họ phải nâng
cao chất lượng các và.giảm giá thành các linh kiện sản xuất trong nước bằnp
cách "làm lợi" cho bộ phận công nghiệp lắp ráp.
1.1.3. Co’ quan chuẩn bị quyết định chính sách
Cơ quan chuẩn bị quyết định chính sách là các cơ quan nghiên cứu
gồm những chuyên gia tham mưu, có chức năng nghiên cứu, điều tra để nắm
được nhu cầu chính sáeh của toàn xã hội. Họ phải là người nắm đươc môt
cách tinh tể nhất, nhạỹ cảm nhất, ai-là người được hưởng lợi ai là người bi
thiệt và ai là người vô can ngay khi một chính sách được soạn thảo.
Trên địa bàn Tỉnh/Thành phố, các-cơ quan chuẩn bị quyết định đươc
hình thành khi xuât .hiện nhu câu soạn thảo các văn bản hướng dẫn các văn
bản của Trung ương. Công việc soạn thảo này có thể thực hiện tại một số cơ
quan chức năng của địa phương, song có thê là một tổ chức được thành lập
[ầm thời (tổ chức ad-hoc)

và ban hành. Thông tư riểng bộ là thông tự hướng dẫn việc thực hiện Nghị
định của một bộ. nào đó về việc thực hiện chính sách. Thông tư do Bộ trưởng
kỷ hoạc Thứ trưởng ký thay Bộ trưởng. Tuy nhiên, trống một số trường hợp cụ
thể các Bộ vẫn có thể ra Quyết định về một số nội dung thuộc lĩnh vực do Bộ
mình phụ trách.
• Chí thị
Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ thị là vãn bản đôn đốc, nhắc nhở viêc -
thực hiện chỉnh sách. Tuy theo nội dung .và phạm vi thi hàrih mà Thủ tướnơ
Chính phủ, các Bộ đưa ra các chỉ thị cho các ngành, các cấp thuộc qíiyền quản
ỉý, tổ chức hướng đẫn thực hiện các văn bản chính sách của Chính phủ Ví du
Chỉ thị 18/1999/Công ty-TTg ngày 1/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về biện
'l
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
pháp đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông, lâm
nghiệp, đất ở nông thôn vào năm 2000.
Trên đây là những cán bộ chính sách ở Việt Nam. Khi thực hiện chính sách,
các địa phương phải căn cứ vào các hướng dẫn của văn bản chính sách để triển
khai. Trong quá trình triển khai thực hiện, mỗi địa phương với điều kiện khác
nhau, tùy theo đặc điểm, điều kiện của địa phương mà người ta có thể vận
dụng thực hiện chính sách một cách linh hoạt, nhưng không được trái với
những quy định của chính sách đã được Nhà nước ban hành.
1.2ể ĐẠI CƯƠNG VỂ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
1.2.1. Sự cần thiết phải có chính sách phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là lĩnh vực rất đa dạng, Nhà nước Việt-Nam cần quan
tâm phát triển (thông qua các chính sách kinh tế của Chính phủ đối với phát
triển nông thôn) .bởi vì a) nông sản là-sản phẩm thiết yếu đối với toàn xã hội;
b) sản xuất phát triển nông thôn còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên
nên phát triển nông thôn thường gặp rủi ro; c) dân số sống trong lĩnh vực phát
triển nông thôn và khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn (ở Việt Nam có 70%
dân số sống bằng nghề nông, ở nông thôn). Do vậy, sự can thiệp của Chính

vấn đề có liên quán đến tiêu thụ sản phẩm gồm thị trường sản phẩm của phát
triển nông thôn, giá bán sản phẩm, thuế tiêu thụ sản phẩm, bả» quản, vận
chuyển, bán sản phẩm. Các vấn đề có liên quan đến tiêu dùng sản phẩm gềm
chế độ phân phối sản phẩm, thuế xuất nhập khẩu sản phẩm, giá mua sản
phẩm-
Như vậy, có thể hiểu tác động của chính sách phát triển nông thôn-hướng và«
giá của thị trường các yếu tố đầu vào, giá cả của thị trường đầu ra hoặc làm
thay đổi về mặt tổ chức và khuyến khích áp dụng cồng nghệ mới vào sản xuất,
tạo điểu kiện cho phát triển nông thôn phát triển. Chính sách phát triển nông
thôn được thể hiện qua các quy định, các quy tắc, thủ tục được thiết lập để làrn
cơ sở pháp lý cho các hành động thực tế.
1.2.2.2. Đặc điểm của chính sách phát triển nông thôn
+ Do phát' triển nông thôn sản xuất ra các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu, hàng
ngày sử dụng trực tiếp hoặc giá tiếp đối với mọi người dân cho nền chính sách
phát triển nông thôn- tác động đến không chỉ đối với nông dân mà còn tác
động đến tất cả mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
+ Phát triển nống thổn là một lĩnh vực hoạt động trên địa bàn rộng lớn, phức
tạp và đa dạng, cho nên phạm vi tác động của chính sách phát triển nông thôn
rộng. Mỗi nông hộ, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh phát triển nòng thôn
hoạt động trên một địa bàn ữhất định, gắn với tính chất xã hội, nhân vãn và
lịch sử.phát triển cúa từng địạ phương. Vì vậy, mọi chính sách phát triển nông
thôn áp dạng chung cho quốc gia cần được cụ thể hóa cho phù hợp với từntr
vùng, địa phương (đặc biệt đối với với những vùng chậm phát triển thì chính
sách phát triển nôiTg thôn phải mang nét đặc thù riêng biệt). Do vậy chính
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
sách phát triển nông thôn không chỉ thuần túy nhằm đạt được mục tiêu vè
kinh tế mà còn phải đạt được cả mục tiêu về xã hội.
+ Sản xuất phát triển nông thôn còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên,
mức độ rủi ro cao, cho nền chính sách phát triển nông thôn nhiều khi không

đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng ở tron<7 nước
và phát huy lợi thế so sánh của các ngành hướng mạnh ra xuất khẩu), v ề màt
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
xã hội, chính sách phát triển nông thôn vừa phải tạo ra môi trường sản xuất
kinh tế thuận lợi, vừa phải hướng đến xóa đói, giảm nghèo trong nông thôn,
từng bước thực hiện sự công bằng xã hội. Chính sách phát triển nông thôn còn
hướng đến việc bảo vệ môi trường sinh thái.
+ Chính sách phát triển nông thôn phải bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn
định, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị quốc phòng.
l ệ3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM vụ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
MÔN HỌC
1.3ềl. Đối tượng nghiên cữu
Đối tượng nghiên cứu của môn học này là sự tác động của chính sách tới nền
phát triển nông thôn, bao gồm các vấn đề sau:
a) Các chinh sách có liên quan đến phát triển nông thôn và sự phát triển của
riông thôn.
b) Ảnh hưởng của chính sách tới nền kinh tế phát triển nông thôn
c) Những vấn đề cần-phải tiếp tụ hoàn thiện chính sách
d) Nghiên cứu việc hoạch định chính sách phát triển nông thôn ở Việt Nam
1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Môn học sẽ giúp cho người học nắm vững được vai trò, mục tiêu về can thiệp
của Chính phủ vào nền kinh tế thị trường nói chung, phát triển nông thên,
nông thôn nói riêng; trang bị cho người học những kiến thức về cơ sở lý ỉuận
và thực tiễn để hoạch định chính sách phát triển nông thôn, nông thên và
phương pháp đánh giá tác động của một chính sách cụ thể, đưa ra các quan
điểm giúp cho'việc hoàn thiện chính sách, góp phần phát triển phát triển nèng
thôn, nông thôn bền vững.
1.3.3. Nội dung nghiên cứu
Môn hẹc gồm .4 chương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
Chương II
HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
2.1. KHÁI NIỆM VỂ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
f Hoạch định chính sách có thể hiểu là quá trình hình thành và chọ ban hành
một chính sác}/ 'Quá trình đó phải trải qua một hoạt động liên tiếp có liên
quan mật thiết với nhau từ những ý tưởng cho ra đời một chính sách. Các hoạt
động đó được chia thành các nhóm như sau: a) Nhóm hoạt động để hình thành
những ý tưởng cho ra đời một chính sách, b) Nhóm hoạt động về soạn thảo
những nội dung cụ thễ của chính sầch (nhũng quỹ định trong van bản chính
sách) và c) Nhóm hoạt động cho việc tổ chức ban hành chính sách.
Để hình thành một chính sách cần trả lời c.ác câu hòi sau: Cần đưa ra chính
sách gì? Tại sao lại phải đưa ra chính sách đó trong lúc này.? Mức độ cấp thiết
của việc ban hành chính sách đó? ,Vị trí của chính sách đó trong hệ thống
chính sách chung như thế nào? Ý nghĩa và tác dụng của chính sách đó? Đối
tượng chịu tác động của chính sách đó là ai? Đó là chính sách mục tiêu hay
chính sách hỗ trợ?./. Thực chất mọi câu hỏi trên đều tập trung và việc giải
thích về tính cần thiết của chính sách đó. Trên cơ sở tình hình thực tế về sản
xuất và đời sống kinh tế xã hội cần thấy được sự đánh giá tích cực của chính
sách đối với vấn đề cải thiện tình, hình, thúc đẩy sự phát triển nông thôn. Từ
một khía cạnh khác cẩn thấy một chính sách thường bắt nguồn từ chiến lược
phát triển kinh tế nói chung, định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển nông thôn phát triển trong guồng máy vận hành £hung của nền kinh tế
Thông thường các ý tưởng đó được hình thành do cân nhắc lựa chọn của
Chính phủ thông qua tư vấn của đội ngũ chuyên gia hoạch định chính sách.
Nôi dung cu thể của một chính sách bao gồm các vấn đề sau: Những
-miỂic tiêu đạt được của chính sách (bao gồm cả mục tiêu dài hạn và mục tiêu
ngắn hạn) và các điều khoản quy định trong văn bản. Đó là các quy định máng
tính pháp lý trong khuôn khổ của chính sách, là cơ ‘sở pháp lý cho việc giái
quyết các vấn đề phát sinh trong thực tế. Bên cạnh các quy định mang định

của các nước. Trước đây có những quốc gia xem nhẹ vai trò của phát triển
nông thôn, phần lớn nông sản sản phẩm tiêu dùng trong nước là do nhập
khẩu.ắ gây nền những hậu quả to lớn-về kinh tế - xã hội môi trườạơ trong
khi đó những nước khác lại coi phát triển nông thôn là mợt bộ phân khồng thể
thiếu của nền kinh tế quốc dân. Theo đó là các chính sách khác nhau đối với
phát triển nông thôn. Ngày nay ở hầu hết các nước, sự phát triển phát triển
nông thôn nông thốn được quan tâm hơn và trở thành chien lược phát triển của
mỗi quốc gia. Ở những nước đang phát triển mặc dù hiệu quả sản xuất phát
triển nông thôn thấp nhưng các 'Chính phủ vẫn theo đuổi những muc tiêu rất
khó khăn đối với phát triển nông thôn là nguyên nhân lương thực, cung cấp
nguyên liệu cho công nghiệp và đặc sản cho xuất khẩu. Ngược lại phát triển
nông thôn chỉ- chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong cơ cấu GDP của- những nước phát
triển (mặc dù ở những nước này phát tỉiển nồng thôn được phát triển ở trinh
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
độ cao) Tập trung sức phát triển phát triển nông thôn, đưa phát triển nông
thôn thoát khỏi tình trạng lạc hậu độc canh lúa, tự cấp tự túc, tiến tới một nền
phát triển nông thôn hàng hóa hiện đại, đa canh, chuyên môn hóa, hiệu quả
cao là chú trương phát triển ỉâu dài ở nước ta.
2.2.2. Thực trạng về những vấn đề cần tháo gỡ đối với phát triển nông
thôn
Ngoài định hướng cho sự phát triền lầu dài, chính sách thường xuyên phải
tháo gỡ những khó khăn cảf\trở sự phát triển bình thường của nên kinh tế, nhất
là do phát triển nông thôn (phải thường xuyên chịu tác động của tự nhiên và
thị trường do tính cung mũộri của nó). Chính sách phát triển nông thôn vừa
phải giải quyết các vấn đề về kinh tế, vừa đụng đến các ngóc ngách trì trệ của
đời sống kinh tế xã hội nông thôn. Muốn tạo nên sự hòa nhập của nông dân
vào quỹ đạọ của cuộc sống sôi động, cần từng bước liên tiếp có những chính
sách cải tao phong tục, tập quán sản xuất lạc hậu, tâm lý tư hữu của ngưòi tiểu
nông. Tất cả những điều đó không thể giải quyết dứt điểm ở một vài chính

tế chính trị trên thế giới đều trực tiếp ảnh hưởng đối với một nền kinh tế mờ.
Chẳng hạn, sự kiện 11/9 ở Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính của Nhật Bản gần
đây đều gây nên sự tổn hại của nền kinh tế thế giới và khu vực. Thông thường
các nước nhược tiểu phải dùng các chính sách cưỡng lại sức ép của ngoại
thương, bảo hộ sản xuất trong nước, còn các nước có nền kinh tế hùng mạnh
thưởng dùng ngoại thương để chèn ép các nước yếụ kém.
2.2.4. Sức mạnh kinh tế của đất nước
Sức mạnh kinh tế của đất nước thể hiện sự vững rriạnh về cơ sở hạ tầng, sự dồi
dào của nguồn ngân sách Nhà nước, nguồn dự trữ sản phẩm, vật tư và ngoại tệ
mạnh cũng như quy mô GDP của đất nước. Chính phủ sử dụng sức mạnh kinh
tế như một công cụ hữu hiệu trong việc cải biến nền kinh tế và thực hiện
những nhiệm vụ chiến lược (trong đó có phát triển nông thôn) và hỗ trợ sản
xuất, đặc biệt đối với phát triển nông thôn. Chính phủ Nhật Bản đã rất thành
cộng trong việc sử dụng chính sách giá cả để giải quyết vấn đề lương thực nhờ
có tiềm lực kinh tế to lớn, Chính phủ các nước phát triển thường áp dụng
chính sách trợ giá rất có hiệu lực đối với nhiều loại nông sản trong khi đó hỗ
trợ phần nào qua chính sách giá sàn của Chính phủ Việt Nam mới chỉ áp dụng
đối với một sản phẩm có ý nghĩa quốc kế dân sinh (là thóc).
2.2.5. Khả năng tiếp nhận chính sách của các đoi tượng chịu tác động
Mọi chính sách đưa ra đều nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất nên có
thể nói rằng thành công của một chính sách thể hiện ở sự hưởng ứng tích cức
của các đối tượng chịu tác động. Trên thực tế có rất nhiều kiểu phản ứng với
chiều hướng và mức độ khác nhau của các đối tượng chịu tác động. Điều đó
trước hết tùy thuộc vào sự thỏa mãn lợi ích yật chất của các chủ thể Tuy nhiên
không một chính sách nào có thể đáp ứng đầy đủ jnọi nhu cầu mong với của
mọi người. Điều quan trọng là sự đáp ứng lợi ích của cộng đồng như thế nào
và một chính sách chỉ được chấp nhận khi thỏa mãn.lợi ích của các cá thể trên
cơ sở lợi ích kinh tế to lớn của đất nước vì nó tạo nên tình trạng ổn định trong
quá trình phát triển kinh tế. Từ một góc độ khác, trình độ dân trí cũng được
12

Thực tế đã chứng tỏ rằng mọi việc làm trái quy luật đều gây nên những hậủ
quả khôn lường.
Tính khoa học còn thể hiện ở sự chặt chẽ trong các vãn bản chính sách. Các
điều khoản trong văn bản phải được trình bày rõ ràng, được sắp xếp theo một
trật tự lôgic. Sự ngắn gọn, dễ hiểu là yêu cầu cần thiết đối với một văn bản
chính sách. Nếu văn bản không rõ ràng, người ta có thể vì hiểu sai mà vô tình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
vi phạm chính sách và cũng không loại trà khả năng một số người cố tình lợi
dụng các "kẽ hở" trong vãri bản chính sách để mưu cầu lợi ích r i ê n g ' của mình,
làm phương hại đến lợi ích công cộng.
2.3.2. Thực tiễn,
Một chính sách đưa ra khồng thể tách rời với thực tiễn cuộc sống. Chính sách
phải phù hợp với tình hình thực tiễn là một yêu cầu bảo đảm cho sự khả thi
của nó. Thực tiễn phát triển nông thôn cần được cải biến qua các chính sách
phát triển nông thôn, tức là các chính sách phát triển nông thôn phải bắt nguồn
từ việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Tính thực tiễn đòi hỏi
phải vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm phong phú từ những hoàn cảnh
thực tế khác nhau, không thể rập khuôn máy móc trong khi giải quyết vấn đề.
Tính thực tiễn giúp cho việc phát'huy nội lực sẵn có với tình hình thực tế. Xa
lòi thực iế (hay ỉý thuyết suông) sẽ gây khổ khăn trong chỉ đạo thực hiện và
không mang lại kết quả hoạt động thiết thực.
Trong điều 'kiện kinh tế hộí nhập phải rất chú ý khi vận dụng kinh nghiệm từ
bên ngoài và trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường phải kiên
quyết đoạn luyết với tư tứởng chủ quan duy ý chí.
2.3.3ẻ Tính quần chúng
Chính sach đưa ra vì lợi ích của quần chúng, cần được sự hưởng ứng của đông
đảo quần chúng. Quần chúng sẽ hưởng ứng cao khi nguyện vọng của họ được
đáp ứng và từ chối tiếp nhận khi thấy chính sách đó không đem lại lợi ích gì
cho họ. Tập hợp được sức mạnh của quần chúng là mong muốn của Chính
phủ. Với các phản ứng tích cực, sức mạnh đó có thể "dời non lấp biển’', nhưng

2Ễ3ễ5. Tính hoàn thiên -
Hoàn thiện chính sách là một vấn đề tất yêu bối những lý đo sau;
• Một chính sách chỉ phát huy tác dụng trong những điều kiện cụ thể, khi điều
kiện kinh tế xã hội biến đổi cần có các chính sách khác thay thế. Như vậy,
một chính sách chi có thể giải quyết một khâu trong một chuỗi liên tiếp các
khâu cần giải quyết.
• Có thể phải điều chỉnh những điều chưa thực sự chuẩn mực trong một số văn
bản chính sách (rút gọn, bổ sung, điều chỉnh mức độ )
• Cần giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện chính
sách
Nội dung hoàn thiện cố thể là:
• Điều chỉnh (thêm, bót các điều khòản, thay đổi mức độ quy định haỹ sửa lại
một số câu, chữ) trong các văn bản chính sách đã ban hành.
- Thu hồi một số vãn bản đã ban hành khi thấy chúng khồng cần thiết.
• Ban hành chính sách mới.
2.4. ĐIỂU KIỆN ĐỂ HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
2.4.1. Trình độ hoạch định chính sách
Để hoạch định một chính sách, cần có sự tư.vấn của đội ngũ chuyên gia có
năng lực và dày dạn kinh nghiêm. Đội ngũ chuyên gia sẽ tư vấn cho Chính
phủ về việc xác định toàn bộ tinh thần, nội dung và phương án triển khai chỉ
1 ^
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
đạo thực hiện chính sách trên cơ sở phân tích các thông tin có liên quan. Xétt
trên ý nghĩa đó, năng lực của đội ngũ chuyên gia là vấn đề vô cùng quan
trọng. Các chuyên gia phân tích chính sách .cần được kinh qua các lớp đào tạo
cơ bản trải qua thực tiễn nghiên cứu phân tích chính sách. Đội ngũ chuyên gia
thường được lĩnh vực trong các viện nghiên cứu và có thể trứng tập ngắn hạn
tạm thời từ các cơ quan, trường đại học Đội ngũ chuyên gia có nhiệm vụ tập
hợp và phân tích các thồng tin có liên quan để soạn thảo những văn bản chính
sách trình xét.

cùng quan trọng bảo đảm cho một chính sách được thực hiện. Chính sách đặt
ra dựa vào cơ sở trình độ dân trí và đến lượt mình trình độ dân trí giúp cho
việc thực thi chính sách một cách trọn vẹn. Người có trình độ dân trí cao sẽ có
nhân thức xã hội đúng đắn, hiểu biết về chính sách sẽ rổ ràng. Người có ý thức
chính trị tốt sẽ có nhận thức đầy đủ về lợi ích của cộng đổng và theo đó là các
quyết định có tính chuẩn mực, có thể tự cùng nhau quốc gia các vấn đề tranh
chấp trong nội bộ dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng trong quá
trình thực hiện chính sách.
Trong phát triển nông thôn dân trí thấp không chỉ xét ở góc độ trình độ học
vấn của cư dân nông thôn thấp mà trõng nồng thôrTcòn Tồn tặi nhiều Tập tục
lạc hậu và tính tiếp cận của cư dân nông thôn đối với các vấn đề kinh tế còn
nhiều, hặn chế, tầm nhìn của người dân hạiuhẹp nên vấn đề dân trí trong phát
triển nông thôn rất phức tạp:
2.5. PHÂN LOẠI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
2.5.1. Phân loại chính sách phát triển nông thôn theo tính chất
Xét về mặt tính chât co thể phẩn chính sách phát triển nông thôn thành 2
nhóm là chính sách mục tiêu và chính sách hỗ trợ.
Chính sách mục tiêu thường đòi hỏi bản thân phát triển nông thôn phải đáp
ứng những yêu cầu của xã hội như an ninh lương thực, giải quyết việc làm cho
cư dân nông thổn, cung ứng sản phẩm cho công nghiệp nhẹ và xuất khẩu.
Chính sách mục tiêu thường đặt ra cho một thời gian dài với các bước thực
hiện trong từng điều kiện cụ thể và một khi chính sách này thành công sẽ góp
phần chuyển nền phát triển nông thôn sang bước phát triển mới cao hơn. Để
đáp ứng yêu cầu các chính sách mục tiêu, cần tận dụng tốt giúp đỡ từ bên
ngoài cơ sở phát huỵ tốt nội lực trong phát triển nông thôn.
- Chính sach hộ trợ chính là những can thiệp c.ó lợi cho phát triển nông thôn từ
QurứTpEuTBang chính sách hỗ trợ, Chỉnh phủ tạo nên sự ổn định về sản xuất
và đời sống trong phát triển nồng thôn nông thôn, tức là chính sách hỗ trợ gò
tháo gỡ khó khăn cho phát triển nông thôn, đặc biệt là về vốn, kỹ thuật và tiêu
thụ sản phẩm, góp phẩn giải quyết những vướng mức cản trở hoặc gây khó

cường trong cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn.
Nhóm chính sách về quan hệ sử dụng các yếu tố sản xuất trong phát triển
nông thôn (chính' sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sáeh khuyến nông
chính sách áp dụng tiến bộ kỹ thuật hay công nghệ, chính sách giải quyết việc
làm, chính sách sử dụng tài nguyên môi trường ).
Nhóm chính sách về_cung_ứog các yếu tố đầu vào cho sản xuất phát triển
nông thôn như: chính sách cung ứng vật tư kỹ thuật phát triển nông thôn (phân
hóa học, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, thuốc thú ý, các chất kích thích sinh
trưởng và phát dục của cây trồng, vật nuôi ).
- Nhóm chính sách bảo hiểm giống cây trổng, vật nuôi.
• Nhóm chính sách bảo hiểm mùa màng
• Nhóm chính sách markeũng và tiêu thụ sản phẩm phát triển nông thôn.
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
Nhóm chính sách hỗ. trợ sản xuất phát triển nông thôn như chính sách giá
trần, chính sách giá sàn, chính sách xóa đóĩ giảm nghèo.
9 Nhóm chính sách về phát triển các hình thức liên kết kinh tế trong phát triển
nông thôn như chính sách phát triển hợp tác xã, chính sách phát triển kinh tế
trang trại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nhóm chính sách đổi mới cơ chế qụản lý kinh tế trong phát triển nông
thôn ẽ
2.5Ẽ4. Phân loại chính sách phát triển nông thôn theo đối tượng tác động
Theo đối tượng tác động có thể thấy đó là các chính sách tác động^vẫò từng
tác nhân trong nền 'kinh tế như nồng hộ, chu trarĩg Trại, chủ doanh nghiệp,
người nghèo Các chính sách này thường quan tâm tới việc điều chỉnh lợi ích
vật chất giữa CỂẮC tác nhân hay mang tính hỗ trợ giải quyết những khó khăn
.cho các đối tượng tác động của chính sách
2.5.5. Phân loại chính sách phát triển nông thôn theo phạm vi tác động
Theo phạm vi tác động có thể thấy từ rất nhiều khía cạnh về thời gĩãn, tchông
gian, nội dung, đối tượng tác động Các khía cạnh khác đã thấy ở các cách

2.7.1. Thu thập và xử lý thông tin
Đây là bước đầu tiên rất quan trọng. Sự đầy đủ về các thông tin đồng thời là
điều kiện cho việc phân tích tình hình. Khi hoạch định chính sách, các nhà
hoạch định cần thông tin sau:.
• Lý do và hoàn cảnh ra đời của chính sách.
• Quá trình hình thành và phát triển của chính sách.
• Kinh nghiệm hoạch định chính sách trên thế giới và Việt Nam
- Thực trạng thực hiện chính sách.
• Những vấn đề phát sinh cần giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách.
- Những dự báo cần thiết có liên quan (về điều kiện tự nhiên, về diễn biến thị
trường, vế ngoại thương,- về những tiến bộ kỹ thuật ).
Thông tin được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, được chia làm 2 loại lắ thông
tin thứ vấp và tài liệu sơ cấp. Thông tin thũ thập được cần phân thành các
L
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐH TN
nhóm, và được xử lý theo những nội dung hợp thành của chính sách, làm cơ sở
cho việc tiến hành nên nhận thức.
2.7.2. Hình thành nhận thức
Nhận thức được hình thành trên cơ sở kết quả phân tích thông .tin. Đây là bước
quyết định thể hiện quan điểm của Chính phù về sự can thiệp đối với phát
triển nông thôn. Sự lựa chọn của Chính phủ là vô cùng quan trọng và được thể
hiện trong tinh thần của chính sách. Yêu cầu đặt ra ồ đây ỉà phải hình thành
những nhận thức mới tiến bộ, phù hợp với quy luật phát triển và xu thế phái
triển của thời đại.
2.7.3. Đưa ra quyết định
Đây là bước cân nhắc trong việc lựa chọn các điều khoản thích hợp cấu thành
nên chính sách, những quy định về lượng đối với các tiêu chí có liên quan.
Những quy định này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các 'đối tượng chịu
tác động của chính sách. Sự cân nhắc về các quy định cần hướng vào sự điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status