Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 – 64 An Giang University
55
KỸ NĂNG MỀM CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Lê Thị Hồng Hạnh
1
1
CN. Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học An Giang
Thông tin chung:
Ngày nhận bài: 09/06/14
Ngày nhận kết quả bình duyệt:
27/08/14
Ngày chấp nhận đăng: 03/14
Title:
Soft skills of last year students
in An Giang University
Từ khóa:
Kỹ năng mềm, sinh viên;
Trường Đại học An Giang
Keywords:
Soft skills, student, An Giang
University
kỳ hội nhập. Lẽ đương nhiên, khi Ngân hàng Thế
giới gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên của kinh tế dựa
vào kỹ năng. Điều này, cũng được cụ thể hóa
trong Nghị quyết 14 về “Đổi mới cơ bản và toàn
diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 –
2020”, theo đó, yêu cầu trong thời kỳ mới là phát
triển tiềm năng nghiên cứu sáng tạo, kỹ năng nghề
nghiệp, năng lực hoạt động trong cộng đồng và
khả năng lập nghiệp của người học” (Chính phủ,
2005).
Với yêu cầu trên, kỹ năng mềm của SV cần được
tìm hiểu đánh giá và được xem như là một trong
những năng lực đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển
dụng. Vậy, hiện nay kỹ năng mềm của SV năm
cuối Trường Đại học An Giang (ĐHAG) như thế
nào? Và kỹ năng mềm của SV mới tốt nghiệp có
đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng hay
không?. Để trả lời câu hỏi trên, cũng như góp
phần thực hiện thành công mục tiêu chung của
giáo dục đại học và chuẩn đầu ra của các ngành
đào tạo tại Trường ĐHAG, việc quan tâm nghiên
cứu đề tài “Kỹ năng mềm của SV năm cuối
Trường Đại học An Giang” là thật sự cần thiết
trong việc cung cấp cho trường những cứ liệu
thực tiễn. Từ đó, nhà trường có cơ sở để đề ra
những định hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo và uy tín trong thời gian
tới.
sống, trong đó có kỹ năng mềm được coi như một
hợp phần quan trọng trong nhân cách và năng lực
của con người sống trong xã hội hiện đại”.
Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về “kỹ
năng mềm”. Theo Trường Đại học Danvenport
của Hoa Kỳ, “kỹ năng mềm”(soft skill) là những
kỹ năng đề cập đến một nhóm các phẩm chất cá
nhân như thói quen, thái độ để một nhân viên nào
đó trở nên tốt hơn và thích ứng với công việc.
Không giống như kỹ năng cứng, kỹ năng mềm
được áp dụng rộng rãi cho các loại công việc. Còn
theo Trung tâm Đào tạo Kỹ năng mềm của
Trường Đại học Lạc Hồng thì kỹ năng mềm (soft
skills) – trí tuệ cảm xúc, là thuật ngữ dùng để chỉ
các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con
người - thường không được học trong nhà trường,
không liên quan đến kiến thức chuyên môn,
không thể sờ nắm, càng không phải là kỹ năng cá
tính đặc biệt mà phụ thuộc chủ yếu vào cá tính
của từng người. Nhưng, kỹ năng mềm lại quyết
định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu
quả cao trong công việc. Cũng theo tác giả,
Huỳnh Văn Sơn (2/2013):
Kỹ năng mềm là khả năng thiên về mặt tinh thần
của cá nhân nhằm đảm bảo cho quá trình thích
ứng với người khác, công việc nhằm duy trì tốt
mối quan hệ tích cực và góp phần hỗ trợ thực hiện
công việc một cách hiệu quả.
hành vi (Behavioural Competency Dictionnary)
của Trường Đại học Guelph - Canada (2010).
Trong từ điển này, mỗi kỹ năng sẽ được đánh giá
với các cấp bậc từ thấp đến cao (từ bậc 1 – bậc 5).
2.2 Yêu cầu và đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển
dụng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý
(1998), yêu cầu là “đòi hỏi, đề nghị, tỏ ý muốn và
cần gì đó”. Cũng theo từ điển này, đáp ứng là
“đem lại đúng các yêu cầu, đòi hỏi”. Đồng thời,
Trung tâm từ điển Vietlex (2007), cũng cho rằng
đáp ứng là “đáp lại theo đúng như đòi hỏi, yêu
cầu”.
Như vậy, đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng
được hiểu là đáp lại những đòi hỏi, yêu cầu về kỹ
năng mềm của cơ quan sử dụng lao động dựa trên
năng lực kỹ năng mềm mà SV đạt được sau 4 năm
học đại học.
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng, phương pháp nghiên cứu
định tính chỉ được sử dụng để thu thập thêm thông
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
57
Các thành phần định tính của nghiên cứu bao
gồm: (1) Phỏng vấn sâu 08 cán bộ quản lý
(CBQL) và 12 giảng viên chủ chốt của các khoa
nhằm thu thập các thông tin về tình hình giảng
dạy và giáo dục kỹ năng mềm cho SV, nhận định
về kỹ năng mềm (phục vụ công việc) của SV cũng
như những chính sách, kế hoạch cải thiện và nâng
cao kỹ năng mềm cho SV của khoa. (2) Phỏng
vấn 02 nhóm SV năm cuối để tìm hiểu nhu cầu
đào tạo kỹ năng mềm, nhận thức chung về kỹ
năng mềm, các yếu tố tác động đến việc hình
thành và rèn luyện kỹ năng mềm của SV trong
thời gian theo học tại trường cũng như những
nhận xét, đánh giá, đề nghị của SV về việc giảng
dạy và học tập tại trường. Ngoài ra, đề tài cũng
quan tâm đến việc thu thập thêm những ý kiến
phản hồi từ nhà tuyển dụng lao động nhằm làm rõ
thêm những yêu cầu và đánh giá của họ về kỹ
năng mềm của SV tốt nghiệp từ ĐHAG.
3.2 Xử lý và phân tích dữ liệu
Khi thu thập thông tin, tất cả các dữ liệu sẽ được
kiểm tra trong ngày. Những dữ liệu không phù
hợp sẽ được điều chỉnh trên đối tượng hoặc thay
bằng đối tượng khác nếu gặp khó khăn. Sau đó,
những thông tin định tính sẽ được gỡ băng, làm
sạch, nhập trên phần mềm Excel và tổng hợp, hệ
thống để sử dụng theo chủ điểm. Còn các thông
alpha
nếu loại
biến này
Kỹ năng học và tự học
0,39
0,76
Kỹ năng xây dựng mối quan
hệ
0,41
0,75
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
0,57
0,74
Kỹ năng thuyết trình
0,52
0,74
Kỹ năng làm việc nhóm
0,64
0,73
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ
chức công việc
0,61
0,74
Kỹ năng giải quyết vấn đề và
ra quyết định
0,19
0,88
Kỹ năng lãnh đạo
0,56
0,74
mức đánh giá. Theo đó, tất cả SV năm cuối tham
gia cung cấp thông tin đều tự đánh giá bản thân
mình có 12 kỹ năng mềm đạt ở mức từ trung bình
đến cao. Trong đó, có 4 kỹ năng được đánh giá ở
mức trung bình, bao gồm: kỹ năng trả lời phỏng
vấn xin việc; kỹ năng làm hồ sơ xin việc; kỹ năng
thuyết trình và kỹ năng tư duy sáng tạo. Đồng thời
kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, trong 4 kỹ
năng được đánh giá ở mức trung bình thì kỹ năng
trả lời phỏng vấn xin việc được đánh giá ở mức
thấp nhất.
Bảng 2. Hiện trạng kỹ năng mềm của SV năm cuối
Trƣờng ĐHAG
Kỹ năng mềm
Trị
trung
bình
Kỹ năng học và tự học
3,51
Kỹ năng xây dựng mối quan hệ
3,66
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
3,64
Kỹ năng thuyết trình
3,35
Kỹ năng làm việc nhóm
3,65
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc
(VHNT) với 3,68 điểm, khoa Sư phạm (SP) với
3,53 điểm, khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên
nhiên (NN – TNTN) với 3,45 điểm, khoa Kinh tế
- Quản trị kinh doanh (KT – QTKD) với 3,42
điểm và thấp nhất là khoa Kỹ thuật – Công nghệ -
Môi trường (KT – CN - MT) với 3,45 điểm.
Bảng 3. Tƣơng quan giữa các khoa đào tạo và kỹ năng mềm của SV
Khoa
Kỹ năng
học và tự
học (sig =
0,021)
Kỹ năng
giao tiếp và
ứng xử (sig
= 0,011)
Kỹ năng
thyết trình
(sig = 0,000)
Kỹ năng
làm việc
nhóm (sig =
0,033)
Kỹ năng lập
KH (sig =
0,002)
Văn hóa nghệ thuật
3,68
3,56
3,14
3,52
3,31
Tổng
3,51
3,64
3,35
3,65
3,48
Còn với kỹ năng giao tiếp và ứng xử, SV năm
cuối khoa LLCT cũng đạt điểm trung bình cao
nhất (3,92), thứ hai là khoa SP (3,77), thứ ba là
khoa VHNT (3,73), kế đến là khoa KT - QTKD
(3,56), thấp nhất là khoa KT - CN - MT (3,45) và
NN - TNTN (3,36). Kết quả này là tương đối phù
hợp với tình hình thực tiễn và đặc thù của các
ngành học khi mà khoa KT - CN - MT và NN -
TNTN chủ yếu nghiêng về đào tạo các kỹ sư, kỹ
thuật viên làm việc với máy móc và thực vật ,
còn các ngành học khác nghiêng về đào tạo các cử
nhân với tính chất làm việc chủ yếu với con
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
59
người.
Thực tế cho thấy, kỹ năng thuyết trình là một kỹ
(sig = 0,002)
Kỹ năng
trả lời
phỏng vấn
xin việc
(sig =
0,021)
Văn hóa nghệ thuật
3,82
4,00
3,55
3,50
Sư phạm
3,47
3,84
3,54
3,41
Lý luận chính trị
3,54
4,23
3,54
3,46
Kỹ thuật – Công nghệ - Môi trường
3,24
3,55
3,07
3,10
Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên
3,09
3,64
phỏng vấn xin việc thấp nhất so với 5 khoa còn
lại.
Bảng 5. Kỹ năng tự tin nhất và yếu nhất của SV các
khoa
Khoa
KN tự tin nhất
KN yếu nhất
VHNT
KN quản lý bản thân
Lập kế hoạch, tổ
chức công việc
SP
Giải quyết vấn đề và
ra quyết định
KN trả lời phỏng
vấn xin việc
LLCT
KN quản lý bản thân
KN trả lời phỏng
vấn xin việc
KT-
CNMT
KN quản lý bản thân
KN làm hồ sơ xin
việc
NN-
TNTN
KN quản lý bản thân
(khoa KT - CN - MT). Kết quả này cũng cần được
nhà trường, các khoa và các bạn SV quan tâm, lưu
ý.
4.3 Yêu cầu và mức độ đáp ứng yêu cầu của
nhà tuyển dụng
4.3.1 Yêu cầu của nhà tuyển dụng
Trong tổng số 75 cơ quan/doanh nghiệp tham gia
cung cấp thông tin thì phần lớn là các doanh
nghiệp/xí nghiệp làm việc trong lĩnh vực kinh
doanh, dịch vụ (45,3%). Điều này hoàn toàn hợp
lý bởi các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và
dịch vụ chiếm đa số so với các nhóm lĩnh vực
khác trên địa bàn tỉnh An Giang.
Kết quả khảo sát cho thấy, trong 12 kỹ năng mềm,
10 kỹ năng được các nhà tuyển dụng yêu cầu ở
mức khá cao và 2 kỹ năng được yêu cầu ở mức
trung bình. Cụ thể là: yêu cầu ở mức cao đối với
các kỹ năng: (1) kỹ năng giao tiếp và ứng xử; (2)
kỹ năng xây dựng mối quan hệ; (3) kỹ năng học
và tự học, kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công
việc; (4) kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết
định; (5) kỹ năng tư duy sáng tạo; (6) kỹ năng
quản lý bản thân; (7) kỹ năng làm việc nhóm; (8)
kỹ năng thuyết trình; (9) kỹ năng trả lời phỏng
vấn xin việc. Và yêu cầu ở mức trung bình đối với
các kỹ năng: (1) kỹ năng làm hồ sơ xin việc; (2)
KN đƣợc yêu cầu
thấp nhất
Hành chính
sự nghiệp
KNhọc và tự học
(4,00)
KN làm HS xin
việc (3,40) và KN
lãnh đạo (3,40)
Giáo dục
KN giao tiếp ứng
xử (3,91)
KN lãnh đạo
(3,18)
Ngân hàng
– tài chính
KN giao tiếp ứng
xử (4,30) và kỹ
năng làm việc
nhóm (4,30)
KN làm hồ sơ xin
việc (3,40)
Doanh
nghiệp kinh
doang – TM
- DV
KN giao tiếp ứng
xử (4,32)
KN làm HS xin
việc (3,24) và KN
chức, doanh nghiệp khác ở nhiều kỹ năng, như: kỹ
năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ
năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, kỹ năng
giải quyết vấn đề và ra quyết định, kỹ năng lãnh
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
61
đạo, kỹ năng trả lời phỏng vấn xin việc. Cuối
cùng thì các doanh nghiệp kinh doanh – dịch vụ
lại kỳ vọng vào các kỹ năng như: kỹ năng xây
dựng mối quan hệ, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ
năng tư duy sáng tạo.
Nhìn chung, ngành tài chính – ngân hàng có yêu
cầu về kỹ năng mềm (kỹ năng phục vụ công việc)
cao hơn so với loại hình kinh doanh – dịch vụ,
đơn vị hành chính sự nghiệp và ngành giáo dục.
Điều này là phù hợp với đặc điểm và tính chất
công việc cũng như cơ chế tuyển dụng nhân sự
của các tổ chức, doanh nghiệp, khi mà ngành tài
chính - ngân hàng và doanh nghiệp kinh doanh -
dịch vụ thường nghiêng về phỏng vấn tuyển dụng
và môi trường làm việc năng động, cạnh tranh.
4.3.2 Mức độ đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển
dụng về kỹ năng mềm của SV Trường Đại học An
Giang
Mức độ đáp ứng yêu cầu tuyển dụng về kỹ năng
yêu cầu 3,83 điểm, trong khi đó SV chỉ đáp ứng
được ở mức 3,51 điểm). Kết quả này cũng diễn ra
tương tự ở kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công
việc, kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định,
kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng thuyết trình, kỹ
năng trả lời phỏng vấn xin việc.
Bảng 7. Mức độ đáp ứng yêu cầu tuyển dụng về kỹ
năng mềm của SV năm cuối
Kỹ năng mềm
Năng
lực
của
SV
Yêu cầu
của nhà
tuyển
dụng
Kỹ năng học và tự học
3,51
3,83
Kỹ năng xây dựng mối quan hệ
3,66
3,91
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
3,64
4,15
Kỹ năng thuyết trình
3,35
Thủy (2013) khẳng định “ năng lực đáp ứng yêu
cầu công việc của SV tốt nghiệp từ Trường
ĐHAG chưa cao ” bởi lẽ “có đến 80,8% SV tốt
nghiệp cho rằng kỹ năng cá nhân cũng chỉ đáp
ứng được một phần công việc được giao”. Đồng
thời, tác giả Nguyễn Thanh Ngọc (2012) cũng có
phát hiện rằng “kỹ năng mềm cũng được coi là
một trong những điểm yếu của người lao động có
trình độ đại học theo đánh giá của nhà tuyển dụng
(35,8%)”.
Bên cạnh đó, kết quả phỏng vấn những CBQL
cũng góp phần khẳng định đánh giá trên. Một số
nhận xét của nhà tuyển dụng sẽ cho thấy rõ sự
đánh giá của họ đối với lao động được tuyển dụng
từ Trường ĐHAG “Còn yếu trong giao tiếp”;
“Yếu về kỹ năng nên phải đào tạo lại”; “Kiến thức
tương đối khá nhưng kỹ năng giao tiếp, ứng xử,
lập kế hoạch và tổ chức công việc chưa tốt”; “Khả
năng thích ứng với công việc không cao”; “ so
với SV các trường khác, SV ĐHAG chậm phát
huy năng lực bản thân, kỹ năng lãnh đạo, điều
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
62
hành”; “SV ĐHAG còn thiếu và yếu về trình độ,
cũng như năng lực tư duy và sáng tạo trong công
việc”; “Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề
cần được học hỏi thêm”; “ Kỹ năng sống còn
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
Có thể thấy rằng, SV năm cuối Trường ĐHAG có
kỹ năng mềm ở mức cao, song vẫn còn nhiều
điểm yếu chưa đáp ứng được đa số yêu cầu của
nhà tuyển dụng. Điều này cũng có nghĩa là người
sử dụng lao động có yêu cầu cao hơn năng lực
hiện tại về kỹ năng mềm của SV năm cuối Trường
ĐHAG. Những phát hiện trên đây, phần nào phản
ánh được những thách thức mà Trường ĐHAG,
SV và nhà tuyển dụng đang gặp phải. Đó cũng
chính là tình trạng chung của nhiều trường đại học
ở Việt Nam, được báo động từ rất lâu thông qua
nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Tuy
nhiên, nó vẫn chưa thật sự được quan tâm và giải
quyết triệt để. Do vậy, rất cần thiết có những
nghiên cứu qui mô lớn hơn về đối tượng nghiên
cứu, vấn đề nghiên cứu, bộ công cụ đánh giá kỹ
năng mềm để có hướng tiếp cận và giải quyết vấn
đề một cách thấu đáo, hoàn chỉnh hơn.
5.2. Khuyến nghị
5.2.1 Xem xét xây dựng tài liệu/giáo trình về các
kỹ năng mềm mang tính đặc thù của từng ngành
đào tạo và xem xét chương trình đào tạo, phương
pháp dạy cũng như bồi dưỡng thêm các kỹ năng
cần thiết cho SV ngay từ khi còn ngồi trên nghế
mới. Tuy nhiên hình thức lồng ghép này chỉ giúp
bổ sung thêm kiến thức và một chút kinh nghiệm
thực tế cho SV mà không thể đem lại hiệu quả cao
cho cả môn học kỹ năng và môn học chính thức.
Song, có thể khuyến khích áp dụng việc thực hành
các kỹ năng mềm một cách hợp lý trong việc thảo
luận các môn học chuyên ngành. Trong cùng một
phân môn, SV vừa phải lên lớp nghe giảng, làm
việc nhóm, thuyết trình kế hoạch, viết bài luận cá
nhân, đi thực tế Sự tổng hòa của tất cả các
phương pháp giảng dạy và đánh giá năng lực này
giúp các SV phát triển toàn diện kỹ năng mềm cần
thiết để thích nghi tốt nhất với môi trường làm
việc. Đây cũng là điều mà đề tài ghi nhận được từ
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
63
hầu hết SV tham gia khảo sát khi cho rằng việc
lồng ghép vào môn học sẽ đem lại lợi ích cho SV
như: có cơ hội để rèn luyện kỹ năng mềm một
cách thường xuyên, hứng thú và say mê môn học
chuyên ngành, được học kỹ năng mềm mà không
phải đăng ký bên ngoài
Ngoài ra, nhà trường cũng cần xem xét soạn thảo
tiêu chuẩn đánh giá năng lực về những kỹ năng
mềm mà trường tiến hành đào tạo và có tham
khảo ý kiến của nhà tuyển dụng. Có như vậy, kỹ
năng mềm mới được đo lường và đánh giá khách
vụ cho công việc và có thể đáp ứng ngay yêu cầu
của đơn vị tuyển dụng lao động.
5.2.3 Nâng cao chất lượng của các hoạt động
ngoại khóa với nhiều hình thức thiết thực để thu
hút sự tham gia của SV
Bên cạnh việc đào tạo kỹ năng mềm theo môn học
cụ thể cũng như lồng ghép vào các môn học khác.
Nhà trường và các khoa nên tạo thêm điều kiện để
SV rèn luyện kỹ năng mềm thông qua các hội
thảo chuyên đề, sermina, các câu lạc bộ, hoạt
động đoàn, hoạt động thực tiễn xã hội, bản tin lớp,
các hội thi viết dự án với nội dung và hình thức
mới mẻ, hấp dẫn. Đồng thời, các hoạt động này
cần được tổ chức thường xuyên và cho tất cả SV
tham gia. Đặc biệt là khuyến khích sự tham gia
của SV năm 1, năm 2 để các em có thời gian rèn
luyện cũng như có những định hướng đúng đắn
trong việc chủ động hình thành các kỹ năng bằng
cách cho các em thực hiện tổ chức các hoạt động
ngoại khóa (lập kế hoạch, phân công, họp nhóm,
vận động, thực hiện, báo cáo ), trong đó, thầy cô
là người hướng dẫn, tư vấn và giám sát.
Tuy nhiên khi tổ chức thực hiện các hoạt động
này khoa và nhà trường nên tìm hiểu tâm lý của
SV và tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả SV được
tham gia thay vì chỉ tập trung ở một số SV nổi
trội. Đây cũng là kết quả mà nghiên cứu ghi nhận
khoa và nhà tuyển dụng.
Đồng thời, các thông tin có liên quan cần được
phổ biến sâu rộng cho tất cả SV, để họ có thể
tham gia cũng như có những định hướng cụ thể
cho việc tích luỹ kiến thức và kỹ năng trong quá
Journal of Science – 2015, Vol. 5 (1), 55 - 64 An Giang University
64
trình học đại học.
Trên đây là những giải pháp cơ bản để cải thiện
và nâng cao năng lực kỹ năng mềm cho SV
ĐHAG cũng như đáp ứng được yêu cầu của thị
trường lao động. Tuy nhiên, các giải pháp cần
phải được thực hiện đồng bộ với sự tham gia tích
cực từ nhiều phía.
Ngoài ra, nhu cầu của thị trường lao động là một
yếu tố động, thay đổi và biến chuyển theo thời
gian và tình hình thực tế nên nhà trường cũng cần
có sự thay đổi thích hợp nhằm đáp ứng nhu cầu
của nhà tuyển dụng trên cơ sở xây dựng chuẩn
đầu ra về kỹ năng mềm phù hợp làm nền tảng cho
chất lượng giáo dục trong thời gian tới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chính phủ. (2005). Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về việc
đổi mới căn bản và toàn diện GDĐH Việt Nam đến
năm 2020.