Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Cung cấp các dịch vụ tài chính cá nhân hay hoạt động TDBL là một trong những
hoạt động truyền thống hình thành nên hệ thống NHTM trên toàn thế giới. Từ khi hình
thành đến nay, hoạt động TDBL đã đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo
lập nền tảng phát triển vững chắc cho các NHTM. Hoạt động TDBL góp phần hình
thành nguồn vốn và mang lại nguồn thu nhập ổn định thường xuyên cho các ngân
hàng. Ngoài ra đây còn là hoạt động mang tính chất phân tán rủi ro, và là lĩnh vực ít
chịu ảnh hưởng bởi các diễn biến, biến động của chu kỳ kinh tế. Bên cạnh đó, hoạt
động TDBL góp phần quan trọng trong việc khai thác và mở rộng thị phần kinh doanh,
nâng cao chất lượng năng lực cạnh tranh, mang lại sự ổn định và phát triển trong các
hoạt động của ngân hàng.
Vai trò này càng được thể hiện rõ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới
vừa qua, trong khi hầu hết các NHTM có chiến lược tập trung vào hoạt động TDBL đã
trụ vững thì nhiều ngân hàng có các hoạt động đầu tư lớn trên bờ vực phá sản (Merrill
Lynch, Lemon Brothers…) hoặc cũng phải chuyển hướng sang phát triển hoạt động
TDBL khi lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy có thể thấy chuyển sang hoạt động
TDBL là một xu hướng đúng đắn cho các NHTM trên thế giới trong điều kiện nền
kinh tế hiện nay.
Môi trường chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển vững chắc, dân số trẻ và
đông, thu nhập quốc dân ngày càng được cải thiện, xu hướng tiêu dùng và sử dụng các
loại hình dịch vụ ngày càng cao, tuy nhiên do sự phát triển còn thấp các dịch vụ tài
chính cá nhân nên đã làm cho thị trường TDBL Việt Nam được đánh giá là còn rất
nhiều tiềm năng và mang lại cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các NHTM trong nước và
ngoài nước.
Theo điều tra khảo sát của một số tổ chức nghiên cứu, mặc dù hiện nay quy mô
của thị trường TDBL Việt Nam còn hạn chế ( mới chỉ có khoảng 19% người dân Việt
Nam mở tài khoản tại các ngân hàng), nhưng vài năm gần đây và trong thời gian tới
sẽ có một tốc độ gia tăng khá nhanh. Theo dự đoán, doanh thu từ ngành ngân hàng bán
lẻ sẽ tăng khoảng 30% mỗi năm trong vòng 5-10 năm tới.
Hệ thống hóa lý thuyết những vấn đề cơ bản về tín dụng bán lẻ, tìm hiểu đặc điểm
vai trò, và một số quy định chung về hoạt động tín dụng bán lẻ.
Đánh giá thực trạng của hoạt động tín dụng bán lẻ tại ngân hàng BIDV chi nhánh
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
Thanh Xuân Hà Nội từ năm 2010 đến nay.
Trên cơ sở hệ thống lý thuyết và thực trạng tín dụng bán lẻ, bài viết cũng đề xuất
một số giải pháp phát triển tín dụng bán lẻ, tại ngân hàng BIDV chi nhánh Thanh Xuân
Hà Nội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội từ 2010 đến
nay.
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm: phương
pháp logic biện chứng, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở hệ thống số
liệu thống kê, của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Thanh Xuân
Hà Nội qua các năm nghiên cứu để suy luận và giải thích các vấn đề đề cập trong nội
dung bài viết.
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.10: Kết quả TDBL…………………………………………………………….55
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. TDBL : Tín dụng bán lẻ
2. NHTM : Ngân hàng thương mại
3. BIDV : Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4. NHNN : Ngân hàng nhà nước
chính( Đạo luật Ngân hàng của Pháp_1941 ).
- Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay
hay tài trợ đầu tư( Luật Ngân hàng_1950 ),
- Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: "Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ buôn bán vàng bạc,nhận tiền ký gửi. hàng nghề thương mại và
các giá trị địa ốc, hối phiếu thương phiếu. và các phương tiện tín dụng, thực hiện các
nghiệp vụ chuyển ngân, bảo lãnh bảo hiểm… "
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-1-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
- Ở Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội khoá 12 thông qua vào
ngày 16/06/2010 định nghĩa như sau: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện
tất cả các hoạt động ngân hàng, các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của
Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này cũng định nghĩa: Tổ chức tín dụng là
doanh nghiệp thực hiện một, hoặc nhiều, các hoạt động ngân hàng, tổ chức tín dụng
bao gồm ngân hàng, phi ngân hàng, quí nhân dân tín dụng, và các tổ chức tài chính vi
mô khác nữa.
Qua các nhận định trên, ta rút ra nhận xét : Ngân hàng thương mại là loại hình
doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng. tiền tệ và là, doanh nghiệp
thường xuyên tiến hành các nghiệp vụ huy động vốn, cung cấp phương tiện thanh
toán, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và cung cấp các dịch vụ tài chính khác.
b. Vai trò ngân hàng thương mại
- Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế-xã hội.
Để phát triển kinh tế thì các đơn vị chủ thể kinh tế cần có một lượng vốn lớn
đầu tư cho hoạt động kinh doanh sản xuất, ngoài ra còn có các hoạt động khác. Tuy
nhiên điều khó khăn, hơn lợi ích là cần có tổ chức thay mặt tập trung vốn nhàn rỗi ở
mọi nơi, mọi lúc nhằm kịp thời cung cấp cho nơi cần vốn.Và ngân hàng thương mại
là tổ chức đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi, và tạm thời nhàn rỗi ở mọi cá
nhân tổ chức cũng như mọi thành phần kinh tế khác như: vốn tạm thời thoát ra từ quá
- NHTM là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trục tiền tệ của toàn bộ nền
kinh tế, cân bằng sự phát triển cho tất cả các thành phần kinh tế, khi tham gia hoạt
động kinh doanh sản xuất, có thể nói rằng mỗi sự giao động của Ngân hàng đều tạo
ra ảnh hưởng nhiều ít đến các thành phần kinh tế khác, trong nền kinh tế. Vì vậy sự
hoạt động tích cực của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh thực sự đóng vai
trò, là công cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết nền kinh tế vỹ mô. Thông qua
nghiệp vụ thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ thống, thì ngân hàng thương mại
đã góp phần mở rộng gia tăng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông. Bằng việc cấp
tín dụng, NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập trung, phân phối vốn
trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả thiết thực; qua đó thực thi vai trò
điều tiết gián tiếp vĩ mô. Cùng với các cơ quan khác, NHTM luôn được sử dụng như
là chìa khóa để nhà nước đinh hướng sự phát triển cho nền kinh tế như mong muốn.
Nhà nước kiểm soát nề kinh tế thông qua các chính sách tiền tệ do ngân hàng
nhà nước ban hành, trực tiếp tác động, lên hoạt động của các NHTM bằng các công
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-3-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
cụ ví dụ như lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc…Ví dụ như khi nhà nước muốn phát triển
kinh tế thì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích, các ngân hàng
thương mại luôn được sử dụng việc giảm lãi suất, gia hạn thời hạn vay, giảm điều
kiện vay vốn hoặc qua hệ thống NHTM, thì nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh
vực mục tiêu quan trong, mục tiêu mũi nhọn. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng,
cần có biện pháp kìm hãm lại thi nhà nước sẽ thông qua ngân hàng trung ương thực
hiện chính sách tiền tệ : tăng tỷ lệ dự trư bắt buộc với mục đích giảm khả năng tạo
tiền, qua đó giảm khả năng cấp tín dụng, để nền kinh tế phát triển hài hòa và vững
chắc.
Việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô thông qua hệ thống NHTM thường đạt hiệu quả
tích cực trong thời gian ngắn nên nhà nước thường xuyên sử dụng.
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và với nền tài chính quốc tế
đối với NHTM trong việc xây dựng nguồn vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh.
Với hoạt động này, NHTM sử dung các công cụ và biện pháp trong khuôn khổ pháp
luật cho phép, để huy động nguồn vốn nhàn rổi làm nguồn vốn cho vay đáp ứng nhu
cầu của khác hàng. Hoạt động huy động vốn, của ngân hàng thương mại bao gồm:
nhận tiền gửi, vay vốn, phát hành giấy tờ có giá , huy động vốn khác.
- Hoạt động tạo tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi
Tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Ngày nay môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính ngày càng khốc liệt, để
gia tăng nguồn tiền gửi cả về số lượng và chất lượng, thì đòi hỏi ngân hàng phải đưa
ra nhiều cách thức huy động khác nhau, và có tính hấp dẫn. Tiền gửi bao gồm tiền
gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán….
- Nguồn đi vay và nghiệp vụ vay nợ của NHTM
Trong một số trường hợp cấp bách hoặc đáp ứng nhu cầu thanh khoản nào đó
ngân hàng phải vay từ : vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng khác thông qua thị
trường tiền tệ liên ngân hàng nhằm giải quyết nhu cầu chi trả khi ngân hàng đang
xảy ra tình trạng thiếu hụt dự trữ bắt buộc, khả năng thanh khoản giảm. Ngoài ra để
đáp ứng nhu cầu về nguồn vốn trung dài hạn nhằm mục đích cho vay, hoặc đầu tư
các dự án trung-dài hạn, các NHTM phát hành các giấy tờ có giá như chứng chỉ tiền
gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng….
- Nguồn khác
Một số ngân hàng có thể được nhận các nguồn vốn khác như nguồn vốn ủy thác
gồm: ủy thác đầu tư, ủy thác cho vay ,thu hộ….ngoài ra ngân hàng còn có nhiều
nguồn vốn thay thế nữa như : nguồn vốn trong thanh toán, vay từ ngân hàng mẹ….
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-5-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
b. Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động cấu thành nên tài sản có và có ý nghĩa quan trọng
đối với khả năng tồn tại, và phát triển của mỗi ngân hàng. Ngân hàng thương mại
được cấp tín dụng cho tổ chức, và các cá nhân dưới hình thức cho vay, chiết khấu, tái
d. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính kể trên thì ngân hàng còn thực hiện một số hoạt động
khác bao gồm: kinh doanh ngoại tệ, đá quý vàng bạc, thực hiện các dịch vụ tư vấn,
nghiệp vụ ủy thác, đại lý, các dịch vụ bảo hiểm liên quan…. Các dịch vụ khác liên
quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá,
cho thuê két bảo vệ, cầm đồ và các dịch vụ trong khuôn khổ được qui định của pháp
luật.
1.2 Khái quát về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng bán lẻ
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng
khác, với các doanh nghiệp và cá nhân. Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là
một trung gian định chế tài chính, vì thế nên trong quan hệ tín dụng với các nhà
doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng là người cho vay, và cũng đồng thời là người đi
vay. Tín dụng là một công cụ để ngân hàng thực hiện chức năng trung gian tín dụng
của mình, đây là bán chất và cũng là nhiệm vụ chủ yếu của NHTM. Ngân hàng sẽ sử
dụng tín dụng, để trở thành người trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn
vốn tiền tệ nhàn rỗi, trong nền kinh tế và đồng thời biến nó thành nguồn vốn cho vay
đáp ứng các nhu cầu đầu tư,kinh doanh tiêu dùng của xã hội.
Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về TDBL.Tín dụng gồm
hai loại là tín dụng bán buôn và TDBL.
Xuất phát từ cách hiểu truyền thống trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, bán
buôn là hình thức mua bán hàng hóa thông qua các đại lý,các phân phối trung gian để
bán với khối lượng lớn. Và ngược lại: bán lẻ là hình thức bán hàng, mà người bán
trực tiếp bán hàng cho người mua là người tiêu dùng với khối lượng nhỏ lẻ.
Khi áp dụng trong hoạt động tín dụng, tín dụng bán buôn được hiểu là tất cả các
khoản vay thông qua thị trường, tài chính, hoặc cho vay đối với các trung gian tài
chính khác (các ngân hàng thương mại, các tổ chức làm đại lý ủy thác, quĩ), chưa tính
đến giá trị qui mô của các khoản vay. Trong khi đó, TDBL bao gồm những khoản
cho vay trực tiếp đến người vay cuối cùng với các khoản cho vay với giá trị, qui mô
là khác nhau.
dụng những sản phẩm dịch vụ của BIDVcung cấp.
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng bán lẻ
Dịch vụ tín dụng bán lẻ được ngân hàng cung cấp mới mục đích hướng đến đối
tượng là cá nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là điểm khác biệt so với dịch vụ
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-8-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
tín dụng bán buôn khi đối tượng là các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có quy mô lớn.
Vì vậy, có một số đặc điểm riêng của dịch vụ tín dụng bán lẻ như sau:
- Đối tượng của dịch vụ TDBL là các khách hàng cá nhân, hộ gia đình, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Đặc điểm đầu tiên và cũng dễ nhận biết khi tiếp cận dịch vụ TDBL đó là đối
tượng của dịch vụ này là cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhóm khách hàng này có đặc điểm dễ nhận thấy đó là: thị trường thiếu sự đồng nhất.
Sự không đồng nhất thể hiện ở chỗ: đối tượng của TDBL là cá nhân và doanh nghiệp,
trong khi tín dụng bán buôn chỉ là khách, hàng doanh nghiệp. Thứ hai, các khách
hàng trong cùng 1 nhóm của TDBL cũng không đồng nhất. Với khách hàng là cá
nhân thì có sự khác nhau về độ tuổi, mức thu nhập, mức tiêu dùng với khách hàng
doanh nghiệp thì khác nhau về quy mô, cơ cấu, lĩnh vực kinh doanh Do đó nhu cầu
của mỗi khách hàng là rất khác nhau. Điều này đặt ra vấn đề, cho mỗi NHTM là phải
phân định được thị trường, phân khúc khách hàng cũng như nhận biết, được một cách
sâu sắc những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu mua của khách hàng.
- Số lượng nhu cầu lớn nhưng quy mô nhu cầu nhỏ
Từ khái niệm về dịch vụ tín dụng bán lẻ ta thấy được đối tượng của dịch vụ
TDBL là các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy giá trị từng
khoản giao dịch không cao (chỉ từ vài trăm VNĐ đến vài chục triệu VNĐ)
Với đối tượng khách hàng của dịch vụ TDBL là cá nhân, doanh nghiệp vừa và
nhỏ thì giá trị của từng khoản giao dịch sẽ bị hạn chế và không thể so sánh với giá trị
của các khoản giao dịch với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế có quy mô lớn. Số
lượng khách khách hàng sử dụng dịch vụ này là rất cao, nhất là khi dân số đang có sự
Chính nhờ sự phát triển của khoa học kỉ thuật, internet, viễn thông nên TDBL mới có
thể cùng cấp ngày càng nhiều sản phẩm bán lẻ tới mọi đối tượng khách hàng, điển
hình là dịch vụ thanh toán thẻ qua máy rút tiền tự động ATM, các dịch vụ ngân hàng
tại nhà, qua mạng internet, qua điện thoại, các sản phẩm chuyển tiền tự động, các sản
phẩm huy, động vốn từ dân cư với nhiều hình thức, tiết kiệm hưu tri, thấu chi tài
khoản ca nhân.… Ngoài ra, sự phát triển của khoa học công nghệ giúp ngân hàng có
thể tiếp cận tới khách hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày ở khắp nơi trên thế
giới, không còn bị ngăn cách bởi khoảng cách địa lý, bởi biên giới hữu hình. Có thể
nói giờ đây dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã và đang trên con đường được toàn cầu hóa.
Bên cạnh đó, với sự biến động của nền kinh tế trong nước cũng như quốc tế, sự
cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường tài chính giữa các tổ chức tín dụng, nên
việc quản trị ngân hàng hiện nay không chỉ đơn thuần là chỉ là việc quản li tín dụng,
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-10-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
tiền gửi mà mục tiêu của các ngân hàng là phải đặc biệt chú trọng thu hút khách
hàng, mở rộng lĩnh vực dịch vụ, chiếm lĩnh thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh
và cuối cùng là tăng thêm lợi nhuận.
Trong TDBL, một lĩnh vực mà lượng khách hàng không ổn định và dễ bị thay
đổi theo tâm lý thì việc áp dụng phương thức Marketing hiệu quả sẽ thu hút khách
hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng, ngay cả khi khách hàng đó trước kia sử dụng
dịch vụ từ ngân hàng khác. Các nhóm dân cư khác nhau về mức thu nhập, mức tiêu
dùng, vị trí xã hội, lứa tuổi, lối sống, dân tộc, thói quen… sẽ có những thái độ phản
ứng riêng, cũng như nhu cầu riêng với các sản phẩm trên thị trường nói chung và sản
phẩm dịch vụ ngân hàng nói riêng. Do đó còn xây dựng chính sách Marketing phù
hợp cho từng nhóm khách hàng.
- Mạng lưới chi nhánh, kênh phân phối rộng khắp
Nhằm cung cấp được các sản phẩm dịch vụ của mình trực tiếp đến với khách
hàng, ngân hàng phải xây dựng các kênh phân phối, nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng một cách nhanh chóng. Hệ thống kênh phân phối của ngân hàng có thể
c. Đối với khách hàng
Dịch vụ TDBL mang lại sự an toàn, tiết kiệm, hiệu quả và tiện lợi cho các đối
tượng khách hàng sử dụng dịch vụ, giúp khách hàng phát huy tối đa nội lực, và khai
thác hiệu quả các tiềm năng. Đồng thời sự đa dạng trong các loại hình dịch vụ TDBL
đã mở rộng thêm cho sự lựa chọn của khách hàng khi giao dịch với ngân hàng.
1.2.4 Các sản phẩm của tín dụng bán lẻ
- Cho vay sản xuất kinh doanh: là sản phẩm tín dụng ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu sản
xuất kinh doanh trong nước mua vật tư, hàng hóa, chi phí nhân công, nhiên liệu, nộp
thuế, xuất nhập khẩu nhiên vật liệu, thông thường thông qua hình thức cho vay theo
hạn mức tín dụng, hoặc theo món.
- Cho vay mua sắm đầu tư tài sản cố định: là sản phẩm tín dụng trung dài hạn nhằm
bổ sung vốn đầu tư mới hoặc sửa chữa, nâng cấp máy móc thiết bị, phương tiện vận
tải, cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật
- Cho vay kinh doanh chứng khoán: là sản phẩm cho nhà đầu tư vay bằng đồng Việt
Nam để kinh doanh chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán đã được khớp lệnh
của công ty chứng khoán.
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: là sản phẩm nhằm tài trợ cho nhu cầu chỉ tiêu của
người tiêu dùng, đây là nguồn tài chính quan trong để trang trải các nhu cầu sinh hoạt
tiêu dùng tronggia đình, mua sắm đồ dùng, chỉ tiêu cho y tế, du lịch, giáo dục
- Cho vay du học: là sản phẩm nhằm cung cấp tài chính để hỗ trợ các du học sinh,
tham dự khóa học đại học, sau đại học ở nước ngoài.
- Cho vay học phí: thông thường là sản phẩm cho vay tín chấp dưới hình thức trả
định kỳ nhằm hỗ trơ người vay có đủ khả năng chi trả học phí khi bản thân người vay
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-12-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
hoặc thân nhân người vay theo hoc các khóa học tại Việt Nam.
- Cho vay mua nhà đất để ở: là sản phẩm dành cho khách hàng cá nhân vay vốn để
thực hiện việc xây, sửa nhà, mua nhà, chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê
lại nhà của Nhà nước
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-13-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
+ Cho vay tín chấp: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo
lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Đối với những khách hàng tốt, trung thực, có khả năng tài chính mạnh thì ngân hàng
có thể cấp TDBL dựa vào uy tín của bản thân khách hàng, mà không cần một nguồn
thu nợ thứ hai để bổ sung.
+ Cho vay thế chấp
Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi
phải có tài sản đảm bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một
nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
Loại cho vay này yêu cầu phải có tài sản thế chấp/cầm cố hoặc phải có sự bảo
lãnh của người thứ ba. Người vay chuyển toàn bộ quyền sở hữu, quyền kiểm soát,
quyền sử dụng lâu dài; hoặc toàn bộ các giấy tờ chứng nhận, sở hữu tài sản đảm bảo
sang cho ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng có nhu cầu vay vốn nhưng không
có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đó không đáp ứng được, các điều kiện của ngân hàng
thì ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng sử dụng chính tài sản được hình thành từ
nguồn tài trợ của ngân hàng làm vật bảo đảm.
1.3 Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ
1.3.1 Quan điểm về phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ của ngân hàng thương
mại
Mở rộng TDBL là sự phát triển về số lượng, chất lượng các loại hình dịch vụ,
sản phẩm cung cấp cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình thông qua việc đa dạng hóa
dịch vụ, phát triển số lượng khách hàng, thu nhập thị phần kinh doanh và tăng tính
tiện ích an toàn nhằm mục đích phân tán rủi ro, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu
quả kinh doanh của ngân hàng. Mở rộng TDBL phải được thực hiện trên sự phát triển
bền vững, hài hòa và đồng bộ.
Mở rộng hoạt động TDBL bền vững phải được thực hiện từng bước vững chắc,
nhưng cần bước đột phá để tạo đà phát triển nhanh trên cơ sở giữ vững được thị
- Cung cấp sản phẩm, dịch vụ mới trên thị trường hiện có hoặc trên thị trường mới.
- Kết hợp các sản phẩm, dịch vụ hiện có với nhau nhằm tận dụng tối đa nguồn lực
sẵn có của ngân hàng để cung cấp cho khách hàng.
- Trong quá trình phát triển của ngân hàng, danh mục các sản phẩm-dịch vụ thường
không cố định mà có sự thay đổi thích ứng với sự thay đổi của môi trường, điều kiện
kinh doanh, nhu cầu của thị trường. Điều này thể hiện sự năng động, nhạy bén của
ngân hàng với sự thay đổi, của môi trường kinh doanh và nhu cầu của khách hàng,
tạo cho ngân hàng khả năng cạnh tranh cao trong việc thoả mãn nhu cầu của khách
hàng. Sự biến đổi danh mục sản phẩm TDBL của ngân hàng, thường gắn liền với sự
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-15-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
phát triển dịch vụ theo một trong hai hướng phát triển sau:
Nâng cao và hoàn thiện danh mục sản phẩm tín dụng ngân hàng hiện có: theo
đó các sản phẩm tín dụng của ngân hàng sẽ được phát triển theo chiều sâu, ngày càng
nâng cao chất lượng và hoàn thiện hơn các tính năng sẵn có, để tăng mức độ hài lòng,
và đáp ứng được kỳ vọng của người sử dụng, giảm thiểu rủi ro của ngân hàng, nâng
cao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Tuy nhiên trong quá trình mở rộng TDBL, điều vô cùng quan trọng đó là phải
đảm bảo được sự phát triển, tăng trưởng an toàn, tức là các chỉ tiêu đánh giá chất
lượng tín dụng trong tầm kiểm soát phải đảm bảo.
1.3.2 Sự cần thiết phải phát triển tín dụng bán lẻ của NHTM
a. Đối với nền kinh tế
- TDBL đã tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế
TDBL có rất nhiều sản phẩm đa dạng, và phong phú, rất thuận tiện đáp ứng mọi
nhu cầu của khách hàng. Chính vì vậy các ngân hàng đã thu hút được rất nhiều vốn
từ dân cư để đầu tư cho phát triển kinh tế. Khi dịch vụ của ngân hàng trở nên tiện lợi
thì lợi ích của việc mở tài khoản, gửi tiền và sử dụng các dịch vụ thanh toán…. thúc
đẩy họ gia đình, cá nhân gửi tiền nhàn rỗi, vào hệ thống ngân hàng, tạo môi trường
đầu tư hiệu quả, thuận lợi cho phát triển kinh tế đối với mọi thành phần. Đối với các
hoạt động của ngân hàng. Phát triển TDBL là một việc hết sức cân thiết và cấp bách
trong quá trình phát triển của các NHTM.
- Làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng
TDBL là một trong hai bộ phận nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng, bên cạnh tín
dụng tổ chức kinh tế hoặc doanh nghiệp. Tốc độ TDBL tăng nhanh góp phần đẩy
nhanh dư nợ, đồng nghĩa với nguồn thu nhập cho ngân hàng tăng lên.
Phát triển dịch vụ đa dạng phong phú, có nhiều tiện ích theo hướng cải tiến
cách thức thanh toán, phát triển mạng lưới hoạt động, đơn giản hóa thủ tục. Bên
cạnh đó ngân hàng có thể phát triển thêm nhiều dịch vụ hỗ trợ khác nữa như: dịch vụ
chi trả lương qua ATM, chuyển tiền mặt giao dịch tận tay người nhận.…sẽ thu hút
được ngày càng nhiều khách hàng, đến với ngân hàng, từ đó nguồn thu từ các dịch vụ
ngân hàng tăng lên
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Để có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác, ngân hàng phải đáp ứng được đòi hỏi
ngày càng cao của khách hàng như thái độ phục vụ chuyên nghiệp,các sản phẩm phù
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-17-
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Hoài Phương
hợp với nhu cầu,các dịch vụ hậu mãi Ngược lại, chính những nỗ lực đó mà ngân
hàng ngày càng hoàn thiện mình, vươn lên mạnh mẽ và có sức cạnh tranh.
- Mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
Có thể thấy từ khi các NHTM Việt Nam áp dụng việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ
TDBL thì ngoài các sản phẩm tín dụng truyền thống, danh mục sản phẩm của ngân
hàng đã có sự thay đổi theo hướng đa dạng hóa. Sản phẩm thấu chi tài khoản tiền
gửi,cho vay du học, sản phẩm cho vay mua ô tô, cho vay hỗ trợ nhu cầu nhà ở, cho
vay cầm cố chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay cán bộ công nhân viên
- Tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Danh mục sản phẩm được mở rộng, chất lượng dịch vụ cải thiện. Có thể nói, TDBL
đã góp phần làm tăng khả năng đáp ứng các nhu cầu khách hàng của các ngân hàng,
mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Từ đó thương hiệu của ngân hàng được định vi
nhuận mà nó mang lại đối với ngân hàng. Khi TDBL có sự phát triển mạnh mẽ thì
chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận của ngân hàng sẽ tăng lên. Và trong trường hợp việc
phát triển hoạt động TDBL gặp khó khăn, thu nhập của ngân hàng cũng bị giảm sút
( doanh thu và lợi nhuận giảm ).
Quy mô và tỷ trọng thu nhập từ hoạt động TDBL của ngân hàng không ngừng
tăng lên. Đây là kết quả tổng hợp của sự đa dạng sản phẩm, khả năng cung cấp vốn
và đương nhiên là cả chất lượng dịch vụ của ngân hàng tăng lên. Chất lượng dịch vụ
có tính nổi trội hơn cả. Nếu như chất lượng dịch vụ không đảm bảo, không có sự cải
thiện thì sự đa dạng các sản phẩm và khả năng cấp vốn sẽ không có ý nghĩa vì khi đó
khách hàng sẽ không chấp nhận.
d. Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết chất lượng, và rủi ro của các danh mục TDBL trong
ngân hàng. Đồng thời phản ánh khả năng quản lý hoạt động TDBL của ngân hàng
trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay TDBL.
Nếu tỷ lệ này cao hơn so với mức trung bình ngành và có xu hướng tăng lên
có thể là dấu hiệu cho thấy vấn đề việc phát triển TDBL đang gặp khó khăn. Ngược
lại, khi tỷ lệ này thấp hơn so với các năm trước cho thấy chất lượng TDBL đang
được cải thiện, hoặc cũng có thể do ngân hàng thay đổi trong phân loại nợ quá hạn
của hoạt động TDBL.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng bán lẻ của ngân hàng
thương mại
a. Nhân tố chủ quan
- Định hướng và chiến lược phát triển của ngân hàng
Hoạt động kinh doanh để phát triển tốt và hiệu quả các ngân hàng cần xây dựng
SV: Đặng Xuân Diệu Lớp: Tài chính doanh nghiệp 51C
-19-