ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ DUNG
TRUYỀN THÔNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học Hà Nội - 2015
1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tác giả
Trần Thị Dung
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền - Phó
Chủ nhiệm Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Hà Nội đã tận tình hƣớng dẫn và cho tôi những ý kiến quý giá trong suốt
quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô giáo Khoa Báo chí và Truyền
thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức quý báu về chuyên ngành báo chí cũng nhƣ tạo điều kiện cho
tôi hoàn thành luận văn này đúng thời hạn.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ
thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dƣơng và Đồng Nai; các anh (chị) khối Văn
phòng Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các anh (chị)
khối Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học công nghệ Bình Dƣơng và
Đồng Nai đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 3 năm 2015
Trần Thị Dung
2.2. Tổ chức hoạt động của ban biên tập và quy trình xử lý thông tin đăng trên cổng
thông tin điện tử các Sở Khoa học và Công nghệ 42
2.3. Mức độ cung cấp thông tin, dịch vụ của các cổng thông tin điện tử 45
2.4. Mức độ đáp ứng nhu cầu thông tin của ngƣời dùng cổng thông tin điện tử 66
2.5. Một số điểm khác biệt giữa 3 cổng thông tin điện tử 76
Tiểu kết chƣơng 2 79
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÊN CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BA SỞ KHOA
HỌC VÀ CÔNG NGHỆ MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 80
3.1. Đánh giá ƣu nhƣợc điểm của 3 cổng thông tin điện tử đối với hoạt động truyền
thông khoa học và công nghệ 80
3.2. Nguyên nhân khách quan và chủ quan của nhƣợc điểm 83
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công nghệ trên cổng thông
tin điện tử 86
3.4. Một số đề xuất trong cách viết và cách trình bày trên cổng thông tin điện tử . 101
Tiểu kết chƣơng 3 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay khoa học và công nghệ đã trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy sản
xuất và tiến bộ xã hội. Do đó, truyền thông về khoa học và công nghệ đƣợc xác định
là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm về phát triển khoa học công nghệ giai đoạn
2011-2020.
Cùng với sự phát triển vƣợt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) và internet
mà Đảng và Nhà nƣớc đã đề ra nhiều chƣơng trình ứng dụng CNTT trong quản lý.
Chính từ yêu cầu đổi mới nền hành chính nƣớc nhà, hầu hết các cơ quan nhà nƣớc
dung, chất lƣợng của thông tin và dịch vụ đang đƣợc cung cấp và nhu cầu của công
chúng đối với thông tin trên trên cổng TTĐT Sở KH&CN các tỉnh, thành phố. Có
nhƣ vậy mới đƣa ra đƣợc một mô hình phát triển hoàn thiện và phù hợp với điều
kiện ngành KH&CN và công chúng của cổng TTĐT Sở KH&CN.
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về cổng TTĐT Sở KH&CN các tỉnh miền Đông
Nam Bộ, cụ thể là ba tỉnh thành nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là
tỉnh Đồng Nai, Bình Dƣơng và thành phố Hồ Chí Minh giúp tìm ra những nguyên
nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các cổng TTĐT các Sở KH&CN.
Đề tài này đƣợc lựa chọn nghiên cứu còn do bản thân ngƣời thực hiện đề tài
hiện đang trực tiếp quản lý cổng TTĐT Sở KH&CN Đồng Nai và mong muốn có
một công trình nghiên cứu khoa học làm cơ sở phân tích thực trạng của thông tin và
dịch vụ công trực tuyến trên cổng TTĐT hiện tại nhằm tìm ra giải pháp nâng cao
chất lƣợng thông tin và dịch vụ trong tƣơng lai, đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nƣớc
về khoa học công nghệ và đáp ứng nhu cầu công chúng.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Cho đến nay vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin và internet trong hoạt
động cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến phục vụ công dân đã đƣợc ứng
dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Theo đó vấn đề cung cấp thông tin và dịch vụ công
trực tuyến thông qua các phƣơng tiện truyền thông trực tuyến nhƣ các trang web,
7
trang blog và mạng xã hội cho các mục đích quan hệ công chúng khác nhau cũng
đƣợc nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến một số nghiên cứu liên
quan nhƣ:
- Về việc chính phủ sử dụng các phƣơng tiện truyền thông trực tuyến và tính
dân chủ: Năm 2009 tác giả Broom [51] đã tiến hành nghiên cứu và giải thích tầm
quan trọng của các hoạt động quan hệ với công chúng của chính phủ khi xét đến hai
nguyên tắc dân chủ; trách nhiệm báo cáo các hoạt động của chính phủ với ngƣời
dân và nhu cầu hỗ trợ và tham gia của ngƣời dân để giúp chính phủ hoạt động có
chính phủ bằng cách tăng cƣờng các dịch vụ chính phủ cho ngƣời dân, cải thiện khả
năng tiếp cận thông tin chính phủ của ngƣời dân, khuyến khích sự tƣơng tác giữa
chính phủ và ngƣời dân.
2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu về cổng TTĐT đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm ở góc độ ngành
công nghệ thông tin. Phần lớn các đề tài nghiên cứu đều tập trung tìm ra những giải
pháp về công nghệ phục vụ cung cấp thông tin, tra cứu thông tin và các dịch vụ
phục vụ ngƣời dân, doanh nghiệp và chính quyền. Có thể kể đến một số đề tài nhƣ:
- Đề tài “Xây dựng cổng thông tin điện tử phục vụ tra cứu thông tin về Chủ
tịch Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Dung (năm 2011). Đề tài tập trung
nghiên cứu xây dựng một cổng TTĐT nhằm hỗ trợ việc tìm hiểu và nghiên cứu về
cuộc đời của Bác Hồ. Cổng TTĐT cho phép ngƣời sử dụng xem, trao đổi, tải thông
tin về dƣới nhiều dạng tệp dữ liệu khác nhau, thực hiện việc trao đổi thông tin giữa
hệ thống và ngƣời sử dụng, tăng hiệu quả công tác nghiên cứu và tra cứu thông tin
về Bác Hồ.
- Đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin một cửa liên thông trong
cấp phép đầu tƣ tại Sở Kế hoạch và Đầu tƣ tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Bay
(năm 2012). Đề tài ứng dụng dịch vụ web xây dựng hệ thống thông tin một cửa điện
tử hỗ trợ quản lý, theo dõi, tra cứu hồ sơ thủ tục hành chính tại Sở Kế hoạch và Đầu
tƣ tỉnh Bình Định.
- Đề tài “Tìm hiểu về kiến trúc Chính phủ điện tử và nghiên cứu, đề xuất mô
hình cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Vĩnh
9
Phúc” của tác giả Hoàng Tiến Hợi (năm 2013). Đề tài tập trung nghiên cứu và đề
xuất mô hình tham chiếu cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Sở Thông tin và
Truyền thông tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề tài “Xây dựng cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam theo kiến trúc
hƣớng dịch vụ SOA” của tác giả Lƣơng Hoài Nhơn (năm 2011). Đề tài này tập
trung nghiên cứu vào công nghệ mã nguồn mở Liferay nhằm xây dựng một cổng
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về nội dung và hình thức thông
điệp truyền thông đại chúng trực tuyến; phƣơng thức tổ chức các hoạt động thông
tin và dịch vụ công trực tuyến trên cổng TTĐT của các cơ quan nhà nƣớc; thế mạnh
tƣơng tác của truyền thông trực tuyến thông qua cổng TTĐT giữa cơ quan trực
thuộc chính phủ và ngƣời dân.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến
về: nội dung, hình thức, tần suất cập nhật thông tin (văn bản, tin tức, dịch vụ…);
công tác tổ chức và quản lý, sự tƣơng tác và mức độ hài lòng của công chúng.
- Đƣa ra hệ thống giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cổng
TTĐT nói chung và cổng TTĐT các Sở KH&CN ba tỉnh miền Đông Nam Bộ nói
riêng. Cụ thể: Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát triển cổng TTĐT hiện nay; các
giải pháp (giải pháp chung và giải pháp cụ thể) nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
của cổng TTĐT các Sở KH&CN miền Đông Nam Bộ; một số khuyến nghị…
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về truyền thông khoa học công nghệ trên cổng thông
tin điện tử của ba Sở Khoa học và Công nghệ miền Đông Nam Bộ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về truyền thông khoa học công nghệ trên cổng TTĐT,
bao gồm nội dung, hình thức thông điệp chính, tần suất cập nhật, năng lực tƣơng tác
trên cổng TTĐT của ba Sở KH&CN miền Đông Nam Bộ và mức độ hài lòng của
công chúng. Cụ thể là cổng TTĐT của ba Sở KH&CN Đồng Nai, Thành phố Hồ
Chí Minh và Bình Dƣơng. Đây là 3 tỉnh, thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam có mật độ dân cƣ đông, có nền kinh tế tăng trƣởng cao và có nhu
11
cầu sử dụng dịch vụ cao. Hiện cả ba cổng TTĐT này đều hoạt động ổn định, cập
nhật thông tin và cung cấp dịch vụ công đầy đủ.
Thời gian khảo sát:
+ Khảo sát việc cung cấp thông tin 2 năm (từ tháng 3/2012 - 3/2014).
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt thực tiễn tại các cơ quan, tổ chức, đoàn
thể xã hội, trong đó có Sở KH&CN ở Việt Nam nói chung và các Sở KH&CN miền
Đông Nam Bộ nói riêng. Thông qua khảo sát, đánh giá cụ thể luận văn xây dựng
một tài liệu có hệ thống về thực trạng về cung cấp thông tin và dịch vụ công trực
tuyến. Từ đó nêu lên những ƣu nhƣợc điểm trong việc cung cấp thông tin và dịch vụ
công trực tuyến và đề xuất các giải pháp phát triển trên cổng TTĐT Sở KH&CN
miền Đông Nam Bộ.
Những bài học nêu trong luận văn cũng cung cấp cho các sinh viên báo chí,
cơ sở để tìm hiểu sâu hơn về đặc điểm, tính chất, ƣu điểm và hạn chế của thông tin
và dịch vụ công trực tuyến trên một cổng thông tin điện tử chuyên ngành.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm có 3 chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cổng thông tin điện tử
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động của ba cổng thông tin điện tử Sở khoa học
và Công nghệ miền Đông Nam Bộ
Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công
nghệ trên cổng thông tin điện tử ba Sở Khoa học và Công nghệ miền Đông Nam
Bộ.
13
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
1.1. Truyền thông và truyền thông về khoa học công nghệ
1.1.1. Khái niệm về truyền thông
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông
là một kiểu tƣơng tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, chia
sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin đƣợc truyền từ ngƣời
gửi tới ngƣời nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết ngƣời gửi
và ngƣời nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để
xã hội về hoạt động khoa học công nghệ, vai trò của khoa học công nghệ đối với
phát triển đất nƣớc, làm cho xã hội hiểu đúng về khoa học và công nghệ, đồng thời
là cầu nối giữa hoạt động khoa học công nghệ với sản xuất và đời sống.
Truyền thông về khoa học và công nghệ trên cổng thông tin điện tử các Sở
Khoa học và Công nghệ là một hình thức truyền thông hiệu quả, nhanh nhạy về tất
cả những hoạt động của ngành khoa học và công nghệ trên mạng internet. Không
chỉ cung cấp thông tin về những thành tựu khoa học, công nghệ mới, truyền thông
còn có vai trò định hƣớng dƣ luận và đƣa các cơ chế, chính sách đến với công
chúng.
1.2. Khái niệm về cổng thông tin điện tử
1.2.1. Định nghĩa cổng thông tin điện tử
Cổng thông tin điện tử là một thuật ngữ tin học xuất hiện năm 1998[25]. Nội
hàm định nghĩa còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục trao đổi, bởi vậy cho đến nay đã
có khá nhiều định nghĩa khác nhau về cổng thông tin điện tử.
Năm 2004, trên tạp chí IEEE Internet Computing, tác giả Christian Wege đã
định nghĩa cổng TTĐT nhƣ sau: “Cổng thông tin điện tử là điểm truy cập tập trung
và duy nhất, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và ứng dụng, phân phối tới
ngƣời sử dụng thông qua một phƣơng thức thống nhất và đơn giản trên nền tảng
Web”
[4].
15
Tại văn bản số 1654/BTTTT-ƢDCNTT ngày 27 tháng 5 năm 2008 của Bộ
Thông tin và Truyền thông hƣớng dẫn các yêu cầu cơ bản về chức năng, tính năng
kỹ thuật cho các dự án dùng chung theo Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, cổng
thông tin điện tử đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Cổng thông tin điện tử là một trung tâm
tích hợp thông tin; là điểm truy cập tập trung và duy nhất; tích hợp các kênh thông
tin các dịch vụ, ứng dụng; là một sản phẩm hệ thống phần mềm đƣợc phát triển trên
một sản phẩm phần mềm cổng lõi (Portal core), thực hiện trao đổi thông tin, dữ liệu
Để hoạt động đƣợc, cổng TTĐT phải đảm bảo đƣợc ba yếu tố về tên miền,
nơi lƣu trữ cổng thông tin điện tử và cơ sở dữ liệu thông tin.
Tên miền là một danh từ dịch theo kiểu nghĩa của từng từ một (Word by
Word) từ tiếng Anh (Domain Name). Thực chất tên miền là sự nhận dạng vị trí của
một máy tính trên mạng internet, nói cách khác tên miền là tên của các mạng lƣới,
tên của các máy chủ trên mạng internet. Tên miền thƣờng gắn kèm với tên một đơn
vị cụ thể và đƣợc cấp phát duy nhất cho chủ thể nào đăng ký trƣớc. Theo quy định
tại Điểm 2.2,a - Thông tƣ số 09/2008/TT-BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2009 của
Bộ Thông tin và Truyền thông “Tên miền do tổ chức, cá nhân tự chọn để đăng ký
phải đảm bảo không có các cụm từ xâm phạm đến lợi ích quốc gia hoặc không phù
hợp với đạo đức xã hội, với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; phải thể hiện tính
nghiêm túc để tránh sự hiểu nhầm hoặc xuyên tạc do tính đa âm, đa nghĩa hoặc khi
không dùng dấu trong tiếng Việt”. Tại khoản 2 mục II - Thông tƣ số 09/2008/TT-
BTTTT ngày 24 tháng 12 năm 2009 quy định “Tổ chức, cá nhân đăng ký tên miền
chịu trách nhiệm về việc quản lý, duy trì quyền sử dụng tên miền của mình và phải
chịu trách nhiệm trong bất kỳ trƣờng hợp vi phạm nào về sử dụng tên miền của
mình do quản lý lỏng lẻo gây ra”.
Nơi lƣu trữ cổng thông tin điện tử (web hosting) là nơi lƣu trữ tất cả các nội
dung cổng TTĐT, các thông tin, tƣ liệu, hình ảnh trên một máy chủ Internet tại
Trung tâm dữ liệu. Dịch vụ lƣu trữ cổng TTĐT đồng thời cũng là nơi diễn ra tất cả
các hoạt động giao dịch, trao đổi thông tin giữa những ngƣời sử dụng Internet với
nhau và hỗ trợ các phần mềm Internet hoạt động. Nói tóm lại, đây là máy chủ dùng
17
để lƣu trữ tất cả thông tin, dữ liệu của cổng TTĐT đồng thời giúp cổng TTĐT luôn
đáp ứng đƣợc nhu cầu truy cập của ngƣời dùng 24/7.
Cơ sở dữ liệu thông tin cổng TTĐT tức là toàn bộ nội dung thông tin về hoạt
động của cơ quan, đơn vị. Nội dung cổng TTĐT đƣợc quy định cụ thể tại khoản 2
Điều 28 Luật Công nghệ thông tin. Cụ thể bao gồm: Thông tin giới thiệu về tổ chức,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó và của từng đơn vị trực thuộc; hệ
- Xuất bản thông tin (Content syndication): thu thập thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau, cung cấp cho ngƣời dùng thông qua các phƣơng pháp hoặc giao
thức (protocol) một cách thích hợp. Một hệ thống xuất bản thông tin chuyên nghiệp
phải có khả năng xuất bản thông tin với các định dạng đã đƣợc quy chuẩn, ví dụ
nhƣ RDF (Resource Description Format), RSS (Realy Simple Syndication), NITF
(News Industry Text Format) và NewsXML. Ngoài ra, các tiêu chuẩn dựa trên
XML cũng phải đƣợc áp dụng để quản trị và hiển thị nội dung một cách thống nhất,
xuyên suốt trong quá trình xuất bản thông tin. Các tiêu chuẩn dựa trên XML này
cho phép đƣa ra giải pháp nhanh nhất để khai thác và sử dụng thông tin trên các
Website khác nhau thông qua quá trình thu thập và bóc tách thông tin với các định
dạng đã đƣợc quy chuẩn.
- Hỗ trợ nhiều môi trường hiển thị thông tin (Multidevice support): cho
phép hiển thị cùng một nội dung thông tin trên nhiều loại thiết bị khác nhau nhƣ:
màn hình máy tính (PC), thiết bị di động (Mobile phone, Wireless phone, PDA), sử
dụng để in hay cho bản fax…. một cách tự động bằng cách xác định thiết bị hiển thị
thông qua các thuộc tính khác nhau. Ví dụ: cùng một nội dung đó, khi hiển thị trên
màn hình máy tính thì sử dụng HTML, nhƣng khi hệ thống xác định đƣợc thiết hiển
thị là PDA hay mobile phone, hệ thống sẽ loại bỏ các ảnh có trong nội dung và tự
động chuyển nội dung đó sang định dạng WML (Wireless Markup Language) để
phù hợp cho việc hiển thị trên màn hình của thiết bị di động.
- Khả năng đăng nhập một lần (Single Sign On - SSO): cho phép dịch vụ
xuất bản thông tin hoặc các dịch vụ khác của portal lấy thông tin về ngƣời dùng khi
hoạt động mà không phải yêu cầu ngƣời dùng phải đăng nhập lại mỗi khi có yêu
cầu. Đây là một tính năng rất quan trọng vì các ứng dụng và dịch vụ trong portal sẽ
19
phát triển một cách nhanh chóng khi xuất hiện nhu cầu, mà các ứng dụng và dịch vụ
này tất yếu sẽ có các nhu cầu về xác thực hoặc truy xuất thông tin ngƣời dùng.
- Quản trị portal (Portal administration): xác định cách thức hiển thị thông
tin cho ngƣời dùng cuối. Tính năng này không chỉ đơn giản là thiết lập các giao
cập tổng thể tới tất cả các cá nhân, thông tin, tổ chức ở mọi nơi. Bất kỳ ai, ở bất cứ
đâu, vào bất cứ thời gian nào, chỉ cần có máy tính nối mạng là có thể truy cập đƣợc
thông tin. Chính vì vậy, cổng thông tin điện tử rất cần thiết cho hoạt động truyền
thông về hoạt động một ngành, lĩnh vực cụ thể.
- Khả năng lƣu trữ và tìm kiếm vƣợt trội: cổng TTĐT đƣợc hình thành trên
cơ sở phát hành nội dung thông tin trong lòng internet nên nó có khả năng lƣu trữ
và tìm kiếm nhƣ internet. Nhờ công nghệ mà công chúng dễ dàng tra cứu những
thông tin đã đƣợc phát hành thông qua các từ khóa cần tìm.
- Cải thiện các tiến trình hợp tác nhờ luồng thông tin tốt hơn giữa con ngƣời
và các ứng dụng. Với sự tích hợp đầy đủ thông tin về thủ tục hành chính và các dịch
vụ công trực tuyến, kèm theo những hƣớng dẫn thực hiện mà ngƣời dân, doanh
nghiệp chỉ cần tải các biểu mẫu về, điền thông tin rồi gửi lại cho đơn vị quản lý.
Việc làm này giúp giảm thiểu thời gian, tiết kiệm chi phí cho ngƣời dân.
- Giảm gánh nặng của việc triển khai và quản lí thông tin và các dịch vụ ứng
dụng trong một cơ quan, tô
̉
chƣ
́
c. Hiện nay, hầu hết các cơ quan nhà nƣớc đều xem
trang thông tin/cổng TTĐT là một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác quản
lý, điều hành và triển khai các văn bản pháp luật. Thông qua việc triển khai các văn
bản pháp luật trên cổng TTĐT đã hình thành một thƣ viện điện tử, giúp giảm giấy
mực và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin.
- Duy trì, quản lý, mở rộng, nâng cấp, tái sử dụng dễ dàng, tiết kiệm chi phí
đầu tƣ để xây dựng lại hệ thống. Đặc biệt, với sự vƣợt trội về công nghệ, cổng
thông tin điện tử cho phép ngƣời sử dụng cập nhật nhiều thông tin hơn, dung lƣợng
lớn hơn và kết hợp đƣợc nhiều cách thức truyền đạt (nhƣ đoạn video clip hay các
biểu đồ, đồ thị…).
- Tốc độ truyền tải nhanh: với công nghệ hiện đại và các trang thiết bị đƣợc
động dịch vụ về tiêu chuẩn, đo lƣờng, chất lƣợng; các dịch vụ hành chính công,
dịch vụ công trực tuyến và các thông tin hoạt động của ngành. Là một kênh thông
tin quan trọng của ngành, nên thông tin đăng tải trên cổng TTĐT phải là thông tin
chính thống của cơ quan nhà nƣớc trên môi trƣờng mạng. Vì vậy, cổng TTĐT là
22
một kênh thông tin, truyền thông đa phƣơng tiện của một tổ chức, cơ quan nhất
định, là tiếng nói của tổ chức, đơn vị, diễn đàn của các cơ quan hành chính nhà
nƣớc và nhân dân trên internet. Do đó, cổng TTĐT bao gồm các chức năng sau:
1.3.1. Chức năng quản lý hoạt động khoa học và công nghệ
Cổng TTĐT khoa học và công nghệ là công cụ để các Sở KH&CN tuyên
truyền về những chủ trƣơng, chính sách mới của Đảng, Nhà nƣớc về hoạt động
khoa học công nghệ; nơi trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các phòng, ban, đơn vị trực
thuộc Sở; nơi cung cấp các thông tin hoạt động của ngành, thông tin các dịch vụ…
phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo, phục vụ nhu cầu thông tin của các
cơ quan nhà nƣớc, ngƣời dân và doanh nghiệp.
Với cổng TTĐT, mọi hoạt động của cơ quan đều đƣợc cập nhật và lãnh đạo
từ trung ƣơng đến địa phƣơng và nhất là lãnh đạo cơ quan chỉ cần rà soát những
thông tin đƣợc cập nhật sẽ nắm bắt đƣợc các hoạt động của cấp dƣới. Chính sự tiện
lợi này mà nhà nƣớc đã ban hành nhiều chƣơng trình ứng dụng công nghệ thông tin
trong cơ quan nhà nƣớc.
Để quản lý tốt hoạt động khoa học và công nghệ tại địa phƣơng, hầu hết các
cổng TTĐT đều cập nhật thông tin những đề tài/ dự án đã và đang triển khai; cập
nhật các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật đã đƣợc nghiên cứu ứng dụng; cập nhật các
dịch vụ khoa học công nghệ thiết thực nhất cho ngƣời dân và doanh nghiệp.
Cổng TTĐT đƣợc xem là một kênh thông tin quan trọng trong việc cung cấp
thông tin chính thống về chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng; chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc; tổ chức thông tin, tuyên tuyền và thực hiện công khai, minh bạch các chủ
trƣơng, chính sách, giải pháp trong chỉ đạo, điều hành của cơ quan nhà nƣớc.
1.3.2. Chức năng cung cấp thông tin
hiểu biết và nâng cao trình độ dân trí và góp phần cải thiện diện mạo văn hóa cộng
đồng.
Với ƣu thế là kênh thông tin chuyên ngành, cổng TTĐT phổ biến nhiều thành
tựu khoa học công nghệ, hƣớng dẫn cách áp dụng, triển khai và chuyển giao công
nghệ. Đặc biệt, thông qua việc giới thiệu những mô hình hay, những điển hình
24
nghiên cứu sáng tạo trong lao động, sản xuất và học tập đã góp phần phổ biến
những cái hay, cái đẹp cho công chúng noi theo.
Đối tƣợng tuyên truyền - giáo dục của cổng TTĐT khoa học và công nghệ
không rộng khắp bằng đối tƣợng của báo chí, nhƣng nó cũng bao gồm nhiều tầng
lớp trong xã hội. Trong đó có đối tƣợng là nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh
nghiệp và ngƣời dân…
1.3.4. Chức năng giao tiếp, tƣơng tác
Với khả năng vƣợt trội về công nghệ, cổng TTĐT cho phép ngƣời sử dụng
trao đổi thông tin với cơ quan chủ quản cổng TTĐT về những vấn đề mình quan
tâm thông qua các chuyên mục nhƣ: thƣ điện tử, hỏi đáp trực tuyến, góp ý trực
tuyến, dịch vụ công trực tuyến…cổng TTĐT trở thành một không gian công cộng
để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia trao đổi về một vấn đề nào đó
liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ.
Ở các cơ quan báo chí, hoạt động tƣơng tác góp phần giúp các cơ quan báo
chí nói chung, mỗi nhà báo nói riêng hiểu hơn về công chúng và nhu cầu, thị hiếu
của họ. Trên cơ sở đó, cơ quan báo chí điều chỉnh, bổ sung, thay đổi về nội dung,
hình thức, mức độ thông tin, góp phần đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, thu hút và tạo
dựng lòng tin với họ. Bên cạnh đó, hoạt động tƣơng tác mang đến cho cơ quan báo
chí một lƣợng thông tin rộng lớn, có giá trị đặc biệt từ phía bạn đọc. Phóng viên có
thể kiểm định dựa trên việc nắm thông tin cá nhân do bạn đọc cung cấp, sau đó tự
tìm hiểu và kiểm tra tính đúng đắn của thông tin, hoặc tiếp tục đề nghị bạn đọc cung
cấp thêm thông tin, từ đó có thể sử dụng thông tin này một cách hiệu quả nhất.
Trong khi hoạt động tƣơng tác của cổng TTĐT lại đƣợc tập trung ở hoạt