Tình hình phát triển du lịch sinh thái Việt Nam Tiểu luận KTMT
LỜI NÓI ĐẦU
Thời gian này, thế giới đang ghi nhận nhiều bước tiến đáng kể của ngành
du lịch, nhất là du lịch sinh thái và bảo tồn do những quan ngại ngày càng lớn
về vấn đề môi trường. Du lịch sinh thái không còn chỉ tồn tại như một khái
niệm hay một đề tài để suy ngẫm mà đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. Ở
rất nhiều nước trên thế giới, vấn đề phát triển du lịch sinh thái rất được chính
phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo
thương mại công cộng.
Du lịch sinh thái đã mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn
và phát triển bền vững. Ở Costa Rica và Venezuela, một số chủ trang trại
chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, nhờ đó họ đã
biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các
hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa
phương. Ecuador sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo
Galápagó để giúp duy trì toàn bộ mạng lưới vườn quốc gia. Tại Nam Phi, du
lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của
người da đen ở nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều
vào các hoạt động du lịch sinh thái. Chính phủ Ba lan cũng tích cực khuyến
khích du lịch sinh thái và gần đây đã thiết lập một số vùng Thiên nhiên-và-Du
lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du
lịch quốc gia. Tại Úc vµ Newzeland, phần lớn các hoạt động du lịch đều có
thể xếp vào hạng du lịch sinh thái. Ðây là ngành công nghiệp được xếp hạng
cao trong nền kinh tế của cả hai nước.
Tại Việt Nam, du lịch cũng đang dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và
trong tương lai gần, hoạt động du lịch được coi như là con đường hiệu quả nhất
để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước. Du lịch Việt Nam được các công
ty du lịch hàng đầu thế giới đánh giá cao, do nước ta có nhiều tiềm năng về
nguồn lực du lịch cả về tự nhiên lẫn nhân văn.
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch, du lịch sinh thái ở Việt Nam
những năm gần đây cũng phát triển nhanh chóng. Bên cạnh những tiềm năng
và cải thiện phúc lợi của người dân địa phương" (Lindberg và Hawkins,
1993). Một định nghĩa đang thịnh hành khác đã liên kết các yếu tố văn hoá và
môi trường một cách cụ thể hơn là định nghĩa do Tổ chức bảo vệ thiên nhiên
thế giới (IUCN) đưa ra. Ðịnh nghĩa này cho rằng "du lịch sinh thái là tham
quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị
tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hoá đã tồn tại trong
quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế
những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra, và tạo ra ích lợi cho
những người dân địa phương tham gia tích cực" (Ceballos-Lascuráin, 1996).
Mặc dù khái niệm du lịch sinh thái vẫn thường được sử dụng tương tự
như khái niệm du lịch bền vững, song trên thực tế, du lịch sinh thái nằm trong
lĩnh vực lớn hơn cả du lịch bền vững. Du lịch bền vững bao gồm tất cả các
loại hình của du lịch (dù là loại hình dựa trên các nguồn tài nguyên thiên
nhiên hay tài nguyên do con người tạo ra). Do đó, du lịch sinh thái cần được
hiểu là một trong những phạm trù của du lịch bền vững. Không nên coi du
lịch sinh thái là ngành du lịch "dựa vào thiên nhiên" vì cái mác này có thể sử
dụng trong tất cả các hoạt động du lịch được thực hiện ngoài thiên nhiên (ví
dụ trượt tuyết, đi xe đạp leo núi, và bám vách đá leo núi). Những hoạt động
du lịch này có thể có mà cũng có thể không thuộc loại hoạt động thân thiện
với môi trường. Do đó, du lịch sinh thái chỉ nên được sử dụng để mô tả những
hoạt động du lịch trong môi trường thiên nhiên với một đặc điểm đi kèm: là
Nguyễn Thị Thu Trang A12E – KTĐN – K46 – FTU
3
Tình hình phát triển du lịch sinh thái Việt Nam Tiểu luận KTMT
loại hình du lịch thực sự khuyến khích bảo vệ và giúp xã hội phát triển bền
vững.
Loại hình du lịch sinh thái có nhiệm vụ:
- Bảo tồn tài nguyên của môi trường tự nhiên
- Bảo đảm với du khách về các đặc điểm của môi trường tự nhiên về
các đặc điểm mà họ đang chiêm ngưỡng
thiên nhiên (natural-based tourism), chỉ có thể phát triển ở những nơi có các
hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng
sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái
thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt ở các vườn quốc
gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc
sống hoang dã. Tuy nhiên, điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại
hình du lịch sinh thái phát triển ở những vùng nông thôn hoặc trang trại điển
hình.
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch
sinh thái ở hai điểm:
- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao hiểu biết cho khách du lịch sinh
thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am
hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương.
Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để
có được những hiểu biết tốt nhất. Khi đó, người hướng dẫn viên chỉ đóng vai
trò là người phiên dịch giỏi.
- Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có người điều hành có
nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến
lợi nhuận và không có cam kết gì với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự
nhiên. Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinht hái phải có được sự cộng
tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương
nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự
nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung
giữa người dân địa phương và du khách.
Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tối đa các tác động có thể có của hoạt
động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường. Theo đó, du lịch sinh thái
cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái
niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã
hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa
Nguyễn Thị Thu Trang A12E – KTĐN – K46 – FTU
văn hóa dân tộc đặc sắc, đậm đà, nếu được khai thác hiệu quả, du lịch sinh
thái chắc chắn sẽ là một ngành hứa hẹn, không chỉ về mặt kinh tế mà cả xã
hội và môi trường.
Nguyễn Thị Thu Trang A12E – KTĐN – K46 – FTU
6
Tỡnh hỡnh phỏt trin du lch sinh thỏi Vit Nam Tiu lun KTMT
CHNG II: TèNH HèNH PHT TRIN
DU LCH SINH THI VIT NAM
II.1. Nhng iu kin phỏt trin du lch sinh thỏi Vit Nam
Vit Nam l quc gia nm trong vựng khớ hu nhit i giú mựa. 3/4
din tớch t nc bao ph bi cỏc dóy nỳi, i v cỏc cao nguyờn. B bin
Vit Nam tri di trờn 3200 km. Vit Nam l ni c trỳ ca 12000 loi thc
vt, 7000 loi ng vt trong s ú cú rt nhiu loi c lit vo Sỏch
ca th gii. c bit, trong nhng nm 80 ca th k trc, ó cú 5 loi ng
vt dng ln ó c phỏt hin Vit Nam. Do iu kin a lý nh vy nờn
Vit Nam rt thớch hp phỏt trin du lch sinh thỏi.
Việt Nam có 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và
225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó
có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và các
tỉnh duyên hải Trung bộ, Việt Nam còn có thêm 10 triệu ha đất ngập mặn ẩn
chứa nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch tại Đồng
Tháp Mời. Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng
giàu có về tính đa dạng sinh học với 12.000 loài thực vật (1.200 loài đặc hữu),
15.575 loài động vật (172 loài đặc hữu). Nếu nh năm 1994 mới chỉ có 320 ngàn
lợt khách quốc tế đến các vùng tự nhiên ở Việt Nam thì đến năm 1999 con số t-
ơng ứng đã lên đến 620 ngàn và dự tính 1triệu lợt khách cho cả năm 2000. Bên
cạnh đó hàng năm cũng có thêm 3.5 đến 5 triệu lợt khách du lịch nội địa ghé
các vùng tự nhiên. Nhờ vậy doanh thu của hoạt động du lịch sinh thái tại các
khu bảo tồn thiên nhiên cũng nh vùng đệm hiện chiếm khoảng 25-30% trong
tổng số doanh thu hàng năm của ngành du lịch.
Khánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên. các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khu rừng ở Yok
đôn, đất ngập nớc Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup-Núi Bà; hệ sinh thái
san hô Nha Trang.
Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây Nguyên cực Nam Trung Bộ với
không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vờn quốc gia Nam Cát Tiên
(Lâm Đồng-Bình Dơng, Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu-Phớc Bửu( Bà Rịa-
Vũng Tàu), Biển Lạc-Núi Ông( Bình Thuận)
Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh
dọc sông Mê Kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng
này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm chim Đồng Tháp, Cù
lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc.
Nguyn Th Thu Trang A12E KTN K46 FTU
8
Tình hình phát triển du lịch sinh thái Việt Nam Tiểu luận KTMT
II.2. Tiềm năng và thực trạng du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn thiên
nhiên Việt Nam
II.2.1: Tiềm năng du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt Nam nằm trong vùng châu Á, nơi được tổ chức du lịch thế giới và
nhiều nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi dự báo sẽ là nơi thu hút nhiều khách
du lịch quốc tế nhất và cũng có nhiều người đủ điều kiện đi du lịch nhất
(khoảng 500 triệu người) vào thế kỷ XXI. Những phân tích, đánh giá, dự báo
đó cho ta một kết luận: nguồn khách du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị
trường du lịch Việt Nam là khách quan và là một tiềm năng.
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính
đa dạng sinh học, đại diện cho vùng Đông Nam Á về sự độc đáo và giàu có
thành pphần loài. Mặc dù bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong
hai thập kỷ qua, hệ thực vật vẫn còn khá phong phú về chủng loại.
Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của Việt Nam hấp dẫn
du lịch ở các đặc trưng sinh thái dưới đây:
Bàng, Hoàng Liên Sơn.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo
3260km bờ biển với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý
tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy, Đồ Sơn, Xuân Thủy, Sầm Sơn, Lăng Cô, Bình
Châu, Phước Bửu. Các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và
quần đảo cũng là những địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Nơi đầy, ngoài
hệ sinh thái trên cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô có thành
phần loài phong phú. Chúng ta có thể tổ chức du lịch lặn , xem hệ động thực
vật biển phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát Bà, Côn Đảo, Phú
Quốc, và các đảo thuộc khu vực Nha Trang, Khánh Hòa.
II.2.2: Thực trạng các khu du lịch sinh thái ở Việt Nam
Tuy có tiềm năng to lớn, du lịch sinh thái trong phạm vi cả nước nói
chung và trong các khu bảo tồn nói riêng vẫn còn đang trong giai đoạn đầu
của sự phát triển. Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm
và đối tượng phục vụ rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị
trường và công nghệ phục vụ cho du lịch sinh thái, chưa có sự quan tâm, quản
lý chặt chẽ của các cấp ngành có liên quan, do vậy, thực tế là sự đa dạng sinh
học đang bị đe dọa.
Theo ước tính, ở Việt Nam có hơn 10% các loại động vật có vú, chim
và cá dang mắc các bệnh đặc trưng, 28% thuộc động vật có vú, 10% loài chim
và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê là ở trong tình trạng
Nguyễn Thị Thu Trang A12E – KTĐN – K46 – FTU
10