Bài tập lớn môn hình sự 2 - Pdf 30

ĐỀ SỐ 2
Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng sản xuất gỗ
của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị
thiêu hủy, thiệt hại 350 triệu đồng.
Câu hỏi
1. Xác định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
(2 điểm)
2. Giả sử khi đốt xưởng gỗ, Q không biết còn 1 công nhân là H bị say rượu
đang ngủ trong xưởng nên đã gây ra hậu quả chết người. Q có phải chịu trách
nhiệm hình sự về cái chết của người công nhân này không? Tại sao? (3 điểm)
3. Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa
được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội
của Q là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao? (2 điểm)
MỞ ĐẦU
Quan hệ sở hữu của con người luôn là một vấn đề rất quan trọng được pháp
luật Việt Nam nói chung hay luật hình sự Việt Nam nói riêng quan tâm và bảo vệ. Bởi
vậy, vấn đề bảo đảm quyền sở hữu các lợi ích vật chất cũng luôn được các nhà làm luật
quan tâm. Ở nước ta, quyền sở hữu được quy định và bảo hộ trong Hiến pháp và các văn
bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực: hình sự, dân sự…Trong bộ luật hình sự Việt
Nam nước ta đã quy định một chương riêng dành cho các quy định liên quan đến việc
bảo vệ quan hệ sở hữu của con người.
Thời gian qua, nhóm các tội phạm xâm phạm sở hữu không ngừng gia tăng gây
ảnh hưởng sâu sắc, làm mất trật tự trị an xã hội. Các tội phạm này diễn ra một cách phức
tạp và đa dạng hơn. Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin đi sâu tìm hiểu một tình huống cụ
thể về hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu của con người nhằm có một cái nhìn sâu hơn
về các quy định của Luật hình sự đối với chế định này.
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Xác định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q.
Tội danh của P và Q trong vụ việc trên là tội hủy hoại tài sản của người
khác được quy định tại Điều 143 BLHS Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài
sản.

biết đốt xưởng gỗ có thể gây thiệt hại như thế nào cho N, mức độ thiệt hại đến
đâu. Mặc dù vậy nhưng P vẫn nhờ Q đốt xưởng gỗ và Q vẫn đốt xưởng của N.
Họ rất mong muốn phá hủy được xưởng sản xuất gỗ của N. Mâu thuẫn trong
kinh doanh giữa P và N có thể được giải quyết bằng nhiều cách khác tốt hơn
nhưng P đã lựa chọn cách đốt xưởng để hủy hoại toàn bộ xưởng sản xuất của N.
Bên cạnh đó thời điểm xảy ra vụ việc lại là ban đêm. Đây là thời gian ít người
qua lại, thường ít có sự tập trung cao độ nên sẽ là thời điểm thuận lợi để gây án,
đám cháy sẽ không được phát hiện sớm. Điều này càng chứng tỏ mục đích muốn
hủy hoại xưởng gỗ của N đến cùng của P.
Động cơ: dù với động cơ nào đi chăng nữa hành vi hủy hoại tài sản cũng
đều cấu thành tội. Trong vụ án nêu trên việc P nhờ Q đốt xưởng của N với mục
đích trả thù do có mâu thuẫn trong kinh doanh từ trước, còn Q dù không có mâu
thuẫn nhưng P nhờ nên đã thực hiện việc đốt xưởng.
Trong vụ án nêu trên có hai người cùng thực hiện tội phạm một cách cố ý
là P và Q, trong đó P là người xúi giục còn Q là người thực hành. Bởi lẽ: Người
xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm
(khoản 2 Điều 20 BLHS.) P đã tác động đến tư tưởng và ý chí của Q, đã nhờ Q
đốt xưởng của N. Có thể thấy P chính là “tác giả tinh thần” của vụ án trên, P
nghĩ ra việc phạm tội, cách thức thực hiện việc phá hủy xưởng của N, thời gian
thực hiện việc đó và thúc đẩy cho tội phạm đó được thực hiện thông qua người
khác – cụ thể là Q. Về mặt chủ quan, P có ý định rõ ràng thúc đẩy Q phạm tội
thông qua việc nhờ Q đốt xưởng của N.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 20
BLHS). Q đã tự mình thực hiện hành vi đốt xưởng của N sau khi nhận lời với P.
Trong vụ án này P đã tự mình thực hiện những hành vi được mô tả trong CTTP,
đốt xưởng của N vào ban đêm gây hậu quả thiệt hại làm toàn bộ xưởng và máy
móc bị thiêu rụi. Trong đồng phạm, hành vi của mỗi người là bộ phận cần thiết
trong hoạt động chung đó, hậu quả của tội phạm là kết quả hoạt động chung của
tất cả những người đồng phạm. Luật hình sự Việt Nam quy định tất cả những
người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật và

cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã
được quy phạm hóa hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường
đã trở thành tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận.
Hậu quả của tội phạm: Hành vi vi phạm nói trên phải đã gây ra hậu quả chết
người. Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: Quan hệ nhân
quả giữa hành vi và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội
phạm. Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả
chết người đã xảy ra.
+ Mặt chủ quan:
Lỗi của người phạm tội là lỗi vô ý. Có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý
vì cẩu thả. Theo quy định tại Điều 10 BLHS thì vô ý phạm tội là phạm tội trong
những trường hợp sau:
“1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có
thể ngăn ngừa được;
2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu
quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả
đó.”
BLHS không quy định rõ các hình thức vô ý phạm tội nhưng căn cứ vào
nội dung quy định trên có thể hiểu:
Vô ý vì cẩu thả là trường hợp do cẩu thả mà người phạm tội không thấy
trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù phải thấy trước hoặc
có thể thấy trước. Tiêu chuẩn để xác định một người phải thấy trước và có thể
thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội là căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể
lúc xảy ra sự việc, một người bình thường có thể thấy trước hậu quả, ngoài ra
còn phải căn cứ vào độ tuổi, trình độ nhận thức….
Vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội thấy trước được hành vi
của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng tin rằng hậu quả đó
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nhưng hậu quả đó vẫn xảy ra.

3. Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa
được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm
tội của Q là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao?
Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa
được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội
của Q là tái phạm nguy hiểm. Khẳng định trên xuất phát từ những lý do sau:
• Với mức 3 năm mà tòa án tuyên cho Q về tội cướp tài sản, ta thấy
rằng, Q phạm tội vào khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào khung hình
phạt ba năm đến mười năm tại Khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự, ta nhận thấy
hành vi phạm tội cướp tài sản của Q thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng do
cố ý. Nhưng nếu chỉ dựa vào mức án phạt mà tòa án tuyên với Q để kết luận
hành vi phạm tội của Q thuộc Khoản 1 Điều 133 Bộ luật hình sự thì có phần
chưa khách quan bởi án phạt 3 năm đó có thể đã bao gồm cả các tình tiết giảm
nhẹ. Như vậy, hành vi phạm tội của Q có thể thuộc Khoản 2 Điều 133 Bộ luật
hình sự. Căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt tại Khoản 2 là 15 năm thì
hành vi phạm tội của Q vẫn thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý.
• Căn cứ vào mức án phạt cao nhất là mười lăm năm của khung hình
phạt của Q về tội hủy hoại tài sản như đã chứng minh ở trên thì hành vi phạm tội
của Q thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý.
• Dựa vào tình huống mà đề bài nêu thì Q chưa được xóa án tích
nhưng lại thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại tài sản được quy định tại Khoản 3
Điều 143 cũng thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý. Căn cứ vào
Khoản 2 Điều 49 Bộ luật hình sự quy định về trường hợp được coi là tái phạm
nguy hiểm: “Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do
cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt
nghiêm trọng do cố ý”.
Kết luận: Như vậy, ta có đầy đủ các căn cứ để chứng minh trường hợp
phạm tội của Q là tái phạm nguy hiểm được quy định tại Khoản 2 Điều 49.
KẾT THÚC
Tội phạm không phải là vấn đề mới trong xã hội hiện nay. Tuy nhiên, để loại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status