Tác động của tự do hóa lãi suất tới việc huy động vốn cho đầu tư - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO HÓA LÃI SUẤT
VÀ VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ.......................................2
I. LÃI SUẤT.....................................................................................................2
1. Khái niệm chung về lãi suất..................................................................2
2. Vai trò của lãi suất ................................................................................2
3. Phân loại lãi suất...................................................................................4
3.1 Phân loại theo nguồn sử dụng.......................................................4
3.2 Phân loại theo giá trị thực.............................................................4
3.3 Phân loại theo phương pháp tính lãi..............................................5
3.4 Phân loại theo loại tiền..................................................................6
3.5 Phân loại theo độ dài thời gian......................................................6
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất........................................................6
4.1 Cung cầu các quỹ cho vay............................................................6
4.2 Lạm phát kì vọng............................................................................6
4.3 Bội chi ngân sách...........................................................................7
4.4 Những thay đổi về thuế..................................................................8
4.5 Những thay đổi trong đời sống xã hội............................................8
5. Tự do hóa lãi suất..................................................................................8
5.1 Khái niệm.......................................................................................8
5.2 Những điều kiện để tự do hóa lãi suất ..........................................9
5.3 Ý nghĩa của tự do hóa lãi suất........................................................9
II. HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ.........................................................10
1. Khái niệm về vốn................................................................................10
2. Vai trò của huy động vốn....................................................................11
3. Các kênh thu hút vốn đầu tư...............................................................14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tiếp tác động đến nhiều mối quan hệ trong nền kinh tế liên quan trực tiếp đến các
lợi ích vật chất trong xã hội. Do đó, diễn biến của nó được đưa tin hàng ngày
trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sự dao động của lãi suất ảnh hưởng
trực tiếp đến các quyết định của Chính phủ, cá nhân, doanh nghiệp, ngân hành
cũng như hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.
Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới. Những chính sách lãi suất ngân
hàng nhà nước (NHNN) sử dụng đã có tác động mạnh mẽ tới việc huy động vốn
và hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngân hàng thương mại và các doanh
nghiệp. Để tăng hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và thúc
đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đòi hỏi NHNN phải
tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ chế điều hành lãi suất.
Quá trình tự do hóa chính sách tiền tệ ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu
để hội nhập quốc tế về tài chính – tiền tệ. Theo đó nghiên cứu tác động của tự do
hóa lãi suất đến nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nước đã trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO là một vấn đề cần thiết cần được
quan tâm đúng mực. Từ đó nhóm chúng em đã chọn đề tài: “Tác động của tự do
hóa lãi suất tới việc huy động vốn cho đầu tư” để nghiên cứu.
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của Thạc sỹ Lương
Hương Giang đã giúp đỡ nhóm em hoàn thành đề tài này.
Bài làm không tránh khỏi những sai sót, chúng em rất mong nhận được sự
góp ý từ phía các thầy cô và các bạn.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO HÓA LÃI SUẤT
VÀ VIỆC HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ
I. LÃI SUẤT
1. Khái niệm chung về lãi suất
Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất vốn vay, dưới đây là một số quan
điểm hay sử dụng:

Lãi suất là công cụ thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương
mại, lãi suất là giá cả của vốn, do vậy thông qua lãi suất các ngân hàng thương
mại sẽ tự điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng của
mình mà kết quả cuối cùng là nền kinh tế, các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư
được lợi hơn vì sẽ được hưởng giá rẻ và chất lượng dịch vụ cao.
Lãi suất là công cụ dùng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong nền
kinh tế, hay nói cách khác, khi các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư có vốn,
muốn đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải lấy lãi suất tín dụng trong nền kinh tế
làm cơ sở và quyết định, ít nhất hiệu quả đầu tư vào các lĩnh vực khác để sinh
lời phải có tỷ lệ lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng.
Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính
sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Trong trường hợp nền kinh tế có lạm
phát, ngân hàng trung ương sẽ sử dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất
để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằm điều hòa lượng tiền trong lưu
thông, cân đối với khối lượng hàng hóa.
Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn
mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân,
hạn chế thất nghiệp tăng mức sống của người đó tạo điều kiện cho nền kinh tế
phát triển.Và khi nền kinh tế phát triển, thu nhập quốc dân tăng, sẽ tác động trở
lại kích thích đầu tư phát triển.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương phát triển và
theo đuổi chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi suất được
hình thành trên cơ sở thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốn trên thị trương
quyết định.
3. Phân loại lãi suất
3.1 Phân loại theo nguồn sử dụng
- Lãi suất huy động: là loại lãi suất quy định tỉ lệ lãi phải trả cho các hình

: lãi suất danh nghĩa
i
r
: lãi suất thực tế
i
i
: tỷ lệ lạm phát
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ta có:
Nếu i
i
< 10%
i
r
= i
n
- i
i
Nếu i ≥ 10%
i
r
=
1
+

i
in
i

- Lãi suất trung hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và
khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
- Lãi suất dài hạn: là loại lãi suất áp dụng cho các khoản huy động và
khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm.
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất
4.1 Cung cầu các quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả của tín dụng, do vậy, bất kì sự thay đổi nào của cung cầu
quĩ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ làm thay đổi lãi suất trên thị trường.
Tuy nhiên, mức độ biến động của lãi suất ít nhiều còn phụ thuộc vào các
quyết định của chính phủ và NHTW. Điều đó cho thấy, chúng ta có thể tác động
vào cung hay cầu vốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với
mục tiêu chiến lược từng thời kì.
4.2 Lạm phát kì vọng
Khi lạm phát tăng, dù ở từng mức lãi suất riêng lẻ hay ở tất cả mọi lãi suất,
yếu tố kích thích làm tăng cung quỹ cho vay gần như triệt tiêu bởi giá trị thực tế
của vốn gốc và tiền lời thu được đã bị hao mòn do tác động của lạm phát.Theo
Friedman, ông cho rằng trong mọi trường hợp tỷ lệ lạm phát của một nước là
cực kỳ cao trong bất cứ thời kỳ kéo dài nào, thì tỷ lệ tăng trưởng của cung ứng
tiền tệ là cực kỳ cao.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hình 1: Ảnh hưởng của lạm phát đến lãi suất
Tóm lại, khi lạm phát dự tính tăng, lãi suất tăng. Điều này có một ý nghĩa
quan trọng trong việc dự đoán lãi suất khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát
tăng.Trên cơ sở đó, có một chính sách lãi suất hợp lý. Khi lạm phát cao, nhà
nước cần phải nâng lãi suất danh nghĩa, đảm bảo cho lãi suất thực dương, hoặc
nhà nước tung vàng, ngoại tệ ra bán để kiềm chế lạm phát. Nhiều nhà kinh tế đã
khuyến nghị rằng cuộc chiến chống lạm phát nhất định sẽ thất bại nếu chúng ta
muốn hạ thấp lãi suất.

vốn đầu tư ra vào đối các nước đều ít nhiều tác động đến sự thay đổi lãi suất của
các nước khác.
Tất cả các vấn đề này đều gợi ý cho tất cả những nghiên cứu, soạn thảo và
điều hành về chính sách lãi suất phải có sự nhìn nhận và đánh giá một cách tổng
thể trước khi đưa ra bất kì kết luận hoặc quyết định nào đến lãi suất.
5. Tự do hóa lãi suất
5.1 Khái niệm
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, là
việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằkhaing, ngân
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều
chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển
của nền kinh tế.
Thực chất của tự do hóa lãi suất chính là cơ chế điều hành lãi suất hoàn
toàn để cho cung cầu vốn trên thị trường xác định lãi suất cân bằng. Ngân hàng
trung ương chỉ can thiệp bằng các công cụ để điều chỉnh theo định hướng mà
thôi.
Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính nói chung có ý nghĩa
quan trọng đối với các quốc gia trong giai đoạn phát triển và chuẩn bị hội nhập
vào nền kinh tế thế giới trên phương diện vĩ mô lẫn vi mô.
5.2 Những điều kiện để tự do hóa lãi suất
(1) Môi trường kinh tế vĩ mô đã ổn định và khá chắc chắn.
(2) Hành lang pháp lý đã tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh.
(3) Hệ thống ngân hàng ổn định, hoạt động hữu hiệu.
(4) Thị trường tài chính (bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán)
đã hình thành và đã vận hành có hiệu quả.
(5) Các nguồn lực trong nước đã được phân phối và sư dụng hợp lý.
(6) Các tổ chức kinh tế đều đảm bảo khả năng sư dụng vốn triệt để, có hiệu quả.

các loại hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá đặc biệt khác.
Nguồn vốn đầu tư
Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới
dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hội. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn đầu tư
cho phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội.
2. Vai trò của huy động vốn
Vai trò của huy động vốn đối với nền kinh tế
Trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước, nguồn vốn huy động luôn
có ý nghĩa quan trọng, giữ vai trò quyết định đến sự phát triển lâu dài và vững
chắc, bởi vì sự chi viện, bổ sung từ bên ngoài dù là viện trợ cho vay hay đầu tư
nước ngoài cũng chỉ là tạm thời. Những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ của
các nước trong khu vực và trên thế giới thời gian qua đã minh chứng rằng không
thể và không nên hoàn toàn mong đợi sự tăng trưởng, phát triển nhanh và vững
chắc nhờ vào nguồn vốn bên ngoài mà phải tích cực mở rộng công tác huy động
vốn từ nội bộ nền kinh tế.
Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, để ổn định tiền tệ và đặc
biệt trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nhiệm vụ kiềm chế lạm phát đang là yêu
cầu bức thiết, Nhà nước phải sử dụng đồng bộ các giải pháp về kinh tế, tài chính
- tiền tệ, trong đó, tăng cường huy động vốn trong dân qua hệ thống NHTM là
giải pháp khá hữu hiệu. Thực tế cho thấy một nền kinh tế phát triển ổn định và
bền vững khi nguồn tiền để đầu tư chủ yếu phải là từ tiết kiệm của dân chúng,
tiết kiệm của nền kinh tế. Thông thường, trong các chỉ tiêu tăng trưởng, tăng
trưởng tiết kiệm, tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng thường được
đưa ra với những tỷ lệ gần giống nhau.
Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, chỉ tiêu về tốc
độ tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán (M2) bằng tốc độ tăng trưởng tín

hữu và phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền lãnh thổ và các địa
phương. Điều này đòi hỏi các NHTM phải có những phương thức, quy trình
công nghệ và giải pháp thích hợp với quá trình huy động vốn, một mặt để tăng
tiện ích cho khách hàng, mặt khác hạn chế những chi phí trong huy động vốn.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hướng sử dụng và hình thức tồn tại của vốn trong dân:
Để huy động vốn trong dân, các NHTM đưa ra nhiều phương thức và hình
thức khác nhau, như:
-Huy động qua tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức đơn giản nhất của các
NHTM. Các NHTM có thể huy động tiền tiết kiệm của dân chúng dưới các hình
thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn với các mức lãi suất cố định
hoặc thay đổi theo từng thời kỳ, lãi suất bậc thang…
-Huy động qua tiền gửi không kỳ hạn: Phương thức huy động này thường
thông qua việc mở tài khoản cá nhân, dịch vụ thanh toán, sử dụng thẻ ngân
hàng…
-Huy động qua tiền gửi có kỳ hạn: Đây là phương thức huy động thông
qua việc phát hành tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền
gửi…
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
3. Các kênh thu hút vốn đầu tư
3.1 Huy động vốn qua hệ thống ngân hàng
Trong điều kiện vốn ngân sách nhà nước có hạn, vốn tự có của doanh
nghiệp và người sản xuất còn ít ỏi, thì vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh chủ
yếu dựa vào vốn tín dụng ngân hàng. Để có vốn cho vay, các ngân hàng thương
mại (NHTM) đã huy động vốn trong xã hội, vốn trong dân, vốn nước ngoài. Hệ
thống ngân hàng huy động vốn cho đầu tư phát triển bằng đa dạng các phương

triển cho vay lại.
Một kênh huy động vốn quan trọng khác là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà
nước theo hình thức bán đấu giá và bán cổ phần của Nhà nước trong các doanh
nghiệp cổ phần hóa mà cổ phiếu có tính thanh khoản cao, lợi nhuận hấp dẫn, đã
thu được hàng nghìn tỉ đồng cho ngân sách nhà nước. Đó là chưa kể hàng chục
ngàn tỉ đồng đã được huy động trong doanh nghiệp tư nhân.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư
Sau khi tiến hành xác định rõ các nguồn vốn thì việc xem xét các nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động thu hút vốn là cơ sở để nâng cao tính hiệu quả của
công tác thu hút vốn. Từ việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng ta sẽ thấy được các
thuận lợi cũng như các khó khăn gặp phải trong công tác thu hút vốn.
Nhân tố đầu tiên tác động đến việc thu hút vốn đồng thời cũng là nhân tố
quan trọng hàng đầu chính là sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Một nền kinh
tế tăng trưởng cao, ổn định bao giờ cũng là đích đến hấp dẫn nhất cho các nhà
đầu tư. Đây là điều kiện mà các nhà đầu tư nước ngoài cần xem xét đầu tiên khi
họ tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư.
Trong mỗi quốc gia thì nhiệm vụ ổn định nền kinh tế là một trong những
chức năng quan trọng của nhà nước và các nhà nước đều thực hiện vai trò này
của mình thông qua hai công cụ chính là chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chính sách tiền tệ bản chất là sự tác động của chính phủ làm thay đổi
cung tiền trong nền kinh tế, chính phủ can thiệp vào cung tiền thông qua các
công cụ như: Tỷ giá, lãi suất và cán cân thương mại.
- Tỷ giá bao gồm hai loại đó là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế; trong
đó tỷ giá hối đoái danh nghĩa được hiểu là tỷ lệ trao đổi giữa tiền của các quốc
gia với nhau còn tỷ giá hối đoái thực tế thực chất là tỷ gía hối đoái danh nghĩa
được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong nước và nước ngoài. Chúng

Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi IRR của dự án lớn hơn lãi suất
thực tế. Do đó khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm
tương đương với việc làm giảm khả năng thu hút vốn của nền kinh tế và ngược
lại. Ngoài ra nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới thì có thể vốn đầu
tư trong nước sẽ chảy ra nước ngoài vì vậy không những không thu hút được
vốn mà còn làm giảm đi nguồn vốn sẵn có.
Chính sách tài khóa là công cụ mang tính chất chủ động của chính phủ để
điều tiết kinh tế vĩ mô, thông qua việc tác động trực tiếp đến thuế và chi ngân
sách chính phủ sẽ thực hiện thu hẹp hay mở rộng tài khóa một cách linh hoạt để
phù hợp với từng giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế.
Một chính sách tài khóa linh hoạt và đúng đắn sẽ tạo nên sự ổn định cho
ngân sách quốc qia, tránh hiện tượng lạm chi và đảm bảo thân hụt ngân sách
trong tầm kiểm soát. Đây sẽ là một nhân tố quan trọng bảo đảm ổn định kinh tế
chính trị quốc gia tạo điều kiện thu hút các nguồn lực cho phát triển.
Nhân tố thứ hai tác động đến việc thu hút vốn đó là tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu quan trọng mà mọi quốc gia hướng tới, đây
là một trong những chỉ tiêu vĩ mô được quan tâm hàng đầu, nó biểu hiện khả
năng sinh lời của cả nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế tạo nên sức hấp dẫn lớn
đối với các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà còn cả đối với các nhà đầu tư
nước ngoài bởi vốn đầu tư càng được sử dụng có hiệu quả thì khả năng thu hút
của nó càng to lớn; một khi năng lực tăng trưởng được đảm bảo, năng lực tích
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lũy của nền kinh tế sẽ có khả năng gia tăng và triển vọng tăng trưởng, phát triển
càng cao cũng sẽ là tín hiệu tốt để thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nhân tố thứ ba có ảnh hưởng trực tiếp dến khả năng thu hút vốn của nền
kinh tế chính là môi trường pháp lí.
Đứng trên phương diện vĩ mô, ngoài các tiềm năng về tăng trưởng và ổn
định kinh tế vĩ mô thì để hoạt động thu hút vốn thực sự đem lại hiệu quả cao thì

khoản chi phí có thể chiếm tới trên 25% doanh thu. Chính vì vậy đẩy mạnh công
tác minh bạch môi trường kinh doanh, môi trường kinh doanh là biện pháp hết
sức bức thiết đối với các nước đang phát triển để nâng cao công tác huy động
vốn.
Thu hút vốn đầu tư là yếu tố quyết định quy mô vốn cho nền kinh tế, tuy
nhiên điều quyết định hiệu quả đồng vốn chính là yếu tố sử dụng vốn. Thực tế
cho thấy rằng vốn được sử dụng càng có hiệu quả thì khả năng thu hút vốn trở
lại càng to lớn. Chính vì vậy vấn đề hiệu quả trong công tác sử dụng vốn có vai
trò rất quan trọng đối với hoạt động của mỗi nền kinh tế.
III. ẢNH HƯỞNG CỦA TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TỚI VIỆC HUY ĐỘNG
VỐN CHO ĐẦU TƯ
Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo xã hội chủ nghĩa, Việt
Nam đã trải qua nhiều giai đoạn thực hiện lãi suất khác nhau do đó ảnh hưởng
của lãi suất tới việc huy động vốn cho đầu tư cũng khác nhau:
1. Giai đoạn từ tháng 3/1989 trở về trước
Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất âm, chính sách lãi
suất cứng nhắc bị áp đặt theo kiểu hành chính. Tuy ngân hàng Nhà nước đã có
những điều chỉnh theo từng thời kỳ nhưng do giai đoạn này có lạm phát phi mã
nên khiến lãi suất luôn trong tình trạng âm, nghĩa là:
-Lãi suất tiền gửi < mức lạm phát.
-Lãi suất cho vay < lãi suất huy động < mức lạm phát.
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chính sách lãi suất như vậy đã có tác động xấu đến hoạt động của ngân
hàng thương mại (NHTM) và doanh nghiệp(DN) .
Đối với Ngân hàng thươngmại
-Chính sách lãi suất cứng nhắc khiến cho các NHTM không linh hoạt
trong
hoạt động tín dụng trước mọi biến động của nền kinh tế.

hiệu quả tốt nhất.
-Cơ cấu tổ chức của các DN được tổ chức một cách hợp lý hơn, giảm
thiểu bộ phận quản lý cồng kềnh để giảm thiểu chi phí.
-Lãi suất vay vốn không khuyến khích các DN đầu tư mà các DN tích cực
gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh đó, các DN cũng giảm quy mô đầu tư dẫn
đến một lực lượng lớn thất nghiệp không có lợi cho sự phát triển chung của nền
kinh tế.
-Trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi vay
của ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh lớn do
đó giá thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và như vậy hàng hoá sẽ giảm tính cạnh
tranh trên thị trường.
3. Giai đoạn từ 1993 tới 1996
Thoả thuận trường hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay
theo lãi suất qui định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì được cầu
lãi suất thoả thuận. Lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời
hạn là 0.2% tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2.1% tháng.
Chế độ lãi suất ít nhiều đã giúp cho hoạt động của ngân hàng thương mại
và của doanh nghiệp có những chuyển biến tốt.
Đối với Ngân hàng thương mại
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nguyên lý phổ biến về mặt thời hạn sử dụng vốn tín dụng trong cùng một
thời điểm cho vay cho thấy, mức lãi suất cao thường đáp ứng cho nhu cầu vay
vốn dài hạn, lãi suất thấp cần cho việc huy động vốn ngắn hạn. Nhưng trong giai
đoạn này lãi suất tín dụng ngắn hạn lại được quy định với mức lãi suất cao hơn
dài hạn, do đó NHTM chủ yếu huy động được vốn ngắn hạn trong khi tỷ lệ vốn
huy động trung và dài hạn rất nhỏ. Nếu lấy vốn ngắn hạn cho vay đầu tư trung
và dài hạn thì NHTM phải chịu thua thiệt.
Đối với Doanh nghiệp

Tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng số vốn huy động của NHTM hiện
tại là rất nhỏ. Do việc huy động vốn trung và dài hạn cần có lãi suất cao trong
khi NHNN liên tục cắt giảm lãi suất; NHTM sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn
vào trung và dài hạn. Hậu quả là làm suy yếu khả năng an toàn thanh toán khi có
một dòng tiền gửi bị rút ra.
-Khoảng cách chênh lệch lãi suất cho vay tiền gửi chỉ còn không đáng kể
0.15% tháng nơi nào cao lắm là 0.2% tháng, nên không đảm bảo bù đắp chi phí
và có lãi.
-Lãi suất cho vay trung hạn > vay ngắn hạn là 0.05% tháng. Mức chênh
lệch tạo động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay trung và
dài hạn.
Đối với các Doanh nghiệp
Doanh nghiệp không phải vay với mức lãi suất vượt trần, tức là các doanh
nghiệp không bị các ngân hàng ép khi đi vay tiền.
Khi chính phủ quyết định giảm lãi suất cho vay, đồng thời đưa ra các biện
pháp ưu tiên trong việc cho vay vốn sẽ khuyến khích các DN tăng cường vay
vốn để đầu tư phát triển. Lãi suất là yếu tố thúc đẩy DN kinh doanh có hiệu quả,
bù đắp chi phí và lợi nhuận cho ngân hàng; các DN hạn chế hoạt động tiêu cực
GVHD: ThS. Lương Hương Giang
23

Trích đoạn Thực trạng tự do hóa lãi suất ở Việt Nam Sự tác động tới huy động vốn ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status