Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế cao
nhất thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã khiến nhu cầu về vốn
của các NHTM ngày càng lớn, để đầu tư phát triển. Trong điều kiện đó những
năm qua ở nước ta vốn đầu tư của ngân sách hạn hẹp, vốn tự có của doanh
nghiệp hạn chế, thị trường chứng khoán chưa phát triển nên nguồn vốn giành
cho tăng trưởng chủ yếu là từ hệ thống ngân hàng nhất là các ngân hàng thương
mại nhà nước. Nguồn vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước chiếm tới
76% thị phần cung ứng vốn tín dụng của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Mặc dù vấn đề huy động vốn có ý nghĩa quan trọng, song trong năm qua
toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung và chi nhánh chi nhánh Ngân hàng Đầu tư
và phát triển tỉnh Sơn La nói riêng chịu ảnh hưởng mạnh từ chính sách thắt chặt
tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát của Chính phủ. Trong một môi trường với các
điều kiện; thay đổi liên tục, cả hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã gặp
nhiều khó khăn: thiếu hụt thanh khoản kéo dài; Các Ngân hàng thương mại luôn
cạnh tranh gay gắt về lãi suất huy động, để thu hút nguồn tiền gửi tiết kiệm hiếm
hoi, và nhu cầu vốn của khách hàng tăng cao buộc các NHTM phải đặc biệt chú
trọng đến công tác huy động vốn và được quan tâm hàng đầu trong các chương
trình nhiệm vụ công tác; nhằm đảm bảo thanh khoản và tăng trưởng nguồn vốn
phục vụ cho đầu tư phát triển.
Nhận thức được vai trò to lớn của vốn đối với nền kinh tế nước nhà, tầm
quan trọng của vốn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh. Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và phát triển Sơn La đã có chủ trương, giải pháp tăng cường huy động
mọi nguồn vốn tạm thời nhàn dỗi, để có nguồn vốn đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng nền kinh tế, nâng dần tính ổn định và duy trì mức chi phí hợp lý, đáp
ứng yêu cầu xin vay hợp lý của khách hàng. Những năm qua nguồn vốn huy
động tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển Sơn La luôn tăng, song vẫn
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiêu tổ chức cá nhân có tiền nhàn rỗi thông qua hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi
trong các tầng lớp dân cư và tiến hành cấp tín dụng cho những đối tượng cần vay tiền.
Với một mạng lưới rộng khắp, một quá trình hoạt động lâu dài, quy trình nghiệp vụ và
công nghệ hiện đại cùng nhiều mối quan hệ truyền thống, các NHTM đã trở thành kênh
huy động vốn có hiệu quả, một kênh tín dụng đáp ứng nhu cầu cho vay của mọi khách
hàng, một trung gian thanh toán tiện lợi và nhanh chóng. Thông qua chức năng này,
NHTM góp phần tạo lợi ích cho tất cả các chủ thể kinh tế tham gia vào lợi ích chung
của nền kinh tế.
Có thể hiểu NHTM là một tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài
chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều
chức năng nhất định so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng 1997 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có ghi: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng
và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Thành tựu của hệ thông Ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua là kết quả của
nhiều nhân tố tác động. Cùng với quá trình cải cách kinh tế nói chung, Đảng và Nhà
nước đặc biệt quan tâm cải cách trong lĩnh vực ngân hàng. Các chính sách tiền tệ - tín
dụng của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Kinh tế thị
trường đã thúc đẩy quá trình xâm nhập và phát triển của tư tưởng và tác phong kinh
doanh mới trong Ngân hàng. Sự có mặt của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hàng liên doanh đã góp phần tạo ra những động lực mới cho sự phát triển của hệ thống
NHTM Việt Nam.
2. Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại
NHTM được xem là một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ, với
chức năm là trung gian tín dụng. Các NHTM vừa là chủ thể đi vay nhưng cũng vừa
thực hiện cho vay. Từ đó, nghiệp vụ hoạt động chủ yếu của NHTM là nghiệp vụ huy
đủ vốn và cơ cấu phù hợp với chi phí huy động hợp lý cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận.
Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng
trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quan trọng đồng thời đây cũng là
hoạt động trực tiếp đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Các nguồn vốn mà NHTM có
được đều phải mất chi phí và do đó ngân hàng phải thực hiện nghiệp vụ sử dụng vốn
một cách an toàn và hiệu quả, đảm bảo thu hồi vốn, đủ bù đắp chi phí và có lãi. Trong
ngân hàng có các hoạt động sử dụng vốn sau:
a. Nghiệp vụ ngân quỹ : Với mục đích đảm bảo an toàn khả năng thanh toán
thường xuyên của ngân hàng, nghiệp vụ ngân quỹ được thể hiện qua các khoản mục
sau:
Tiền mặt tại quỹ: Bao gồm tiền giấy, tiền kim loại có tại kho ngân hàng. Nhu
cầu dự trữ tiền mặt cao hay thấp là tùy thuộc quy mô hoạt động, nhu cầu rút tiền mặt
của khách hàng và tính chất thời vụ trong năm.
Tiền gửi tại ngân hàng khác: Các ngân hàng có thể mở tài khoản lẫn nhau để
đổi lấy những dịch vụ khác nhau như: trung gian thanh toán cho khách hàng, giao dịch
ngoại tệ, mua bán chứng khoán…
Tiền gửi tại ngân hàng Trung ương: Bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy
định của ngân hàng Trung ương và tiền gửi thanh toán. Mức tiền gửi dự trữ bắt buộc
trong từng thời kỳ thường chiếm tỷ lệ từ 10 – 35% trên nguồn vốn huy động. Dự trữ bắt
buộc vừa là một biện pháp để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, vừa là
một trong những công cụ điều tiết cung cầu tiền tệ trong quá trình thực thi chính sách
tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Các bộ phận trên hình thành nên phần dự trữ của các NHTM. Mặc dù dự trữ của
NHTM không tạo nên lợi nhuận nhưng nó đảm bảo khả năng thanh toán và các nghĩa
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chiết khấu thương phiếu: Là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó ngân
hàng mua những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán với giá trị bằng giá trị thương
phiếu trừ đi phần lợi tức chiết khấu và hoa hồng phí. Đến thời hạn thanh toán thương
phiếu ngân hàng sẽ đòi người mắc nợ theo giá trị của thương phiếu.
Cho vay ứng trước: Là một hình thức cho vay được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng, trong đó người đi vay được phép sử dụng một hạn mức tín dụng
trong một thời gian nhất định. Để thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng mở cho khách
hàng một tài khoản, chuyển số tiền cho vay vào tài khoản để khách hàng sử dụng theo
nhu cầu.
Cho vay thấu chi: Là hình thức đặc biệt của tín dụng ứng trước, thực hiện
trên cơ sở hợp đồng tín dụng, khách hàng có thể sử dụng một số tiền trong một thời hạn
nhất định vượt quá số dư ngay trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng.
Để đa dạng hóa nghiệp vụ tín dụng và đáp ứng nhu cầu vay vốn của
khách hàng ngân hàng còn có các hình thức cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo
hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp…
− Theo tài sản đảm bảo: Có các loại tín dụng sau
Nghiệp vụ cho vay cầm cố: Ngân hàng có thể cho vay khi người đi vay
có tài sản cầm cố tại ngân hàng dưới các hình thức như: tài sản là động sản, các chứng
từ có giá (Sổ tiết kiệm,kỳ phiếu, trái phiếu, chứng khoán…), vàng, bạc.
Nghiệp vụ cho vay thế chấp tài sản: Ngân hàng cho vay trên cơ sở người
đi vay mang các giấy tờ sở hữu các loại tài sản là bất động sản để thế chấp vay vốn.
Nghiệp vụ này cũng tương tự như nghiệp vụ cho vay cầm cố nhưng khác ở chỗ là trong
suốt thời hạn cho vay tài sản thế chấp vẫn được người đi vay sử dụng, ngân hàng chỉ
nắm giữ hồ sơ gốc.
Nghiệp vụ cho vay không cần tài sản đảm bảo (tín chấp): Có thể được
cấp cho các khách hàng có uy tín thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi,
tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa hoặc món vay tương
đối nhỏ so với vốn của người vay.
Các hoạt động trung gian phản ánh mức độ phát triển của ngân hàng. Việc đa
dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu nhập cho ngân hàng, tăng
uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Thực hiện tốt các hoạt động này,
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn, điều đó cũng tạo điều kiện phát
triển hoạt động huy động vốn và cho vay của ngân hàng. Đồng thời với các hoạt
động trung gian này, NHTM góp phần làm tăng khả năng chu chuyển của đồng
vốn, giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông
trong xã hội.
II. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại
1. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Nguồn vốn của NHTM là tất cả các nguồn tài chính mà NHTM có quyền sử dụng để
tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
1.1. Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu: là vốn thuộc sở hữu của các chủ ngân hàng. Tuy chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh,
nó là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng, là nguồn có
thể sử dụng lâu dài hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu của
ngân hàng bao gồm:
Nguồn vốn hình thành ban đầu (vốn tự có ban đầu)
Vốn này được hình thành khi ngân hàng mới bắt đầu hoạt động. Số lượng vốn này tùy
theo năng lực tài chính và tính chất sở hữu. Nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn do cá
nhân tự bỏ ra; nếu là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước thì do ngân sách nhà nước cấp; nếu là
ngân hàng cổ phần thì do cổ đông đóng góp thông qua mua các cổ phần (hoặc cổ phiếu); nếu
là ngân hàng liên doanh thì do các bên tham gia liên doanh góp vốn…
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn của chủ theo nhiều phương thức
khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.
lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng như cho vay, mua bán chứng khoán…
Cũng thông qua vốn của chủ, chúng ta có thể tính được các tỷ lệ quy mô nguồn tiền gửi trên
vốn của chủ, hệ số COOK, ROE, quy mô cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách
hàng…
1.2. Vốn nợ
Là nguồn chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng bao gồm tiền gửi, tiền vay và
các nguồn vốn khác.
2. Huy động vốn của ngân hàng thương mại
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn từ bên ngoài
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Thông qua nghiệp vụ này sẽ hình thành nên nguồn
vốn kinh doanh cho ngân hàng.
Ngoài lợi nhuận giữ lại ngân hàng thường huy động những nguồn vốn sau.
2.1. Phát hành cổ phiếu
Để huy động vốn các NHTM cổ phần có thể phát hành cổ phiếu nhằm mở rộng
quy mô hoạt động hoặc để đổi mới trang thiệt bị hay để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn
của chủ do NHNN quy định. Tuy nhiên việc huy động vốn bằng cách này không phải là
việc làm thường xuyên và dễ dàng đối với các ngân hàng. Việc phát hành cổ phiếu với
số lượng và mệnh giá như thế nào cần phải được xem xét kỹ lưỡng bởi hội đồng quản
trị và phải được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông qua. Thông thường thì những cổ
phiếu của những ngân hàng cổ phần lớn có uy tín được ưa chuộng hơn là cổ phiếu của
những ngân hàng cổ phần vốn nhỏ và không nổi tiếng.
2.2. Huy động tiền gửi
Là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và có vai trò chủ yếu
trong hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm:
Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Khách hàng có thể
yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để chuyển trả cho người thụ hưởng, hoặc
Là loại tiền gửi để dành của các tầng lớp dân cư, được gửi vào ngân hàng để
được hưởng lãi, hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ. Là loại tiết
kiệm người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra,
đồng thời nó còn xác nhận số tiền đã gửi.
Ở Việt Nam hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến là:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và
rút ra bất cứ lúc nào, ngân hàng trả lãi theo số dư bình quân hàng tháng nhân với lãi
suất, lãi được nhập gốc hàng tháng.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi được rút gốc và lãi sau một thời gian
nhất định. Tuy nhiên nếu khách hàng có nhu cầu rút trước thời hạn có thể được đáp ứng
nhưng phải chịu lãi suất thấp. Nếu đến hạn người gửi không có nhu cầu sử dụng thì
ngân hàng tự động nhập lãi vào gốc và tiếp tục được hưởng lãi kỳ tiếp theo.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn,
người tham gia ngoài việc được ngân hàng trả lãi còn được ngân hàng cấp tín dụng
nhằm mục đích bổ sung thêm vốn để mua sắm các phương tiện phục vụ nhu cầu tiêu
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dùng.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch. Chúng có
cùng tính chất là được hưởng lãi cao và chủ tài khoản không được phát hành séc. Nhằm
thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích người
dân thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy
động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Với hình
thức tiền gửi này, người gửi tiền nhận được sổ tiết kiệm. Tuy sổ tiết kiệm này không
được dùng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn ngân
hàng.
Tiền gửi của các ngân hàng khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, NHTM này có thể
gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, quy mô nguồn tiền này không lớn.
Phát hành các chứng từ có giá (Chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu)
Ngân hàng chủ động phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu
ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện các dự án đầu tư đã định. Việc huy động
vốn dưới hình thức phát hành chứng từ có giá được thực hiện theo hai phương thức:
phát hành theo mệnh giá (trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá được ghi trên bề
mặt chứng từ); phát hành bằng hình thức chiết khấu (trả lãi trước, người mua sẽ trả một
số tiền bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi mà họ được hưởng). Thông thường đây là khoản
vay không có đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao hơn sẽ vay
mượn được nhiều hơn. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của
thị trường tài chính tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng.
2.4. Các nguồn vốn khác
Khi ngân hàng có những mối quan hệ quốc tế rộng lớn còn có thể tranh thủ các
khoản vốn tín dụng hoặc tiếp nhận từ các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế. Bao gồm các
nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán và các nguồn vốn khác…
III. Vai trò vốn của ngân hàng thương mại
1. Đối với nền kinh tế
Ngân hàng là một trung gian tài chính và thông qua hoạt động của mình, ngân
hàng đã góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn. Bằng phương thức huy
động các nguồn vốn nhỏ lẻ nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư để
đáp ứng các yêu cầu về sử dụng vốn của các chủ thể có dự án hoặc kế hoạch sử dụng
vốn hiệu quả. Sự kết hợp các nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn với các dịch vụ
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trung gian, ngân hàng đã tập hợp và phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế một cách
hiệu quả, đồng thời giảm thiểu chi phí vốn cho nền kinh tế. Bởi sự ra đời của ngân hàng
đã giảm thiểu chi phí một cách đáng kể, khi ta tưởng tượng không có NHTM nói riêng
và các trung gian tài chính nói chung: người cho vay sẽ phải tìm gặp người đi vay có
nhu cầu vay vốn phù hợp với vốn liếng của mình, sau đó phải thẩm định dự án của
người đi vay. Không những thế thông qua kỹ năng hoạt động của ngân hàng cũng đã
doanh của mình. Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn huy động.
Ngân hàng là một trung gian tài chính đi vay để thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận.
Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng giúp ngân hàng thực hiện các
hoạt động kinh doanh của mình. Quy mô, cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định
đến quy mô và cơ cấu tín dụng của NHTM. Các ngân hàng không thể cho vay dài hạn
với quy mô lớn trong khi vốn huy động nhỏ và thời hạn ngắn.
Thông qua hoạt động huy động vốn cũng thể hiện uy tín, quy mô, sức cạnh tranh
của NHTM trên thị trường. Bởi vốn huy động trên tổng nguồn vốn là một trong những
chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Một ngân hàng có nguồn vốn
ngày càng gia tăng (đặc biệt là vốn dài hạn) khẳng định uy tín và sức cạnh tranh của
mình. Khách hàng có tin tưởng mới gửi tiền vào ngân hàng và nguồn vốn gia tăng thể
hiện ngân hàng đó có vị thế trên thị trường. Và điều này cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho
ngân hàng trong các lĩnh vực khác như nghiệp vụ cho vay, phát triển các sản phẩm mới,
…
Huy động vốn giúp tăng cường mở rộng mối quan hệ giữa ngân hàng với ngân
hàng và với các tổ chức tài chính khác trong nền kinh tế. Sự liên kết, điều hòa vay
mượn các nguồn vốn lẫn nhau sẽ làm gia tăng vòng quay của đồng tiền, tăng hiệu quả
sử dụng vốn trong nền kinh tế. Các ngân hàng dư thừa vốn tạm thời sẽ có cơ hội cho
các ngân hàng thiếu vốn tạm thời vay để lấy lãi. Không những thế nhận thức được tầm
quan trọng của nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của mình các ngân
hàng có thể liên kết, thỏa thuận với nhau mức lãi suất trần, sàn các phương thức huy
động để tránh xảy ra các cuộc chạy đua về lãi suất, các cuộc cạnh tranh gây thiệt hại về
kinh tế lẫn nhau.
Tóm lại, hoạt động huy động vốn là cơ sở, tiền đề nó tạo ra nguồn vốn cho hoạt
động kinh doanh của NHTM. Nó tác động không chỉ cho vay, đầu tư và các nghiệp vụ
kinh doanh khác của NHTM mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế quốc dân.
Nguồn vốn huy động của NHTM gia tăng thể hiện sự tích lũy tập trung vốn đạt hiệu
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lê Tiến Thành Kinh Tế Đầu Tư_47B
17