Xây dựng chương trình đào tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc KHMER trình độ sơ cấp nghề tại tỉnh trà vinh - Pdf 30



iii



Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Sở Lao động-Thương binh và Xã hội
tỉnh Trà Vinh đã hỗ trợ tạo điều kiện cho tôi tham gia lớp học, giúp đở
trong quá trình khảo sát, tổ chức hội thảo và tham khảo ý kiến đánh giá
tính khả thi của đề tài .
Lãnh đạo và cán bộ, công nhân viên của các sở ban ngành tỉnh Trà
Vinh như Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh, Ban dân tộc tỉnh Trà Vinh, Đoàn sân
khấu nghệ thuật Ánh Bình Minh, Trường đại học Trà Vinh đã hỗ trợ tạo
điều kiện cho người nghiên cứu trong quá trình khảo sát và tham khảo ý
kiến đánh giá tính khả thi của đề tài. Các bạn học viên lớp Cao học ngành
Giáo dục học khóa 2012-2014, gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ
người nghiên cứu trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Lãnh đạo, cán bộ quản lý và quý thầy cô ở các cơ sở dạy nghề trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh đã hỗ trợ tạo điều kiện cho người nghiên cứu trong
quá trình thực hiện đề tài. Các nghệ nhân và chuyên gia trong lĩnh vực
nghề may và thiết kế trang phục dân tộc Khmer trên địa bàn tinh Trà Vinh,
Vĩnh Long, Sóc Trăng, Cà Mau đã hỗ trợ cung cấp thông tin và đánh giá
về mặt chuyên môn của đề tài.
Tiến sĩ Ninh Văn Bình, Giảng viên trường Đại học Sài Gòn đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
cho người nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài đồng thời cung
cấp những kinh nghiệm, kiến thức quý báo để nghiên cứu thực hiện hoàn
thành luận văn.
Ông Dương Quang Ngọc, Phó giám đốc Sở Lao động-Thương
binh và Xã hội tỉnh Trà Vinh, đã hướng dẫn, tạo điều kiện cho người
nghiên cứu tham gia lớp học và định hướng đề tài để làm luận văn, đồng
thời chủ trì hội thảo DACUM phân tích nghề và tạo điều kiện thuận lợi để
người nghiên cứu nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan ban ngành
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.


Trên cơ sở đó, chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục dân tộc Khmer
trình độ sơ cấp tại tỉnh Trà Vinh được xây dựng với những nội dung như sau:
Cơ sở lý luận về chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục dân tộc
Khmer.
Cơ sở thực tiễn về xây dựng chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục
dân tộc Khmer (Khảo sát thực trạng nghề; Khảo sát nhu cầu nghề; Phân tích
nghề theo phương pháp DACUM). v Xây dựng chương trình đào tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer; Thiết
kế đề cương chương trình chi tiết; Thiết kế minh họa một mô đun; Khảo sát ý
kiến đánh giá chương trình.
Qua tổng hợp và phân tích khảo sát ý kiến của các chuyên gia là các nhà quản
lý, giáo viên và các thợ lành nghề cho thấy đây là một chương trình đào tạo nghề
ngắn hạn, không tốn kém nhiều về thời gian cũng như chi phí cho người học, mà giải
quyết được nhu cầu viêc làm cho người lao động, rất cần thiết trong điều kiện kinh
phí hạn hẹp như hiện nay. Đó là những vấn đề mà “Chương trình đào tạo nghề thiết
kế trang phục dân tộc Khmer” đã cân nhắc trong quá trình xây dựng.

changes. Due to the increased economic, demand "well fed, well dressed", the raised
aesthetic fashion requires much more tailors and clothing shops for Khmer people in
order to meet the demand of users.
One of the important factors affecting the quality of training is "training
program". With the goal to build programs must be accordant with demands of socio-
economic and local culture, physical infrastructure, vocational objects, and
employment opportunities to contribute to improve life.

Based on that, training programs "Design Khmer ethnic costumes" elementary
level in Tra Vinh province was built with the following contents: Theoretical basis for training programs "Designing Khmer ethnic costumes".Factual basis for building training program " Designing Khmer Costume "
(Survey job status, survey job demands; analysis professions with DACUM
methods).
vii
Building training programs with designing Khmer ethnic costumes; Designing
detailed outline program; Designing illustrated module; Surveys assessment
program.

Via synthesis and analysis of the survey the experts such as managers,


viiiMỤC LỤC

Trang tựa Trang
Quyết định giao đề tài
Lý lịch cá nhân i

Lời cam đoan ii
C
Lời cảm ơn iii
Tóm tắc luận văn iv
Mục lục viii

Danh sách các chữ viết tắt xii

Danh sách các biểu đồ xiii
Danh sách các bảng xv
Danh sách các sơ đồ xvi

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước 11
1.2. Các khái niệm liên quan đến đề tài 14
1.2.1. Khái niệm về giáo dục nghề nghiệp và dạy nghề 14
1.2.2. Một số khái niệm và thuật ngữ về xây dựng chương trình 15
1.2.3. Một số khái niệm và thuật ngữ về trang phục 18
1.2.4. Một số khái niệm về trang phục dân tộc 19
1.3. Một số mô hình xây dựng chương trình đào tạo nghề 20
1.3.1. Mô hình hệ thống công nghệ đào tạo 20

1.3.2. Mô hình phát triển chương trình đào tạo 22
1.3.3. Mô hình xây dựng chương trình đào tạo nghề 25
1.3.4. Mô hình hệ thống xây dựng chương trình giảng dạy 27
1.3.5. Qui trình xây dựng một chương trình 29
1.3.6. Các xu hướng tiếp cận chương trình đào tạo 30
1.3.7. Đặc trưng chương trình đào tạo nghề theo mô đun 31
1.4. Khái quát về chương trình đào tạo nghề sơ cấp 32
1.4.1. Chương trình đào tạo 32
1.4.2. Đặc điểm chương trình đào tạo sơ cấp nghề 34
1.5. Qui trình xây dựng chương trình đào tạo nghề theo phương pháp
DACUM 34
1.5.1. Sơ lược về xây dựng CTĐT nghề theo phương pháp DACUM 34
1.5.2. Qui trình xây dựng chương trình đào tạo 39
1.5.3. Đánh giá đào tạo nghề 41
Kết luận chương I 43 xChương II: Cơ sở thực tiễn về xây dựng chương trình đào tạo nghề thiết kế


xi3.3. Thiết kế nội dung chương trình nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer 81
3.3.1. Cấu trúc mô đun của chương trình 82
3.3.2. Nội dung từng mô đun 85
3.4. Xây dựng đề cương chương trình thiếtt kế trang phục dân tộc Khmer 87
3.4.1. Thông tin chương trình đào tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer 87
3.4.2. Thông tin mô đun 90
3.5. Đánh giá về chương trình 103
3.5.1. Cách thực hiện 104
3.5.2. Cách chọn mẫu 104
3.5.3. Nội dung tiến trình thực hiện 104
3.5.4. Kết quả khảo sát ý kiến đóng góp của các chuyên gia về chương trình đào tạo
nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer 104
Kết luận chương III 109
Phần C: Kết luận - Kiến Nghị 110
1. Kết luận 110
2. Những giá trị đóng góp của luận văn 112
3. Hướng phát triển của đề tài 113
4. Kiến nghị 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHỤ LỤC

PL Phụ lục
BĐ Biểu đồ

xiiiDANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Số thứ tự Nội dung Trang
Biểu đồ 2.1 Mô tả loại hình của cơ sở dạy nghề 61
Biểu đồ 2.2 Mô tả qui mô tuyển sinh 61
Biểu đồ 2.3 Mô tả thực trạng đào tạo nghề 61
Biểu đồ 2.4 Mô tả sự cần thiết đào tạo nghề 62
Biểu đồ 2.5 Mô tả trình độ học vấn tham gia học nghề 62
Biểu đồ 2.6
Mô tả việc đồng tình học nghề thiết kế trang phục dân
tộc Khmer dễ tìm việc làm
62
Biểu đồ 2.7 Mô tả cơ sở vật chất 63
Biểu đồ 2.8 Mô tả đội ngũ giáo viên 63
Biểu đồ 2.9 Mô tả khả năng phát triển của nghề 63
Biểu đồ 2.10 Mô tả dự định đầu tư phát triển cho việc đào tạo nghề 64
Biểu đồ 2.11 Mô tả tỷ lệ nam nữ 64
Biểu đồ 2.12 Mô tả độ tuổi 65
Biểu đồ 2.13 Mô tả tỷ lệ trình độ học vấn 65
Biểu đồ 2.14 Mô tả sở hữu trang phục dân tộc Khmer 65
Biểu đồ 2.15 Mô tả mức độ sử dụng trang phục dân tộc Khmer 66

Khmer
72
Biểu đồ 2.31
Mô tả hình thức đào tạo nghề thiết kế trang phục dân
tộc Khmer
73
Biểu đồ 2.32
Mô tả thời lượng CTĐT nghề thiết kế trang phục dân
tộc Khmer
73
Biểu đồ 3.1 Mô tả trình độ chuyên gia 105
Biểu đồ 3.2 Mô tả số năm công tác của chuyên gia 105
Biểu đồ 3.3
Mô tả đánh giá các mô đun trong chương trình Thiết kế
trang phục dân tộc Khmer
105
Biểu đồ 3.4
Mô tả thời lượng các mô đun trong chương trình Thiết
kế trang phục dân tộc Khmer
106
Biểu đồ 3.5
Mô tả nội dung các thông tin trong chương trình Thiết
kế trang phục dân tộc Khmer
106
Biểu đồ 3.6
Mô tả đánh giá chung về chương trình Thiết kế trang
phục dân tộc Khmer
107
Biều đồ 3.7
Mô tả đánh giá chung về tính khả thi của chương trình

2006-2010 và 2011-2012
50
Bảng 2.6 Dự báo quy mô và cơ cấu dân số 2015-2020 53
Bảng 2.7
Dự báo quy mô và cơ cấu lực lượng lao động 2014-
2020
53
Bảng 2.8 Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo nghề 2014-2020 54
Bảng 2.9 Nhu cầu đào tạo mới hàng năm 54
Bảng 2.10 Nhu cầu đào tạo lại hàng năm 55
Bảng 2.11 Nhu cầu đào tạo lao động dệt may giai đoạn 2011-2020 57
Bảng 2.12
Tiêu chí khảo sát thực trạng về năng lực và nhu cầu đào
tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer của các cơ
sở dạy nghề tại tỉnh Trà Vinh
59
Bảng 2.13
Tiêu chí khảo sát nhu cầu sử dụng, nhu cầu học nghề và
đặc điểm trang phục dân tộc Khmer của người dân tại
tỉnh Trà Vinh
59
Bảng 2.14
Tiêu chí khảo sát thực trạng về nội dung chương trình
đào tạo nghề may tại các cơ sở dạy nghề của tỉnh Trà
Vinh
60
Bảng 3.1
Tiêu chí khảo sát CTĐT nghề thiết kế trang phục dân
tộc Khmer
103

Hình ảnh đi khảo sát ý kiến nghệ nhân may trạng phục
dân tộc Khmer
66-pl
Hình PL.3 Hình ảnh khảo sát cơ sở dạy nghề 67-pl
Hình PL.4
Hình ảnh xin ý kiến chuyên gia về xây dựng chương
trình đào tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc Khmer
68-pl
1

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đang đòi hỏi bứt
xúc nhu cầu về nguồn nhân lực, một lực lượng lao động đông đảo có đủ kiến thức,
kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
nền kinh tế trong xu thế cạnh tranh và hội nhập, nhất là trong giai đoạn nước ta là
thành viên tổ chức thương mại Thế giới (WTO ). Đảng và Nhà nước ta đã có những
chiến lược, chính sách ưu tiên để đầu tư phát triển và đổi mới toàn diện quá trình
giáo dục và đào tạo, chấn hưng nền giáo dục nước nhà theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Muốn đạt được các chiến lược nêu trên điều
quan trọng nhất là phải phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có chất
lượng cao vì đây là“ Nguồn nguyên khí của quốc gia”.
Khi nói đến nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam chúng ta thì sẽ
thấy còn nhiều bất cập, tình trạng thất nghiệp vẫn đang được báo động. Một trong
những nguyên nhân chính là do chất lượng đào tạo không đáp ứng được đòi hỏi mà
những diễn biến nhanh chóng của nền kinh tế và quá trình phát triển công nghệ.

nước khác trong khu vực và trên thế giới, đang phải đối mặt với xu thế toàn cầu hoá
kinh tế, đang ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống, kể cả sự huy động nhân lực
xuyên quốc gia. Trong hoàn cảnh đó, sự cạnh tranh thị trường lao động có trình độ
cao đang ngày càng trở nên gay gắt. Điều đó đòi hỏi những người tốt nghiệp nghề
phải có những phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp và kiến thức, kỹ năng
thực hành tốt, mới có khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường lao động ngày
càng sôi động như hiện nay.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự nghiệp
dạy nghề đã và đang được phục hồi, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn
nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao của thị trường lao động. Tuy nhiên, trong công tác
đào tạo nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn tại, bức xúc và là mối quan tâm của toàn
xã hội, do thiếu quy hoạch cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu
ngành nghề và dạy nghề mất cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế,
không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch kinh tế. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ khá phổ
biến, hơn nữa đào tạo nghề chưa thích ứng với thị trường lao động, chất lượng và 1
Thủ tướng chính phủ. Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2013, Quyết định phê
duyệt ngày 29/5/2012.
3

số lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu, cụm công
nghiệp - khu chế xuất, lạc hậu so với các nước trong khu vực, chưa có chính sách
thu hút trọng dụng người tài, chưa tạo môi trường cạnh tranh, công bằng lành mạnh.
Thực trạng trên cho thấy sự nghiệp dạy nghề đang đứng trước những cơ hội và
thách thức lớn. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong

4

liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ. Với khoảng hơn
2000 doanh nghiệp, trong đó đa số có quy mô vừa và nhỏ với những hạn chế nhất
định về khải năng tài chính, trình độ công nghệ tay nghề của đội ngũ lao động, trình
độ quản lý và uy tín thương hiệu, ngành dệt may Việt Nam đã gặp rất nhiều khó
khăn trong cuộc cạnh tranh với các tập đoàn dệt may lớn trên thế giới. Ngành dệt
may Việt Nam đã trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu của ngành dệt
may thế gới nhưng mới dừng lại ở khâu gia công. Hiện nay, Việt Nam đã thâm nhập
ngày càng sâu vào thị trường thế giới, sản phẩm dệt may của Việt Nam được xuất đi
rất nhiều nơi và Việt Nam có tên trong top 10 nước xuất khẩu dệt may lớn nhất trên
thế giới từ đó thu về một nguồn ngoại tệ rất lớn cho đất nước.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có khoảng 65 công ty, doanh nghiệp sản
xuất hàng may mặc và cơ sở may gia công, thu hút hơn 24.500 thợ may làm việc,
nhưng trong đó chỉ có rất ít các cơ sở may trang phục dân tộc Khmer. So với mật độ
dân số, số lượng người dân tộc Khmer và nhu cầu sử dụng trang phục dân tộc của
người dân trên địa bàn tỉnh thì cho thấy rất cần nhiều thợ may trang phục dân tộc
Khmer nhằm đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng trong tỉnh và các tỉnh lân
cận.
Ngay từ cuối thế kỷ XVII, Đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều cộng đồng
dân tộc sinh sống. Trong đó, người dân tộc Khmer đã có mặt từ rất sớm. Trong quá
trình tìm đất định cư, bà con Khmer đã chọn những vùng đất giồng cát cao dọc theo
bờ sông Tiền, sông Hậu, nương nhờ vào thiên nhiên để trồng tỉa và sinh sống.
Người Khmer đã quần tụ nhiều trong những phum sóc trên những giồng đất ở Trà
Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và An Giang. Người dân tộc Khmer hiền hòa, hiếu
khách, sống bằng nghề làm ruộng thâm canh, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, kinh
doanh dịch vụ, người Khmer tuy sống giữa cộng đồng người Việt hàng chục thế kỷ,

Nhà nước cùng địa phương đã có nhiều chủ trương, chính sách đối với đồng bào
dân tộc Khmer. Đặc biệt gần đây Chính phủ có thêm nhiều chương trình, dự án đầu
tư trong vùng đồng bào dân tộc Khmer như chương trình 135; chính sách hỗ trợ hộ
đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; chính sách trợ giá, trợ cước từ các
chương trình, chính sách nêu trên tạo nên bước đột phá mới đã và đang phát huy
hiệu quả, tạo nên những chuyển biến trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh nói chung và của vùng đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh nói riêng. Do 3

6

kinh tế gia đình của đồng bào dân tộc Khmer được nâng lên, nhu cầu “ ăn no, mặc
đẹp ” thẩm mỹ về trang phục ngày càng gia tăng, từ đó đòi hỏi phải có nhiều cơ sở
may trang phục dân tộc và nhiều thợ giỏi nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng.
Thời gian qua các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có mở các lớp
đào tạo nghề may, nhưng chủ yếu là các nghề may dân dụng, may âu y phục, may
công nghiệp, may giầy da Chương trình đang đào tạo được chỉnh sửa từ các
chương trình khung của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành; Các CTĐT
do cơ sở dạy nghề tự biên soạn thì không khảo sát nhu cầu thực tế của xã hội hoặc
giáo viên tự biên soạn để giảng dạy. Trong các chương trình đào tạo nghề may đã
được xây dựng nhưng chưa có CTĐT nghề may và thiết kế trang phục dân tộc
Khmer. Bên cạnh đó các cơ sở may mặc và may trang phục dân tộc Khmer trên địa
bàn tỉnh Trà Vinh chưa có chương trình đào tạo hay tài liệu hướng dẫn cụ thể nào
về nghề Thiết kế trang phục dân tộc Khmer người thợ may chỉ may theo kinh
nghiệm sẳn có và mang tính tự phát, chưa có tính khoa học. Chính vì vậy, người

góp phần giải quyết việc làm cho lao động Khmer tại địa phương.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về xây dựng chương trình đào tạo nghề.
- Khảo sát và nghiên cứu thực trạng về nhu cầu sử dụng và nhu cầu học nghề
Thiết kế trang phục dân tộc Khmer tại tỉnh Trà Vinh.
- Xây dựng chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục dân tộc Khmer
trình độ sơ cấp nghề cho tỉnh Trà Vinh.
6. PHẠM VI, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Trong điều kiện thực tế nghiên cứu chỉ thực hiện một số nội dung trong
phạm vi như sau:
Khảo sát về nhu cầu sử dụng và nhu cầu học nghề thiết kế trang phục dân tộc
đối với người dân Khmer trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Khảo sát thực trạng đào tạo nghề May và thiết kế trang phục dân tộc Khmer
tại các cơ sở may và cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
Xây dựng đề cương chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục dân tộc
Khmer trình độ sơ cấp ở mức thiết kế nội dung chương trình nhưng không qua thực
nghiệm. Trong đó phát triển đề cương chi tiết một mô-đun trọng tâm gồm các công
việc có liên quan đến thiết kế trang phục dân tộc Khmer. 8

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Người nghiên cứu áp dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây
trong việc thực hiện đề tài:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tìm hiểu cơ sở pháp lý của đề tài, các mô hình xây dựng chương trình đào
tạo nghề tiêu biểu, và phương pháp tiếp cận đào tạo theo mô-đun.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu làm cơ sở
để phát triển cơ sở lý luận của đề tài. Nghiên cứu nội dung về thiết kế thời trang,

truyền thống, đáp ứng nhu cầu về thẩm mỹ trang phục cho người dân tộc Khmer tại
Trà Vinh, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, tâm linh,
quyền tự hào dân tộc của người Khmer Nam bộ.
8.3. Khả năng triển khai ứng dụng vào thực tế: Các kết quả nghiên cứu đề tài có
khả năng ứng dụng vào thực tế, cụ thể là đào tạo nghề thiết kế trang phục dân tộc
Khmer cho các cơ sở dạy nghề tại tỉnh Trà Vinh và các tỉnh lân cận có đông đồng
bào dân tộc Khmer sinh sống như: Vĩnh Long, Sóc Trăng, Hậu Giang, An Giang và
Cà Mau…
9. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Cấu trúc luận văn gồm 03 phần:
Phần A: Mở đầu
Phần B: Nội dung (gồm có 03 chương)
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình đào tạo nghề Thiết kế
trang phục dân tộc Khmer
Chương 2: Cơ sở thực tiễn về xây dựng chương trình đào tạo nghề Thiết kế
trang phục dân tộc Khmer
Chương 3: Xây dựng chương trình đào tạo nghề Thiết kế trang phục dân tộc
Khmer” cho tỉnh Trà Vinh
Phần C: Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 10

NỘI DUNG
Chương I

trình đào tạo nghề theo mô đun. Gần đây nhiều nước như New Zealand, Ấn Độ,
Pakistan, Thái Lan, … cũng đưa vào chương trình học chính khóa của các trường
trung học phổ thông chương trình đào tạo nghề theo mô đun.
Chương trình đào tạo nghề theo mô đun được xuất phát từ việc áp dụng
phương pháp phân tích nghề DACUM, đây là phương pháp tiên tiến trong việc xây
dựng chương trình dạy nghề. Năm 1969 DACUM được sử dụng rộng rãi ở nhiều
trường đại học tại Canada, năm 1976 DACUM được tổ chức tại Hoa Kỳ, tháng
12/1982 Hoa Kỳ tiến hành hội thảo về DACUM, tháng 1/1983 hội thảo DACUM
tiến hành tại Venezuela, tháng 11/1983 tiến hành hội thảo DACUM tại Indonesia.
Trong vòng 10 năm từ năm 1976 đến 1985 đã có hơn 125 cuộc hội thảo về
DACUM và hình thành hàng vạn biểu đồ phân tích nghề, trong đó có nhiều nghề
liên quan trực tiếp với công nghệ hiện đại và đang áp dụng để giảng dạy hiện nay.
Bên cạnh đó, trước những năm 1980, Tổ chức lao động quốc tế (gọi tắt là ILO
) đã có ý định xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo mô đun hoàn chỉnh.
ILO đặt nhiệm vụ “quốc tế hóa” các mô đun đào tạo. Tuy nhiên, do trình độ kỹ
thuật công nghệ mà công cụ lao động ở mỗi nước có sự khác nhau. Cho nên vấn đề
“quốc tế hóa” các tài liệu học tập sẽ gặp nhiều khó khăn. Bởi vậy, các đơn vị học
tập cần phải chỉnh sửa cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi nước, còn các nghề đặc thù
phải tự biên soạn giảng dạy chứ không thể theo một nước nào.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, năm 1986 viện nghiên cứu khoa học dạy nghề với sự tài trợ của
UNESCO (Tổ chức Khoa học và Giáo dục quốc tế) đã tổ chức hội thảo về phương
pháp biên soạn nội dung đào tạo nghề, trong đó đề cập đến kinh nghiệm đào tạo
nghề theo mô đun ở một số nước. Đến năm 1990, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã tổ chức
cuộc hội thảo dưới sự tài trợ của ILO để tìm hiểu khả năng ứng dụng của phương
thức đào tạo nghề theo mô đun ở Việt Nam. Tháng 5/1992 Trung tâm phương tiện
kỹ thuật dạy nghề (CREDEPRO) cũng đã tổ chức hội thảo về phương pháp tiếp cận
đào tạo nghề theo theo mô đun dưới sự tài trợ của UNDP và sau đó thì các trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status