Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực sự hòa nhập vào nền kinh tế thế
giới bằng việc trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương
mại thế giới WTO, vị thế của nước ta tiếp tục được khẳng định, nâng cao trên
trường quốc tế. Điều này đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Việt
Nam. Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ buộc chúng ta phải nỗ lực
hết mình để có thể vượt qua những khó khăn trong bước đầu hội nhập. Chính
trong thời điểm này, thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của nền kinh tế toàn cầu
nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng đòi hỏi tất cả các doanh
nghiệp, các thành phần kinh tế đều phải có những kế hoạch, định hướng phát
triển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. Cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, hoạt động đầu tư đặc biệt được quan tâm.
Hiện nay, để phát triển các doanh nghiệp đã và đang tiến hành rất nhiều
dự án đầu tư. Tuy nhiên, các dự án đầu tư thường đòi hỏi vốn lớn và thời gian
thực hiện lâu dài nên hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành đầu tư thực hiện
các dự án đều không thể tự tài trợ toàn bộ vốn cho một dự án. Một trong
những biện pháp quan trọng là đi vay vốn tại các ngân hàng.
Khi nền kinh tế phát triển thì vai trò của các ngân hàng thương mại là
rất quan trọng trong việc việc đảm bảo cho hoạt động lưu thông tiền tệ được
thông suốt, đáp ứng kịp thời yêu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và cho
hoạt động đầu tư nói riêng. Đối với ngân hàng thương mại, nghiệp vụ mang
lại lợi nhuận chủ yếu là hoạt động cho vay. Phương châm hoạt động của các
ngân hàng là an toàn – chất lượng – hiệu quả và tăng trưởng bền vững. Nhưng
một đặc trưng của các dự án đầu tư là luôn chứa đựng các yếu tố rủi ro. Khi
rủi ro xảy ra, không chỉ dự án bị ảnh hưởng mà ngân hàng và xã hội cũng sẽ
gặp nhiều tổn thất.
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trước thực tế đó, để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và đảm
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO
1.1. Rủi ro đối với các dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có đặc trưng là:
- Có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan
cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước.
- Môi trường hoạt động của dự án là: “va chạm”, có sự tương tác
phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ
phận quản lý khác.
- Dự án có tính chất bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tính
chất dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển.
Những đặc trưng trên cho thấy hoạt động đầu tư vào các dự án luôn
chứa đựng rất nhiều rủi ro ở tất cả các giai đoạn của dự án là pha lập dự án
(rủi ro bên trong và rủi ro bên ngoài), pha thực hiện đầu tư, pha vạn hành khai
thác dự án.
Một dự án đầu tư có thể gặp những rủi ro sau:
Một dự án đầu tư có thể gặp rất nhiều rủi ro khác nhau. Nhưng nhìn
chung, có thể liệt kê một số vấn đề sau :
- Thời gian thực hiện dự án lâu hơn dự kiến ( do chậm giải phóng
mặt bằng, do không huy động đủ vốn, do mua thiết bị không đúng chủng loại,
tiến độ đấu thầu bị kéo dài…)
- Xảy ra khó khăn không lường trước ( Ví dụ: Dịch cúm vi rút
H5N1 xảy ra làm khách du lịch đến Việt Nam giảm đáng kể. Rất nhiều
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chương trình làm việc của các doanh nghiệp bị phá vỡ do đối tác nước ngoài
không đến, các dự án hoạt động khó khăn).
- Xảy ra các sự kiện bất ngờ ( Một trận hỏa hoạn đã xảy ra và làm
cháy một thiết bị quan trọng và khó kiếm. Do đó tất cả các hoạt động của dự
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả
đầy đủ vốn và lãi.”
Rủi ro tín dụng gắn với hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, có
quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại đó là hoạt động tín dụng. Khi
thực hiện một hoạt động tài trợ cho các dự án đầu tư, ngân hàng luôn cố gắng
phân tích các yếu tố của người vay, của dự án sao cho độ an toàn cao nhất. Và
nhìn chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên,
không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác tất
cả các vấn đề có thể xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể
bị thay đổi do nhiều nguyên nhân. Một số nhóm nguyên nhân có thể đưa ra ở
đây là :
1.2.2. Các nguyên nhân rủi ro tín dụng:
1.2.2.1. Những nguyên nhân từ các nhân tố vĩ mô:
* Môi trường chính trị: rủi ro này bao gồm các bất ổn tài chính và
bất ổn chính trị.
Có thể liệt kê một số rủi ro chính trị chính sau đây:
- Rủi ro thuế: Sự thay đổi về thuế đã làm cho dòng tiền hàng năm
của dự án bị thay đổi từ đó NPV và IRR của các dự án bị thay đổi theo, nguồn
trả nợ của dự án từ đó cũng bị ảnh hưởng.
- Hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác làm
giảm sản lượng hoặc tăng chi phí của các dự án. Ví dụ: thuế nhập khẩu thép
tăng lên làm tăng chi phí nguyên vật liệu cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng của
dự án.
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chính sách tuyển dụng lao động: những thay đổi về quản lý và
tuyển dụng lao động như thay đổi quy định về mức lương tối thiểu, chính sách
với lao động nữ, hạn chế lao động nước ngoài … đều ảnh hưởng tới hiệu quả
của dự án đầu tư cũng như năng trả nợ của dự án.
Môi trường và xã hội là nhân tố lớn ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng. Môi
trường bao gồm những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nhưng không bị chi
phối bởi người ra quyết định. Những rủi ro do môi trường và xã hội gây ra
như: Rủi ro về những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và
người dân xung quanh, dẫn đến dự án phải tốn nhiều chi phí hơn cho việc xử
lý chất thải, thậm chí dự án có thể bị dừng hoạt động. Rủi ro có thể xảy ra khi
thị hiếu của xã hội thay đổi. Ví dụ như: do dân trí nâng cao, người dân nhận
thấy rằng các thức ăn công nghiệp thực sự không tốt cho sức khỏe, họ chuyển
sang dùng những thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên. Do vậy, những thực
phẩm đóng hộp và những thực phẩm như gà công nghiệp, cá nuôi đều bị giảm
nhu cầu, giá bán hạ, những dự án sản xuất những mặt hàng trên trở nên thua
lỗ. Rủi ro cũng có thể xảy ra khi đạo đức của xã hội thay đổi.
* Nguyên nhân bất khả kháng: Ngoài các nguyên nhân khách quan
trên, rủi ro tín dụng còn chịu tác động của các nhân tố khác như: thiên tai,
chiến tranh, địch họa… Những nhân tố này vượt quá tầm kiểm soát của
người vay lẫn người cho vay. Những nhân tố này có thể xảy ra bất ngờ, tác
động tới người vay, tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Nhiều
người vay với bản lĩnh của mình có khả năng dự báo, thích ứng hoặc khắc
phục những khó khăn. Trong những trường hợp khác, dự án có thể bị tổn
thất song vẫn đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn, đủ gốc và lãi.
Tuy nhiên, khi các tác động của các nguyên nhân bất khả kháng đối với dự
án là nặng nề thì khả năng trả nợ của dự án ít nhiều bị suy giảm. Ví dụ: một
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trận động đất lớn xảy ra làm phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất của một nhà
máy.
1.2.2.2. Nguyên nhân từ phía dự án.
Nguyên nhân từ phía dự án đầu tư cho vay là một trong những nguyên
nhân chính, điển hình gây ra rủi ro tín dụng. Theo thống kê cho thấy, khả
dựng dự án thì giá nguyên vật liêu thép tăng lên 16 triệu đồng/1tấn. Tất cả
những rủi ro do dự đoán không chính xác về nguồn cung cấp đầu vào trên đều
gây khó khăn tới việc vận hành dự án cũng như thanh toán các khoản nợ.
- Rủi ro về kỹ thuật và vận hành: Khi các tiện ích ( dây chuyền,
thiết bị, hệ thống điều hành…) của dự án không thể vận hành và bảo dưỡng ở
mức độ phù hợp với thiết kế ban đầu. Ví dụ: Một công nghệ đặc biệt của dự
án được nhập về từ châu Âu, nơi có khí hậu lạnh và khô, khi về tới Việt Nam
do khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm cao nên các thông số ban đầu cảu công
nghệ đã bị thay đổi, không thể vận hành như ở nơi nhập công nghệ. Rủi ro
trên sẽ dẫn đến dự án phải tốn thêm chi phí để bảo dưỡng hoặc điều chỉnh lại
công nghệ cho phù hợp với điều kiện ở Việt Nam, thậm chí có thể dẫn tới bỏ
hoàn toàn công nghệ. Điều đó sẽ có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng trả nợ
của dự án.
* Khách hàng cố tình không tuân thủ các điều kiện trong hoạt động
vay vốn, cố tình lừa đảo ngân hàng.
Không ít khách hàng để đạt được mục tiêu vay vốn của mình đã tìm
mọi cách để đối phó với ngân hàng như cung cấp thông tin không chính xác,
giả tạo hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo, mua chuộc cán bộ tín dụng nhằm
vay vốn ngân hàng. Nhiều chủ đầu tư còn lập dự án ảo để vay vốn của ngân
hàng sau đó sử dụng số tiền vay vốn đó vào mục đích khác. Thậm chí, nhiều
dự án kinh doanh có lãi song không chịu trả nợ ngân hàng đúng hạn, chây ỳ
với kỳ vọng quỵt nợ hoặc có thể sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt. Đây là
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trường hợp tồi tệ nhất trong các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín
dụng, nó biểu hiện một hành động có chủ ý xấu của người vay đã được tính
toán, chuẩn bị từ trước nhằm chiếm đoạt tiền vay, loại nguyên nhân này được
coi là rủi ro về tư cách đạo đức của người vay.
Rủi ro từ phía dự án cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và là chủ yếu
khách hàng có quan hệ vay nợ tại các tổ chức tín dụng trở nên khó khăn.
Chính vì vậy, ngân hàng rất khó giám sát khách hàng về việc họ có sử dụng
khoản vay đúng mục đích hay không vì chưa có thông tin đầy đủ. Nếu thiếu
một trong các yêu cầu đó thì ngân hàng sẽ không thể có được những quyết
định phù hợp, có thể dẫn đến việc ngân hàng sẽ rót vốn vào những nơi thiếu
tin cậy.
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ còn yếu kém, lỏng lẻo. Nhiều ngân
hàng còn chưa quan tâm đến hướng dẫn quy trình nghiệp vụ, chỉ đạo quy
trình chưa nghiêm túc, kém hiệu lực, thậm chí có những sai phạm.
Thứ ba, sự yếu kém về trình độ nghiệp vụ cũng như tư cách đạo đức
của cán bộ tín dụng ngân hàng. Điều này được thể hiện:
Cán bộ tín dụng yếu kém về trình độ, năng lực, nghiệp vụ, không có
khả năng phân tích, thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác do
công tác thông tin vừa yếu, vừa thiếu. Ngân hàng không có đủ các số liệu
thống kê, các chỉ tiêu phân tích dẫn đến việc xác định sai hiệu quả của dự án,
thời hạn cho vay, thời hạn trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh.
Việc cán bộ tín dụng thiếu năng lực còn dẫn đến tình trạng không phát hiện
được những sai sót về mặt pháp lý trong hồ sơ xin vay của khách hàng, hay
định giá tài sản đảm bảo không hợp lý có thể gây ra những tổn thất cho ngân
hàng khi khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố tình gán tài sản đó cho
ngân hàng. Sự yếu kém và lơi lỏng của cán bộ tín dụng trong quá trình giám
sát việc thực hiện các khoản vay cũng là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đến việc không phát hiện kịp thời hiện tượng vốn vay không được sử dụng
đúng mục đích hoặc hành vi lừa đảo của khách hàng.
Bên cạnh vấn đề là thiếu và yếu năng lực, đôi khi một bộ phận cán bộ
ngân hàng yếu kém về tư cách đạo đức đã lợi dụng vị trí công tác để trục lợi,
tham ô, nhaanh hối lộ, cố tình cho vay sai nguyên tắc. Các cán bộ tín dụng
cách nhận ra chúng một cách có hệ thống. Sau khi khoản vay phát sinh và
được phân loại, cán bộ tín dụng luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để
nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:
1.2.3.1. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng.
- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với ngân hàng trong
quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình
hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự
giải thích minh bạch, thuyết phục.
- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp
luật trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu
mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục.
- Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ.
- Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng các tài
khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số
dấu hiệu quan trọng như:
+ Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối.
+ Khó khăn trong thanh toán lương.
+ Sự giao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài
khoản tiền gửi.
+ Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản.
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều
nguồn khác nhau .
+ Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí.
+ Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng
thanh toán nợ khi đến hạn…
- Các hoạt động cho vay:
kinh doanh của dự án đầu tư và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt
chẽ, sâu sát của cán bộ tín dụng. Nó cũng đòi hỏi các giải pháp và chiến lược
xử lý có tính dài hạn hơn. Biểu hiện cụ thể:
- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với
mức dự kiến ban đầu khi lập dự án.
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay
mức độ hoạt động của dự án.
- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý như sự
gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi
phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng hiện đại, phương tiện giao thông
đắt tiền…
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu tổ chức của hệ thống quản trị
hoặc ban điều hành.
- Xuất hiện bất đồng và mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh
chấp trong quá trình quản lý.
- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai
dẫn đến việc đầu tư dự án không hiệu quả.
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động
nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi.
- Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ.
- Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những
người quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên gia đình chưa được đào
tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương vị trí then chốt.
- Đối với khách hàng là tư nhân cá thể, có dấu hiệu của người vay
bị bệnh kéo dài hoặc chết.
1.2.3.3. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh.
- Xuất hiện dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng từ bỏ các
- Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời gian thanh toán của các con
nợ được kéo dài.
- Hoạt động lỗ.
- Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ.
- Không hạch toán đúng tài sản cố định.,
- Làm đẹp bản cân đối bằng cách tạo ra những tài sản vô hình.
- Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng.
- Tăng giá trị quá cao thông qua việc tính lại tài sản.
- Phân bố nợ không thích hợp.
- Lệ thuộc vào sản phẩm bất thường để tạo ra lợi nhuận.
Trong tất cả các dấu hiệu đó, dấu hiệu rõ ràng và có ý nghĩa nhất là
chậm thanh toán các khoản vay và các khoản phải trả khác.
1.3. Quản lý rủi ro các dự án đầu tư tại ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là quan trọng nhất trong ngân hàng thương mại, bao
gồm 2 mặt: Sinh lời và rủi ro. Phần lớn các thua lỗ của các ngân hàng là từ
hoạt động tín dụng. Song ở đây không có cách nào để loại trừ rủi ro tín dụng
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoàn toàn mà phải quản lý thật cẩn thận. Đứng trước quyết định tài trợ vốn
cho các dự án, cán bộ ngân hàng phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi
ro. Vì vậy, quản lý rủi ro tín dụng (đặc biệt là đối với cho vay các dự án đầu
tư) được coi là nội dung quản lý quan trọng của ngân hàng thương mại.
Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng: “Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử
dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu
quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động
ngân hàng lâm vào tình trạng đổ vỡ.”
1.3.1. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro các dự án đầu tư.
Rủi ro đối với cho vay các dự án đầu tư là rủi ro phức tạp nhất trong
hoạt động ngân hàng. Nó có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ khi nào.
không thu hồi được như kế hoạch sẽ dẫn đến sự mất cân đối, gây ra sự suy yếu và
hạn chế cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán cho các khoản tiền ra. Nếu tình
trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng diễn ra quá nhiều lần, hay những thông
tin về rủi ro tín dụng của nội bộ ngân hàng bị rò rỉ ra bên ngoài thì uy tín của ngân
hàng bị giảm sút. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng
cũng yếu đi, do đó việc huy động tiền gửi sẽ gặp nhiều khó khăn, việc thiết lập các
giao dịch với các doanh nghiệp và các ngân hàng khác cũng sẽ không được thuận
lợi. Uy tín đối với khách hàng là một tài sản vô hình hết sức quý giá của ngân
hàng, một khi đã mất đi thì rất khó có thể lấy lại hoặc nếu có thì cũng phải tốn
nhiều tiền của cũng như thời gian.
Nếu mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được thì ngân hàng
có thể bù đắp bằng các quỹ dự phòng rủi ro hoặc vốn tự có, còn nếu rủi ro xảy
ra ở mức độ nghiêm trọng thì sự bù đắp của các quỹ dự phòng cũng không
thay đổi được tình hình. Thu nhập không thể bù đắp được chi phí, các dòng
tiền vào không thể cân đối với dòng tiền ra, khả năng thanh toán của ngân
hàng bị giảm sút dẫn đến rủi ro thanh toán, thậm chí gây phá sản nếu không
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có sự can thiệp kịp thời của Ngân hàng Nhà nước. VD: ngân hàng Đông Nam
Á năm 2001.
Như vậy, rủi ro khi cho vay các dự án đầu tư xảy ra dù ở mức độ nào
cũng gây ảnh hưởng tới sự phát triển của ngân hàng nói riêng và sự tăng
trưởng của nền kinh tế nói chung. Vì vậy, quản lý rủi ro khi cho các dự án đầu
tư vay vốn không chỉ là trách nhiệm riêng của ngân hàng mà là của toàn nền
kinh tế. thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro phù hợp sẽ làm giảm tổn thất
cho ngân hàng cũng như nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài chính ngân
hàng, tăng cường sức cạnh tranh, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng.
1.3.2. Nội dung quản lý rủi ro.
Quy trình quản lý rủi ro chung:
Tìm hiểu, đo lường và phân tích là những bước tiếp theo sau khi đã
phát hiện được dự án đầu tư có những nguy cơ rủi ro để đánh giá rủi ro. Trên
thực tế những bước này có liên kết khá chặt chẽ với nhau và thường được gộp
chung lại. Mục tiêu của các bước này là giúp cho bộ máy quản trị rủi ro hiểu
chính xác và nhất quán nguy cơ rủi ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân
của rủi ro và quan trọng nhất là lượng hóa được mức độ rủi ro có thể xảy ra
cho ngân hàng.
Để xác định mức độ rủi ro của một dự án đầu tư, có thể áp dụng một số
mô hình cụ thể đánh giá rủi ro.
* Mô hình chất lượng 6C:
- Character ( tư cách chủ đầu tư):
Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục
đích rõ ràng và thiện chí của chủ đầu tư trong việc đầu tư thực hiện dự án
cũng như vay nợ ngân hàng.
Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích thực hiện dự án cũng như mục
đích xin vay vốn của chủ đầu tư có phù hợp với chính sách pháp luật của nhà
nước cũng như chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng
thời phải xem xét về lịch sử hoạt động kinh doanh, lịch sử đi vay và trả nợ
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
của khách hàng. Ngân hàng cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
để đánh giá được chính xác. Thậm chí khi mục đích thực hiện dự án và mục
đích xin vay tốt thì cán bộ tín dụng cũng phải xem xét chủ đầu tư có tỏ thái độ
trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, có trả lời các câu hỏi một cách trung
thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để dự án hoạt động có hiệu quả và hoàn
trả khoản vay đúng hạn. Nếu phát hiện chủ đầu tư giả dối trong kế hoạch sử
dụng và trả nợ vốn vay như đã thỏa thuận thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho
vay, nếu không thì khả năng xảy ra rủi ro sẽ là rất cao.
- Capacity ( năng lực của người vay):
trị sẽ bị giảm sút rất nhiều và rất khó tìm được người mua khi công nghệ lại
thay đổi hàng ngày.
- Conditions ( các điều kiện).
Các điều kiện này bao gồm điều kiện bên trong ( chính sách tín dụng
từng thời kỳ của ngân hàng, việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương
thưởng…) và các điều kiện bên ngoài ( định hướng phát triển xã hội của Nhà
nước, chính sách thuế, tiêu chuẩn về công nghệ môi trường…)
* Mô hình điểm số Z.
Mô hình này do nhà kinh tế E.I.Altman dùng để cho điểm tín dụng đối
với các doanh nghiệp và dự án vay vốn:
Z = 1,2 X
1
+ 1,4 X
2
+ 3,3 X
3
+ 0,6 X
4
+ 1,0 X
5
Trong đó:
X
1
= Vốn lưu động / Tổng tài sản.
X
2
= Lợi nhuận chưa chia / Tổng tài sản.
X
3
các tổ chức tín dụng và trong các Nghị định của Ngân hàng Nhà nước. Các
quy định nêu rõ trường hợp cấm các ngân hàng không được tài trợ, điều kiện
ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ.
+ Xác định danh mục các dự án tài trợ với mức độ rủi ro khác nhau.
Các loại khách hàng khác nhau, các đối tượng cho vay khác nhau, các loại dự
án khác nhau … sẽ có rủi ro khác nhau.
+ Xây dựng chính sách tín dụng và quy trình phân tích tín dụng.
Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trong ngân hàng, đòi hỏi phải
có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua chính sahcs, quy tắc và kiểm soát
chung. Các chính sách tín dụng nhằm hạn chế rủi ro như: Chính sách tài sản
đảm bảo, chính sách đồng tài trợ…Quy trình phân tích tín dụng thể hiện
Nguyễn Thị Ngọc Yến Kinh tế đầu tư 47D
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
những nội dung mà cán bộ tín dụng phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế
rủi ro như phân tích tình hình sản xuất kinh doanh, thẩm định dự án vay vốn,
lịch sử của người vay, mục đích vay, kiểm soát trong khi cho vay….
+ Xác định dấu hiệu của khoản cho vay có vấn đề, giới hạn các
khoản tín dụng và đa dạng hóa.
+ Quản lý các dự án đầu tư cho vay vốn, hỗ trợ hoạt động các dự
án như cho vay thêm, gia hạn nợ, giảm lãi …
+ Quản lý nợ quá hạn, nợ khó đòi, các khoản nợ có vấn đề. Rủi ro
là tất yếu của quá trình kinh doanh. Do vậy, ngân hàng luôn xây dựng chính
sách sống chung cùng với rủi ro: Hạn chế rủi ro, chấp nhận rủi ro, khai thác
hoặc thanh lý nợ quá hạn, nợ khó đòi hoặc nợ có vấn đề.
– Tự bảo hiểm: Mua bảo hiểm tín dụng. Ngân hàng có thể mua bảo
hiểm cho các khoản cho vay của mình tại các công ty bảo hiểm để trường hợp
xấu nhất là khi xảy ra rủi ro thì người chịu rủi ro là công ty bảo hiểm chứ
không phải ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng còn yêu cầu dự án tham gia đầy
đủ các loại bảo hiểm. Đây vừa là cách để các dự án giảm thiểu rủi ro cho