1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN HOÀNG NGUYÊN LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH NHỰA
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP
THUỘC HIỆP HỘI NHỰA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014 3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 12
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 12
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 12
4. Phạm vi nghiên cứu 12
5. Câu hỏi nghiên cứu 13
6. Giả thuyết nghiên cứu 13
7. Mẫu khảo sát 13
8. Phương pháp nghiên cứu 13
9. Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG 1. ……………………………………………………………………….15
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 15
1.1. Khái niệm khoa học và công nghệ 15
1.1.1. Khái niệm khoa học 15
1.1.2. Khái niệm công nghệ 16
1.2. Thông tin khoa học và công nghệ 20
Kết luận chương 2 58
CHƯƠNG 3 59
MÔ HÌNH LIÊN KẾT THÔNG TIN KH&CN 59
ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC 59
DOANH NGHIỆP THUỘC HIỆP HỘI NHỰA TP HỒ CHÍ MINH 59
3.1. Sự cần thiết xây dựng mô hình liên kết thông tin KH&CN trong ngành nhựa
59
3.1.1. Sự cần thiết xây dựng mô hình liên kết thông tin KH&CN trong ngành
nhựa Việt Nam 59
3.1.2. Sự cần thiết xây dựng mô hình liên kết thông tin KH&CN trong các
doanh nghiệp nhựa thuộc Hiệp hội Nhựa TP Hồ Chí Minh 66
3.1.3. Đề xuất đổi mới liên kết thông tin KH&CN của các doanh nghiệp 68
3.2. Cấu trúc tổ chức của mô hình liên kết thông tin khoa học và công nghệ 71
3.2.1. Nguyên tắc tổ chức theo mô hình cây mục tiêu 71
3.2.2. Mối quan hệ giữa Trung tâm Thông tin KH&CN với các Chi hội trong việc
liên kết thông tin 73
3.3. Phương thức hoạt động của mô hình liên kết thông tin khoa học và công nghệ 73
3.3.1. Tiếp nhận thông tin khoa học và công nghệ 73
3.3.2. Lưu trữ thông tin khoa học và công nghệ 74
3.3.3. Kiểm nghiệm nguồn thông tin khoa học và công nghệ 76
3.3.4. Xử lý thông tin khoa học và công nghệ 78
3.3.5. Sử dụng thông tin khoa học và công nghệ 79
3.3.6. Kiểm tra phản hồi thông tin khoa học và công nghệ 80
3.4. Đánh giá tác động của mô hình liên kết thông tin khoa học và công nghệ đến
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 82
3.4.1. Đánh giá chung 82
3.4.2. Đánh giá tác động dương tính đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp 83
3.4.3. Đánh giá tác động âm tính đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 85
Kết luận Chương 3 86
Trung chiếm 5%).
Theo thống kê năm 2011, giá trị tổng sản lượng ngành nhựa Việt Nam
đạt 3.290.000 tấn tương đương 4.593 tỷ USD, tăng 10 lần so với năm 1996.
Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa đạt trên 2,2 tỉ USD. Trong
đó, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ nhựa đạt trên 1,8 tỷ USD, tăng
13,3% so với năm 2012; kim ngạch xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu đạt hơn
407 triệu USD, tăng 25% về lượng và 57% về kim ngạch so với năm trước
11
.
Với tốc độ phát triển 12%/năm, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là ngành
công nghiệp có tốc độ phát triển mạnh và là ngành công nghiệp hỗ trợ quan
trọng cho các ngành công nghiệp khác của Việt Nam như điện, điện tử, điện
tiêu dùng, ôtô, xe máy, chế biến thục phẩm, công nghệ phẩm… Một số
chuyên ngành kỹ thuật mũi nhọn cạnh tranh quốc tế chiếm ưu thế như: cáp
quang, bao bì cao cấp ( màng ghép phức hợp BOPP; chai 4 lớp; chai PET …);
vi mạch điện từ bằng PP dẫn điện; Panel pin mặt trời; nhựa nano …
Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam
trong sản xuất kinh doanh hàng nhựa cao cấp trên bình diện quốc tế đang bị
đánh giá là chưa cao.“Hiện nay, đa số các doanh nghiệp Việt Nam đang sử
dụng công nghệ lạc hậu khoảng từ 2 đến 3 thế hệ so với mức trung bình của
thế giới. Máy móc, thiết bị đang sử dụng ở các doanh nghiệp chỉ có 10% hiện
đại, 38% trung bình, 52% là lạc hậu; tỉ lệ sử dụng công nghệ cao mới chỉ có
1
Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ 7
2% (tỉ lệ này ở Thái Lan là 31%, Malaysia là 51%, Singapore là 73%). Do
đó, trong thời gian tới các doanh nghiệp cần phải tăng cường ứng dụng
8
Bởi vậy đề tài Luận văn chuyên ngành Quản lý KH&CN Liên kết thông
tin KH&CN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
ngành nhựa (Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Nhựa
thành phố Hồ Chí Minh) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Hiệp hội Nhựa thành
phố Hồ Chí Minh là một tổ chức ngành nghề gắn bó chặt chẽ với các quyền
lợi của các doanh nghiệp ngành nhựa hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh.
Với vai trò lãnh đạo, kết nối các doanh nghiệp nhựa trong một tổ chức thống
nhất, Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh phải có trách nhiệm giúp đỡ các
hội viên của mình không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của họ trên
thương trường. Để hoàn thành nhiệm vụ này, việc liên kết thông tin KH&CN
nhất thiết phải sớm được thực hiện và là một tiêu chí quan trọng trong các
hoạt động của Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Điểm lại các công trình nghiên cứu, chuyên luận về KH&CN và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp và doanh nghiệp nhựa Việt Nam, có thể kể
đến những tác phẩm tiêu biểu sau:
Báo cáo năng lực cạnh tranh của Việt Nam 2010 (Vietnam Competitive
Report 2010), ban hành ngày 30/11/2010, do Viện Quản lý Kinh tế Trung
ương (CIEM) và Học viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á của Singapore (ACI)
dưới sự cố vấn của giáo sư Michael E.Porter, phối hợp xây dựng đã đề cập về
nhóm chỉ tiêu thứ ba đánh giá điểm mạnh và yếu của Việt Nam trong một loạt
các yếu tố nền tảng vĩ mô và vi mô của năng lực cạnh tranh, những yếu tố
quyết định nên các kết quả kinh tế. Các chỉ tiêu này bao gồm từ đánh giá chất
lượng điều hành, cung cấp các dịch vụ công, sự bền vững tài khoá cho tới sự
tinh thông của doanh nghiệp, sự năng động của các cụm ngành, chất lượng
của hạ tầng cơ sở hay mức độ cạnh tranh trong nước, v.v.
Đề cập đến việc công nghệ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh,Vũ Cao
Đàm
nhất trên thế giới, chiếm lĩnh hầu hết thị trường trong nước và từng bước đẩy
mạnh xuất khẩu. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với ngành nhựa Việt Nam
hiện nay là năng lực thực tế còn thấp so với ngành nhựa của các nước trên
thế giới và trong khu vực. Nguyên liệu nhập khẩu đến 85%, thiết bị, khuôn
mẫu phần lớn phải nhập khẩu từ nước ngoài, nhân lực kỹ thuật và công nhân
lành nghề còn thiếu. Đặc biệt, việc ứng dụng KH&CN trong sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế”
4
.
Trong cuốn tổng quan khoa học Nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, (Viện
3
Nguồn:
4
Nguồn
:
10
Quản lý Kinh tế, Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Hữu Thắng, NXB Chính trị
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2006, tr.9), các tác giả nhận định: “Trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN theo xu hướng mở cửa kinh tế
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cạnh tranh trong nước và quốc
tế càng trỏ nên gay gắt, yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế đặt ra rất bức xúc: làm thế nào và
bằng cách nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt
Nam, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế?”
5
7
Đề tài cấp bộ: Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức hoạt động KH&CN trong các doanh nghiệp thuộc các
lĩnh vực công nghiệp chủ lực tại các tỉnh phía Nam, bản thuyết minh, phát hành tháng 11 năm 2010, tr.9 11
PGS.TS Vũ Văn Khiêm xác định: “Khi doanh nghiệp đã lựa chọn một
chiến lược cạnh tranh để theo đuổi thì toàn bộ các chức năng, các định
hướng và các chính sách của doanh nghiệp phải nhằm mục đích là sử dụng
tối đa nguồn lực để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho nó. Công nghệ đóng một vai
trò rất quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nếu
doanh nghiệp lựa chọn và sử dụng một công nghệ phù hợp thì nó sẽ là một vũ
khí rất lợi hại và hiệu quả trong cạnh tranh, ngược lại nếu sử dụng một công
nghệ không phù hợp thì nhìn chung doanh nghiệp sẽ thất bại trong cạnh tranh
mặc dầu các hoạt động chức năng khác có thể rất tốt”
8
Các tác giả thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp,
Bộ Công thương đã đưa ra đề xuất:
”Giải pháp về nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ:
- Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp nhựa đầu tư nghiên cứu
khoa học và áp dụng công nghệ tiên tiến của các nước phát triển, nhận
chuyển giao công nghệ của các công ty hàng đầu thế giới. Chi phí nghiên cứu
khoa học tính vào giá thành sản phẩm.
- Nhà nước khuyến khích các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công
nghệ nhựa chất lượng cao, chất phụ gia cho ngành nhựa, các nguyên liệu
nhựa trong nước còn chưa sản xuất được.”
9
Các tác phẩm khoa học có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của Luận
ngành nhựa;
- Khảo sát thực tiễn có liên quan đến liên kết thông tin KH&CN nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa thuộc Hiệp
hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh;
- Đề xuất phương hướng chung và các giải pháp cụ thể nhằm hình
thành và củng cố mối liên kết thông tin KH&CN để nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng liên kết thông tin KH&CN của các doanh nghiệp thuộc
Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện tại các doanh nghiệp
thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian: 2009-2013 13
5. Câu hỏi nghiên cứu
Cần xây dựng cấu trúc và hoạt động mô hình liên kết thông tin
KH&CN như thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
ngành nhựa thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố Hồ Chí Minh?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng mô hình liên kết thông tin KH&CN để nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành nhựa thuộc Hiệp hội Nhựa thành phố
Hồ Chí Minh, theo hướng:
- Về cấu trúc tổ chức: theo mô hình cây mục tiêu;
- Về phương thức hoạt động: chia sẻ thông tin KH&CN theo quy trình thu
nhận, lưu trữ, kiểm nghiệm nguồn, xử lý, sử dụng, kiểm tra phản hồi.
7. Mẫu khảo sát
Khảo sát thực trạng tiếp nhận, kiểm nghiệm và sử dụng thông tin
KH&CN của các doanh nghiệp nhựa và vai trò liên kết thông tin KH&CN đối
dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
- CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
- CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC HIỆP HỘI
NHỰA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI CƠ CHẾ LIÊN KẾT THÔNG TIN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC HIỆP HỘI NHỰA THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH 15
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm khoa học và công nghệ
1.1.1. Khái niệm khoa học
Khoa học có thể được định nghĩa theo nhiều cách tiếp cận tùy thuộc
mục đích sử dụng. Với tư cách là một đối tượng của quản lý KH&CN, khái
niệm khoa học có thể định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau:
- Khoa học là một hệ thống tri thức
Khoa học được hiểu là “hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật tự nhiên của xã hội, tư duy”
10
. Theo
Vũ Cao Đàm, hệ thống trí thức được nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học.
Khoa học trong trường hợp này được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri
thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy từ trong hoạt động
Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách
quan
Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phương tiện cải tạo thế giới
khách quan
Định nghĩa của tác giả Luận văn:
Từ những phân tích vừa nêu về khái niệm khoa học, Luận văn định
nghĩa: Khoa học là một hệ thống những tri thức được tích lũy và bồi đắp qua
suốt quá trình phát triển của nhân loại, phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu và phát
triển thế giới, đồng thời khoa học là một hình thái ý thức xã hội và là một
hoạt động xã hội, để nhấn mạnh hoạt động quản lý khoa học và hoạt động
nghiên cứu khoa học.
1.1.2. Khái niệm công nghệ
Có một số định nghĩa về công nghệ, theo Trần Ngọc Ca sưu tầm
11
như
sau:
Theo quan điểm cổ điển nhất, công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các
thao tác của quá trình chế biến và/hoặc thông tin.
11
Nguyễn Võ Hưng - chủ biên (2003), Công nghệ và Phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, NXB
Khoa học và Kỹ thuật. 17
Baranson, J. và Harrington, A. (1977)
,
xem “Công nghệ là tập hợp các
kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất
ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”.
World Economy, 1: 81–92 18
các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành
động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó
mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và
đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định”.
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) cho rằng
“Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng
các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp”.
Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) xem
“Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất
và thông tin”.
Trần Ngọc Ca đã đưa ra khái niệm về công nghệ như sau: “Công nghệ
có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương
pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người,
ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần
cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng
vào mội trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”.
Luật KH&CN của Việt Nam, năm 2013 đã đưa ra định nghĩa “Công
nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,
phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 xác định:“Công nghệ là giải
pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương
tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Vũ Cao Đàm
13
đã đưa ra một số định nghĩa về “Công nghệ”, dựa trên
các cách tiếp cận khác nhau:
nghệ, đặc biệt là trong nền khoa học hiện đại, khoa học đã vượt lên phía
trước, mang tính dự báo, vạch đường cho công nghệ ra đời và phát triển.
- Tri thức khoa học được tổng kết và khái quát hóa từ tri thức công nghệ.
Đây là chiều hướng quan hệ giữa KH&CN từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước,
trong đó khoa học nhận dạng và giải thích những ứng dụng đã tồn tại trong
công nghệ và phát triển các nguyên lý đó để công nghệ tiến những bước xa
hơn.
- Tri thức khoa học phát triển đi trước tri thức công nghệ, mở đường cho
những ứng dụng mới trong công nghệ, dự báo xu thế phát triển của công
nghệ.
Định nghĩa 4: 20
Trong nhiều bài viết về công nghệ ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu
Việt Nam thích sử dụng khái niệm công nghệ của Nawar Sharif, trong đó xem
“Công nghệ gồm 4 thành tố (components): phần kỹ thuật (technoware), phần
thông tin (infoware), phần con người (humanware) và phần tổ chức
(orgaware).
Phần kỹ thuật bao gồm máy móc, phương tiện, thiết bị, hệ thống hạ tầng
kỹ thuật, như hệ thống cung cấp năng lượng, nguyên liệu, cung cấp nước,
thông gió, chiếu sáng, và các phương tiện dịch vụ kỹ thuật cho sản xuất, v.v…
Phần thông tin bao gồm tri thức kỹ thuật, các bản mô tả quy trình, bí
quyết, kinh nghiệm, kỹ năng, v.v…
Phần con người bao gồm nhân lực, kiến thức, sự thuần thục.
Phần tổ chức bao gồm cách sắp đặt hệ thống thiết bị, sắp xếp cơ cấu
nhân lực, bố trí mạng lưới truyền thông điều hành sản xuất và dịch vụ kỹ
thuật, v.v…
Một số nhà nghiên cứu có ý định sử dụng khái niệm gồm 4 thành tố này
để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá công nghệ, nhưng cho đến nay chưa thử
đa dạng hơn. Nếu biết nắm bắt, sử dụng tốt đặc điểm này, thông tin sẽ là ưu
thế rất lớn cho con người trong cuộc sống, lao động và các hoạt động cạnh
tranh đang ngày càng trở nên khốc liệt trên mọi bình diện.
Những thông tin liên quan và hàm chứa những chi tiết, khía cạnh
KH&CN được gọi chung là thông tin KH&CN. Sau khi tiếp nhận thông tin
KH&CN, nhà quản lý có các biện pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông
tin ( qua bộ phận R&D ). Nhà quản lý đưa ra quyết định áp dụng thành tựu
KH&CN ( được truyền tải qua nguồn thông tin ) đã được xử lý một cách có
chọn lọc vào doanh nghiệp để góp phần cải thiện năng suất, tối đa hóa chất
lượng sản phẩm và qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
mình.
Tại Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà quản lý
KH&CN đánh giá cao thông tin KH&CN với vai trò quan trọng của nó trong
việc hỗ trợ, định hướng đầu tư, nâng cấp hoạt động sản xuất kinh doanh cũng
như tăng cường năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nước nhà. Nhiều
chính sách, ưu đãi, kế hoạch thiết thực được các nhà quản lý vĩ mô đưa ra
nhằm mục đích này. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 11/2014/NĐ-CP, ngày 18 tháng 2 năm 2014, về hoạt động thông tin
KH&CN với các nội dung về hoạt động, hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu
quốc gia về KH&CN, các biện pháp đảm bảo phát triển, tổ chức và quản lý
nhà nước về hoạt động thông tin KH&CN. 22
Đối tượng áp dụng của Nghị định này là tổ chức, cá nhân hoạt động
thông tin KH&CN tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có
liên quan.
Các loại hình hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: Thu thập, cập nhật
và xử lý các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và phát triển
nguồn tin KH&CN; nghiên cứu và phân tích tổng hợp thông tin KH&CN
nhiều còn mang tính manh mún, lẻ tẻ, thiếu tập trung. Việc liên kết thông tin
KH&CN, vì vậy, rất cần thiết cho các doanh nghiệp. Thông tin KH&CN phải
được liên kết từ nhiều nguồn tổ chức, cá nhân hoạt động thông tin KH&CN
tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có liên quan và thông
qua những tổ chức có uy tín khoa học xác minh và chấp thuận.
Theo khái niệm về thông tin đã nêu trên, quan điểm của Luận văn là:
“Liên kết thông tin KH&CN là sự kết nối thông tin KH&CN từ nhiều nguồn
được tổ chức KH&CN xác minh, chấp thuận và được chia sẻ với các tổ chức,
cá nhân có cùng chung mực đích, tiêu chí hoạt động KH&CN”
Khái niệm liên kết thông tin KH&CN giữa các doanh nghiệp còn mới
mẻ. Những người đa nghi sẽ đặt câu hỏi: “Trong nền kinh tế thị trường đầy
tính cạnh tranh, liệu các doanh nghiệp có sẵn sàng liên kết, chia sẻ thông tin
KH&CN cho các đối thủ cạnh tranh của mình như một cách nâng cao năng
lực cạnh tranh của đối thủ hay không?”. Câu trả lời ở đây là: “Xét trên bình
diện cạnh tranh quốc gia, bản thân các doanh nghiệp ngoài việc tăng cường
năng lực cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp mình còn phải có ý thức giúp
đỡ các doanh nghiệp cùng quốc tịch và ngành nghề nâng cao năng lực cạnh
tranh của nhóm doanh nghiệp mà mình tham gia với tư cách thành viên, góp
phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế”.
Có thể nói đây là sự đoàn kết của các doanh nghiệp cùng một quốc gia,
rộng ra là hoạt động phục vụ thương mại mang tinh thần dân tộc, nâng cao
năng lực cạnh tranh không chỉ của một doanh nghiệp riêng rẽ mà của cả một
hệ thống doanh nghiệp cùng ngành nghề và của cả quốc gia trong khu vực
ngành nghề đó. Có thể thấy những hành động tương tự trước đây ở những
quốc gia có nền kinh tế phát triển vượt bậc từ tro tàn của chiến tranh thành
những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Hàn 24
Quốc…hay những quốc gia đã phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ. Sự đoàn kết
14
Nguyễn Hữu Thắng (2011), Tài liệu đã dẫn, tr.30 25
những kiến thức KH&CN kèm theo những ứng dụng hiệu quả thành tựu
KH&CN vào quá trình quản trị sản xuất và kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Trong cùng một định hướng ngành nghề, với cùng một hội đoàn, các doanh
nghiệp có thể có những liên kết chặt chẽ với nhau trong việc trao đổi, truyền
bá những thông tin KH&CN bổ ích, có tính thiết thực cho các doanh nghiệp
bạn. Trên cơ sở đó có những áp dụng hiệu quả để cùng nâng cao năng lực
cạnh tranh của mình trên thương trường, đặc biệt trong cạnh tranh quốc tế.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của một vài doanh nghiệp của quốc gia trong
nền kinh tế thị trường là chưa đủ. Liên kết thông tin KH&CN trong một nhóm
doanh nghiệp (cùng ngành nghề) sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của cả
nhóm doanh nghiệp lên một cách đáng kể, qua đó góp phần nâng cao năng lực
cạnh tranh của cả quốc gia trong nhóm ngành nghề sản xuất, dịch vụ đó.
Xét trên bình diện ngành nhựa nói chung cũng như Hiệp hội Nhựa
thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, mối liên kết thông thường giữa các doanh
nghiệp vốn vẫn gắn bó một cách hữu cơ với nhau. Ví dụ: Doanh nghiệp A sản
xuất nguyên liệu Polyethylene (PE), doanh nghiệp B mua sản phẩm đầu ra
(hạt nhựa PE) của doanh nghiệp A để sản xuất bao bì, cả hai doanh nghiệp A
và B đều sử dụng khuôn mẫu và máy móc được sản xuất và cung cấp bởi
doanh nghiệp C. Máy móc, khuôn mẫu của doanh nghiệp C phải sử dụng bao
bì đóng gói của doanh nghiệp B… Sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp này
chính là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp kia. Những mối quan hệ như
thế được hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở quyền lợi chính đáng của
các doanh nghiệp và tồn tại rất phổ biến trong ngành nhựa như một sự liên kết
tự nhiên. Sự liên kết này nếu được quan tâm, thúc đẩy sẽ biến hoạt động đơn