Tự do hoá lãi suất trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam. - Pdf 23

Mục lục
Lời cảm ơn
Trang
Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
4
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
5
3 Bố cục của đề án
5
Chơng 1 Lí luận chung về lãi suất
1.1 Các khái niệm về l i suấtã
6
1.2 Các loại l i suất chủ yếuã
7
1.3 Chức năng của l i suất trong nền kinh tếã 9
1.4 Các mục tiêu của l i suấtã
9
1.5 Các nhân tố ảnh hởng đến l i suấtã
10
1.6 Các nguyên tắc xác định l i suấtã
12
Chơng 2 Tự do hoá lãi suất
2.1 Khái niệm về tự do hoá l i suấtã
13
2.2 Biểu hiện của tự do hoá l i suấtã
13
2.3 Tự do hoá l i suất với các quá trình tự do hoá khác của nền kinh tếã
14
2.4 Tính tất yếu của tự do hoá l i suất trong nền kinh tế thị trã ờng
15

đặc trng chủ yếu là: duy trì đợc tốc độ tăng trởng kinh tế cao, kiềm chế đợc lạm
phát, giữ ổn định tiền tệ liên tục trong nhiều năm.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, hoạt động ngân hàng cũng đợc đổi mới
tích cực và rõ nét kể từ năm 1988 đến nay, đặc biệt kể từ khi có hai pháp lệnh
ngân hàng (1990). Đổi mới ngân hàng đợc thể hiện cả về mô hình tổ chức, hành
lang pháp lí và các nội dung hoạt động ... Bởi vậy hệ thống ngân hàng đã có sự
chuyển biến tích cực nhằm thoát ra khỏi những nội dung hoạt động và sự trì trệ
của hệ thống ngân hàng theo cơ chế cũ, chuyển sang hoạt động theo nội dung hoạt
động ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng, và đã góp phần đáng kể vào công cuộc
chống lạm phát, giữ vững và dần dần nâng cao giá trị Đồng Việt Nam, thúc đẩy
tăng trởng kinh tế...
Từ khi đổi mới hoạt động ngân hàng, do ý thức đợc lãi suất là công cụ quan
trọng để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, chính phủ, Ngân Hàng Nhà Nớc đã
có những bớc cải cách quan trọng về lãi suất để tiến tới dần dần tự do hoá hoàn
toàn lãi suất ở nớc ta, đáp ứng đòi hỏi mang tính tất yếu của nền kinh tế thị trờng.
Lãi suất bớc đầu đã đợc diều chỉnh theo yêu cầu của thị trờng, chế độ kiểm soát lãi
suất cứng nhắc dần dần đợc nới lỏng.
Tuy nhiên, lãi suất hiện nay vẫn còn nhiều điểm cha hợp lí, đôi khi cha linh
hoạt và cha điều tiết hoàn toàn theo quan hệ cung cầu về vốn, vẫn tồn tại nhiều
3
mức trần lãi suất cho vay và lãi suất cho vay ngoại tệ, lãi suất tái chiết khấu cha có
điều kiện áp dụng để điều tiết linh hoạt nhu cầu tiền tệ ... Vì thế, độ nhạy cảm của
nền kinh tế với lãi suất cha cao, công cụ lãi suất cha thực hiện đầy đủ các chức
năng, cha xứng với tầm của nó và sẽ không đáp ứng đợc nhu cầu đổi mới nền kinh
tế trong những năm tới.
Thực trạng trên đòi hỏi phải tiếp tục cải cách lãi suất nhằm khắc phục những
điểm bất cập để lãi suất thích ứng với cơ chế thị trờng, tiến tới mục tiêu cuối cùng
là tự do hoá lãi suất, phù hợp với xu thế của thời đại và mau chóng hội nhập với
cộng đồng tài chính quốc tế.
Yêu cầu tiếp tục cải cách, hoàn thiện công cụ lãi suất để mục tiêu cuối cùng

vốn. Lãi suất cũng là tiền trả cho việc dám chấp nhận rủi ro và lãi suất nh một
công cụ quan trọng để điều tiết kinh tế vĩ mô, tác động đến đầu t, phân bổ nguồn
vốn.
Theo David Cox, lãi suất biểu hiện giá cả khoản tiền mà ngời cho vay đòi hỏi
khi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho ngời khác. Ngời đi vay
coi lãi suất nh khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời tiền của ngời
khác.
Nh vậy, điều không thể tránh là lãi suất đã hàm chứa một mâu thuẫn: ngời đi
vay muốn có lãi suất thấp nhất trong khi ngời cho vay muốn có lãi suất cao nhất.
Vì vậy, nh mọi loại hàng háo khác, lãi suất chủ yếu đợc xác định bởi cung và cầu
về vốn. Tất nhiên không có sự bắt buộc nào với ngời có tiền dôi d phải kiếm lãi
trên số tiền dôi d đó. Nhng khi tiền tiết kiệm không đợc đầu t sẽ không sinh lời vì
5
nó không đợc ai sử dụng. Và vì thế, lãi suất còn có thể đợc gọi là chi phí cơ hội
của việc giữ tiền hay nói khác, chi phí cơ hội của việc giữ tiền là khoản lợi tức mất
đi khi ngời ta giữ tiền chứ không phải các trái khoán.
1.2. Các loại lãi suất chủ yếu
Khi phân chia lãi suất thành các loại khác nhau, chúng ta thấy có rất nhiều
loại lãi suất, tùy theo đặc điểm và cách phân loại mà lãi suất có các tên gọi khác
nhau, cụ thể:
1.2.1. Phân chia theo giá trị thực, ta có
Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất không tính đến tác động của lạm phát, hay nói
cách khác là lãi suất ghi trên hợp đồng tín dụng, hay các chứng chỉ tiền gửi. Thông
thờng, nó đợc công bố trên báo chí.
Lãi suất thực: là lãi suất đợc loại bỏ tỉ lệ lạm phát. Nó gần đúng bằng chênh
lệch giữa lãi suất danh nghĩa và tỉ lệ lạm phát (trong trờng hợp lạm phát thấp).
1.2.2. Phân chia theo sự điều chỉnh hay không điều chỉnh:
Lãi suất thả nổi: Là lãi suất có thể thay đổi lên hoặc xuống và có hoặc không
báo trớc.
Lãi suất cố định: Là mức lãi suất trả cho khoản tiền gửi (hay tiền vay) dài hạn

Trong nền kinh tế thị trờng, lãi suất thờng thực hiện các chức năng quan
trọng sau đây:
Thứ nhất, giúp cho việc bảo đảm tiền tiết kiệm sẽ đợc chuyển vào đầu t và
kích thích tăng trởng kinh tế.
Thứ hai, lãi suất sẽ đem lại sự cân đối cung cầu tiền tệ với nhu cầu tiền tệ.
Thứ ba, lãi suất là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của chính
phủ, qua đó ảnh hởng đến tiết kiệm và đầu t.
1.4. Các mục tiêu của lãi suất

Trong một nền kinh tế cơ cấu và các mức lãi suất nhằm hỗ trợ cho ba mục
tiêu chính sau:
Thứ nhất, khuyến khích việc tiết kiệm và sự phát triển của các trung gian tài
chính.
Thứ hai, hớng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực hoạt động có tỉ suất
lợi nhuận cao nhất, có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Thứ ba, mang lại mức chênh lệch đủ để các tổ chức tài chính trang trải các
chi phí hoạt động, chi phí vốn, chi phí chấp nhận rủi ro và lợi nhuận trên vốn tự có.
Để đạt đợc các mục tiêu trên, lãi suất phải đảm bảo thực dơng và thống nhất
đối với những giao dịch tài chính có tính chất giống nhau (về kì hạn và rủi ro). Tại
một số nớc, lãi suất tiền gửi không kì hạn đợc duy trì ở mức thấp, vì cho rằng
chúng thể hiện số d giao dịch chứ không phải là khoản tiết kiệm. Nhng thực tế gần
đây cho thấy, xu hớng trả lãi suất thực dơng với cả tiền gửi không kì hạn để phát
triển hệ thống tài chính theo chiều sâu và để huy động các nguồn lực.
Nếu lãi suất thực là âm, thì khuyến khích việc tích trữ hàng hoá và tự đầu t
thay cho tiết kiệm tài chính và từ đó dẫn đến sự kìm hãm phát triển hệ thống tài
chính theo chiều sâu, huy động nguồn lực bị hạn chế.
8
1.5. Các nhân tố ảnh hởng đến lãi suất
1.5.1. Cung - cầu về vốn
Lãi suất thờng cho ta thấy hàm chứa một mâu thuẫn: đó là ngời cho vay luôn

(tính thanh khoản không cao) thì đòi hỏi mức lãi suất cao hơn, ngợc lại khả năng
thanh toán cao, khi đó nó có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt thì thờng đòi
hỏi mức lãi suất thấp hơn.
1.5.6. Chi phí quản lí
Trong trờng hợp chi phí quản lí NH càng lớn thì mức lãi suất càng cao và ng-
ợc lại, chi phí càng giảm thì mức lãi suất sẽ thấp hơn.
1.5.7. Sự ảnh hởng của lãi suất trên các trung tâm tài chính quốc tế khác hay trong
khu vực kinh tế, ví dụ lãi suất thờng bị ảnh hởng trên phạm vi toàn thế giới bởi
sự phát triển của nền kinh tế Hoa Kì.
Khi có một sự thay đổi về mức lãi suất chung sẽ có tác động lớn đến nền kinh
tế của một nớc trên phạm vi tổng thể. Lãi suất cao sẽ làm giảm nhu cầu vay, cùng
lúc đó, hoạt động kinh tế giảm sút và công chúng sẽ giảm nhu cầu chi tiêu. Vì vậy,
làm giảm cầu hàng hoá ngành công nghiệp, đến lợt nó lại kìm hãm các khoản đầu
t máy móc nhà xởng và ảnh hởng đến công ăn việc làm. Khi hạ thấp lãi suất sẽ có
tác động ngợc lại.
1.6. Các nguyên tắc xác định lãi suất
10
Theo quan điểm phát triển, chính sách lãi suất cần phải đợc đảm bảo một
mức lãi suất thực dơng để khuyến khích ngời dân gửi tiền vào các tổ chức tài
chính. Mức lãi suất thực dơng gắn liền với mức lạm phát trong nớc.
Lãi suất đợc xác định trên cơ sở kì hạn. Kì hạn cho vay, gửi tiền càng dài thì
lãi suất càng cao.
Trong trờng hợp nếu chơng trình ổn định kinh tế đòi hỏi phải tăng lãi suất
cho vay thì cần phaỉ tăng lãi suất tiền gửi vì lãi suất chịu ảnh hởng bởi hành vi tiêu
dùng của xã hội và nếu tăng lãi suất cho vay mà không tăng lãi suất tiền gửi thì sẽ
không khuyến khích tính hiệu quả của ngân hàng.
Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, lãi suất cần tính toán , cần
cân nhắc tới tỉ suất lợi nhuận bình quân để mở rộng cho vay, giải phóng năng lực
sản suất của xã hội.
Thực hiện lãi suất cho vay lớn hơn lãi suất huy đông bình quân, đảm bảo lãi

khi đó cơ cấu và các mức lãi suất (bao gồm lãi suất cho vay và huy động vốn) của
các tổ chức tín dụng với nền kinh tế (khách hàng) do các tổ chức tín dụng tự qui
định, dựa trên cơ sở cung - cầu về vốn và sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng
12
với nhau trên thị trờng, từ đó hình thành nên các mức lãi suất phản ánh đúng yêu
cầu của thị trờng.
Mối dây liên hệ giữa lãi suất chi vay và lãi suất tiền gửi trong nền kinh tế thị
trờng:
Trong nền kinh tế thị trờng, các ngân hàng thơng mại xác định các mức lãi
suất cho vay dựa trên cơ sở mức thị trờng sẽ chịu đợc, còn thông thờng lãi suất tiền
gửi sẽ phụ thuộc vào lợi nhuận của ngân hàng khi cho vay. Mức chênh lệch giữa
lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay đợc xác định bằng sự cạnh tranh trên thị trờng
đối với tiền vay và tiền gửi.
2.3. Tự do hoá lãi suất với các quá trình tự do hoá khác của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trờng, có 3 qua trình tự do hoá cơ bản đó là:
Tự do hoá giá cả
Tự do hoá tài chính thơng mại
Tự do hoá tài chính
Trong 3 xu hớng tự do hoá cơ bản trên của nền kinh tế, thì tự do hoá tài chính
thờng là bớc cuối cùng, khó khăn nhất, lâu dài nhất và cũng nguy hiểm nhất nếu
xét về khía cạnh rủi ro và các cú sốc đối với nền kinh tế.
Tự do hoá tài chính có thể phân chia thành hai cấp độ, đó là:
Thứ nhất, tự do hoá tài chính nội địa: tức là xoá bỏ sự kiểm soát về lãi suất và
phân bổ tín dụng.
Thứ hai, tự do hoá tài chính quốc tế: tức là xoá bỏ kiểm soát về vốn và sự hạn
chế trong quản lí ngoại hối (chuyển đổi tiền tệ).
Trong qua trình tự do hoá tài chính, tự do hoá lãi suất đợc coi là hạt nhân của
quá trình tự do hoá tài chính. Lãi suất phải do thị trờng quyết định, nó phụ thuộc
13
vào cung cầu đầu t, mức tiết kiệm và thu nhập của nền kinh tế và thông thờng, tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status