BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
Lê Thu Huyền
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG sử DỤNG THUỐC
• • •
CỦA MỘT SỐ BÀ MẸ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
• • • •
( Khoá luận tốt nghiệp Dượo^sỹ khoá 2000 - 2005)
/v
u \ y
\l L ^ ' /
TS. Nguyễn Thanh Bình
Bộ môn quản lý kinh tế Dược
3/2005-5/2005
Người hướng dán
Nơi thực hiện
Thời gian thực hiện
HÀ NỘI THÁNG 6 -20 0 5
QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT
DSB
: Doanh số bán
WHO
: Tổ chức y tế thế giới
TTY
: Thuốc thiết yếu
SDK : Số đăng kí
HNDTN
: Hành nghề dược tư nhân
GMP
: Thực hành tốt sản xuất thuốc
FDA : Cục quản lí thuốc và thực phẩm
26
a.Sử dụng thuốc theo kinh nghiệm bản thân 26
b.Sử dụng thuốc theo sự mách bảo của mọi người
28
c.sử dụng thuốc qua quảng cáo, giới thiệu
trên các phương tiện truyền thông đại chúng
31
1.1.2. Sử dụng thuốc theo sự hướng dẫn tư vấn của người bán
thuốc
.
32
1.1.3. Đi khám bệnh 33
1.2. Những vấn đề quan tâm khi mua thuốc 35
1.2.1. Lựa chọn thuốc nội- thuốc ngoại
35
1.2.2. Tìm hiểu những thông tin liên quan đến việc sử
dụng thuốc
39
1.3. Cách thức sử dụng thuốc
42
1.3.1. Liều lượng sử dụng
42
1.3.2. Thời gian điều trị 44
1.3.3. Tác dụng phụ và cách xử lí 46
2. Bàn luận 48
2.1. Sử dụng thuốc trong trường hợp tự điều trị 48
corticoid dẫn đến tình trạng lạm dụng kháng sinh hay sử dụng không đúng liều
lượng, thời gian làm cho tình trạng vi khuẩn kháng lại kháng sinh ngày càng gia
tăng. Bên cạnh đó việc sử dụng vitamin một cách bừa bãi, lạm dụng các loại
thuốc ngoại, biệt dược đắt tiền cũng rất phổ biến, gây lãng phí về mặt kinh tế.
Nguyên nhân của tinh trạng này rất phức tạp, xét riêng về phía người sử
dụng, đó có thể là do những nhận thức không đầy đủ, chính xác trong quá trình
dùng thuốc, sự thiếu thông tin, trình độ dân trí hạn chế hay những ảnh hưởng của
tâm lí, thói quen tác động tới việc chăm sóc sức khoẻ nói chung và sử dụng
thuốc nói riêng.
Trước tình hình đó để tìm hiểu một cách cụ thể tác động của những yếu tố
trên tới việc sử dụng thuốc trong cộng đồng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:
“Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc của một số bà mẹ trên địa bàn Hà Nội”
nhằm hai mục tiêu :
1. Tìm hiểu hành vỉ của các bà mẹ trong việc sử dụng thuốc.
2. Phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng thuốc.
từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hướng cộng đồng tới việc sử dụng thuốc an
toàn, hợp lí trên cơ sở nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người sử dụng.
PHẦNl
TỔNG QUAN
1. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRÊN THÊ GIỚI
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, danh mục các
loại thuốc cũng được thay đổi, bổ sung thường xuyên nhằm đáp ứng tốt hơn nhu
cầu về thuốc trong tình hình bệnh tật phức tạp và đa dạng của thế giới ngày nay.
Đồng thời, giá trị sử dụng thuốc cũng tăng một cách mạnh mẽ với tỷ lệ hàng
năm khoảng 8-10%. Trong đó năm 2001 doanh số bán toàn cầu là 371,9 tỷ USD;
năm 2002 DSB đạt 400,6 tỷ USD và đến năm 2003 DSB là 466,5 tỷ USD.
Mặc dù doanh số bán ngày càng tăng cao nhưng mức tiêu thụ thuốc không
chia đều cho các khu vực mà chỉ tập trung vào các quốc gia giàu có trong đó dẫn
đầu là thị trường Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) doanh số bán đạt 229,5 tỷ USD chiếm
466,3 100%
+ 9%
Nguồn: IMS health
Tương tự như vậy, sự chênh lệch về mức tiêu thụ thuốc tính theo bình quân
đầu người giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển cũng rất lớn. Năm 1994
bình quân tiêu thụ thuốc trên đầu người của Bắc Mỹ là 312 USD, Tây Âu 177
USD trong khi đó ở Philippines là 14,04 USD, Indonesia là 4,90 USD. 10 nước
tiêu thụ thuốc nhiều nhất trên thế giới Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý, Tây Ban
Nha, Hà Lan, Bỉ, Canada chiếm tới 60% sản lượng thuốc toàn cầu [38].
Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do ngành dược ở các nước phát triển
dùng vốn phúc lợi công cộng là chủ yếu trong khi đó tại những nước đang phát
triển do những khó khăn về ngân sách nhà nước và cơ sở hạ tầng thấp kém nên
người dân không có điều kiện để có thuốc khi cần. Vì thiếu ngoại tệ và ngân
sách, một số nước phải tư nhân hoá từng bộ phận dịch vụ y tế trong đó có việc
cung ứng dược phẩm và do đó đã ảnh hưỏỉng tới các mục tiêu của y tế là đảm bảo
cho những tầng lớp nghèo khổ và khó khăn nhất có thể có thuốc và dịch vụ y tế
với giá cả có thể chấp nhận được. Trong tình hình trên, người nghèo ở thành thị
và nông thôn sử dụng thuốc rất ít so với bình quân của cả nước. Mô hình tiêu thụ
này cũng được phản ánh qua sự tập trung của các hiệu thuốc, nhà thuốc ở thành
phố.
Một cố gắng để hướng phân bố tiêu thụ thuốc cho cộng đồng nhằm vào mục
tiêu chăm sóc sức khoẻ ban đầu và những nhóm dân cư có nhiều thiệt thòi về
kinh tế là chính sách và chương trình sử dụng thuốc thiết yếu (TTY). Theo WHO
thì chỉ cần lUSD TTY có thể đảm bảo chữa khỏi tới 80% các chứng bệnh thông
thường cho người dân tại cộng đồng để thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu và
kết quả là ở những nước thực hiện chương trình TTY tuy mức tiêu thụ thuốc bình
quân còn thấp nhưng nguồn lực đã được sử dụng có hiệu quả hơn [6].
Bên cạnh những bấl cập trong việc phân bổ thuốc không đồng đều giữa các
nước phát triển và đang phát triển, tình hình sử dụng thuốc không an toàn, hợp lí
đang diễn ra rất phức tạp tại tất cả những nước này.
Không chỉ các thuốc kháng sinh bị lạm dụng mà các chế phẩm vitamin và
chất bổ dưỡng cũng đang được sử dụng bừa bãi ở các nước phát triển.
Mỗi năm hàng trăm triệu người trên thế giới sử dụng thuốc bổ với hy vọng
nâng cao sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ, chỉ riêng ở Mỹ con số này là 25% . Theo
số liệu của Cơ quan quản lí thuốc và thực phẩm Mỹ dựa trên những kết quả điều
tra chi tiết của Viện y tế (ÍOM) về thị trường thuốc bổ thì mỗi năm trên khắp
nước Mỹ có khoảng 29.000 loại sản phẩm thuốc bổ được bán ra mang lại tổng
doanh thu 18 tỷ USD. Tuy nhiên không có bất cứ con số nào cho thấy mức độ
hiệu quả cũng như độc tính của chúng. Công thức và cách dùng của nhiều loại
thuốc kể cả các phương thuốc truyền thống thường xuyên được thay đổi khiến
cho không một ai biết chắc chúng có còn được an toàn như trước nữa không [32].
Vấn đề thứ hai là tình trạng sử dụng tràn lan các loại thuốc mới trong khi
các loại thuốc đang sử dụng vẫn còn hiệu lực điều trị bệnh. Vòng đời của nhiều
loại thuốc ngày càng bị rút ngắn do bị thay thế bởi các thuốc mới đôi khi chưa rõ
tác dụng và tác hại [6]. Điển hình là mới đây sản phẩm Vioxx, một biệt dược của
roíecoxib thuộc nhóm thuốc kháng viêm phi steroid ức chế chọn lọc trên COXII
được chỉ định trong điều trị viêm khớp và các ccfn đau cấp tính của hãng dược
phẩm Merck sau một thời gian đưa vào điều trị đã được công ty ra thông báo thu
hồi trên toàn cầu. Nguyên nhân là các nhà nghiên cứu đã ghi nhận được những
nguy cơ của biến cố tim mạch và tai biến mạch máu não khi sử dụng loại thuốc
này mặc dù tác dụng phụ lên đường tiêu hoá của nó ít hơn các thuốc chống viêm
truyền thống [20].
Vấn đề thứ ba là tình trạng tiêu thụ quá mức và lãng phí thuốc. Mức tiêu
thụ thuốc trên đầu người của người dân lên tới trên 400 USD (Nhật Bản) gấp 10
lần mức bình quân của thế giới và gấp 40 lần so với các nước đang phát triển [6].
Như vậy ở các nước phát triển với trình độ dân trí cao có nhiều điều kiện để
áp dụng các biện pháp quản lí phù hợp mà việc sử dụng thuốc hợp lí, an toàn mới
chỉ chặt chẽ trong lĩnh vực giám sát việc mua bán thuốc theo đcfn hay kiểm tra
chất lượng thuốc còn ở các lĩnh vực khác vẫn tồn tại rất nhiều vấn đề nan giải. Vì
vậy, tình trạng sử dụng thuốc thiếu hợp lí ở các nuớc đang phát triển xảy ra
dạng thuốc thông thường rất rẻ, dễ mua, nay thì hầu hết chúng đều không đáp
ứng với thuốc này. Tại Hoa Kì, mỗi năm khoảng 14.000 người nhiễm khuẩn và
chết do các vi trùng kháng thuốc mắc phải ở bệnh viện. Toàn thế giới 60% các
nhiễm khuẩn bệnh viện là do các vi khuẩn kháng thuốc [4].
Tại Hội nghị quốc tế họp tại Luân Đôn, Anh ngày 16/7/1996, các nhà khoa
học đã cảng báo””thế giới đang đứng trên bờ vực của cuộc khủng hoảng sức
khoẻ cộng đồng do tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gia tăng, nhiều
bệnh nhân không còn đáp ứng với kháng sinh và chết do thuốc không có hiệu
lực”[18]. Thế giới hiện nay chỉ còn 1 hay 2 thập kỷ nữa để sử dụng tối đa những
thuốc đang có nhằm chặn đứng những bệnh nhiễm khuẩn bởi có quá ít những
thuốc mới được triển khai và thay thế các thuốc đã mất hiệu lực. Do đó không
nên chỉ dựa hoàn toàn vào việc phát minh các thuốc mới mà bỏ qua cơ hội sử
dụng một cách rộng rãi các thuốc mà ta đang có [4].
2. TÌNH HÌNH sử DỤNG THUỐC ở VIỆT NAM
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, cơ chế bao cấp trong
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cung ứng dần được xoá bỏ. Pháp lệnh Hành nghề y
dược tư nhân ra đời năm 1993 và hàng loạt các thông tư văn bản pháp quy hướng
dẫn việc thực hiện pháp lệnh này đã thúc đẩy việc tham gia của nhiều thành phần
kinh tế trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ, tạo tiền đề cho hàng loạt cơ sở hành
nghề HNDTN ra đời và phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tạo điều
kiện đưa thuốc tới tay người bệnh một cách nhanh chóng với giá cả ổn định. Thị
trưòfng thuốc phong phú, đầy đủ cả về thuốc nội thuốc ngoại, thuốc thiết yếu,
thuốc chuyên khoa, thuốc thông thường với chất lượng ổn định, giải quyết về cơ
bản nhu cầu thuốc cho người dân [14].
Tính đến năm 2004 đã có 680 công ty cổ phần (năm 2003 là 590) công ty
trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân; hơn 8650 nhà thuốc tư nhân
(2003 là7500) chưa kể nhà thuốc bệnh viện và hơn 11500 đại lí bán lẻ thuốc
(2003 là 10500). Mặc dù hệ thống hành nghề dược tư nhân vẫn tập trung vào các
thành phố lớn, các khu vực đông dân cư nhưng việc cung ứng thuốc cho miền
núi, vùng sâu vùng xa đã được quan tâm. Tại các tỉnh miền núi và vùng sâu như
đảo lộn [52]. Công tác quản lí trong các dịch vụ khám chữa bệnh và kinh doanh
thuốc trên thị trường tuy đã thoát khỏi cơ chế bao cấp nhưng gần như được thả
nổi [41].
Về mặt sử dụng thuốc hiện nay đang có rất nhiều vấn đề đáng lo ngại mà
điển hình là tình trạng lạm dụng thuốc đặc biệt là kháng sinh cả ở bác sĩ và cộng
đồng.
Theo kết quả khảo sát tình hình mua thuốc của nhân dân ở một số tỉnh phía
Bắc, số đơn có trên 3 thuốc chiếm tới 93,88%, 64,80 % số đcfn có trên 4 thuốc,
đơn có từ 5 thuốc trở lên chiếm 20,41% [27]. Tại các phòng khám chữa bệnh tư
nhân nơi người dân đến khám chữa bệnh ngày càng đông đặc biệt là ờ các thành
phố lớn, qua điều tra cho thấy số thuốc trung bình trong một đofn là 4,38 trong đó
cao nhất là ở quận Hoàn Kiếm (5,11), thấp nhất ở huyện Từ Liêm (3,5), số lượng
thuốc dao động từ 2-9 thuốc [2]. Kết quả thanh tra, kiểm tra việc cung ứng sử
dụng thuốc trong bệnh viện vìra qua của Bộ Y tế cho biết tình trạng lạm dụng
kháng sinh, vitamin chiếm tới' 75-85%. Số lượng các thuốc kê trong đơn vẫn ở
mức cao thậm chí có đơn có tới tận 15 loại thuốc như ở thành phố Hồ Chí Minh
[28],
Trong cộng đồng, tình trạng tự điều trị, tự sử dụng thuốc đang diễn ra rất
phổ biến. Theo một nghiên cứu về các hình thức lựa chọn dịch vụ dược của
ngưòi dân ở Hà nội, thì việc mua thuốc chủ yếu qua kinh nghiệm bản thân, sự
mách bảo của bạn bè và quảng cáo chiếm tới 56,3 % trong khi đó số lần bán
thuốc không có hướng dẫn chiếm tỉ lệ cao 51,3% [26]. Một nghiên cứu gần đây
cũng cho biết 95% người bệnh tự mua thuốc tại các nhà thuốc tư không cần đơn
[3]. Tuy rằng việc tự dùng thuốc làm giảm bớt sức ép cho các dịch vụ y tế nhất là
khi các dịch này hạn chế đặc biệt là ở nơi xa xôi hẻo lánh nhưng thuốc tự dùng
có thể tương tác với các thuốc kê đơn, rượu, thực phẩm thì người dân lại không
biết hoặc ít để ý đến điều này từ đó gây ra mối nguy hại đến sức khoẻ. Ngoài ra
việc quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng đem lại cảm giác tin
tưởng rằng việc tự dùng thuốc chỉ là việc của người bệnh [25].
Việc lạm dụng kháng sinh, sử dụng không đúng mục đích điều trị trong
đồng. Khi tìm hiểu việc bán các thuốc steroid tại các nhà thuốc tư tại Hà Nội
thấy rằng 98% đều bán hoặc là prednisolon hoặc dexamethason và chỉ có duy
nhất một lần khách hàng được hỏi về đơn thuốc [10]. Tỷ lệ này thậm chí còn cao
hơn một số nghiên cứu trên thế giới, tại Braxin 65% số nhà thuốc đã bán steroid
mà không cần đơn [45]._Bên cạnh đó, còn có khoảng cách lớn giữa kiến thức và
thực tế bán loại thuốc này, 60% số người bán thuốc trả lời là không bán nhưng
thực tế 98% khách hàng đã mua được loại thuốc này [10].
Cùng với hiện tượng lạm dụng kháng sinh và corticoid, gần đây việc sử
dụng vitamin cũng đang có xu hướng gia tăng. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực
này đã cảnh báo về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của các thầy thuốc và
lạm dụng vitamin do quan niệm sai trong cộng đồng, ở Việt Nam cho đến nay
chưa có nhiều nghiên cứu về tình hình sử dụng vitamin.
Theo tài liệu của nghiên cứu “Đánh giá nhu cầu sử dụng vitamin trong cộng
đồng” tại 10 tỉnh thành phố, tỉ lệ người sử dụng vitamin trong tổng số người sử
dụng thuốc dao động từ 45,9% đến 74,9%, tỉ lệ đơn thuốc có vitamin là từ 55,4
đến 77,5, trung bình là 66,1% cho thấy việc kê đơn của thầy thuốc có ảnh hưởng
lớn đến nhu cầu sử dụng vitamin. Các vitamin được kê nhiều nhất là vitamin c
(46,6%), Bl(18,7%), vitamin phối hợp (17,3%)- Khảo sát tại các điểm bán lẻ cho
thấy trung bình có 50,9% khách hàng mua thuốc là mua vitamin, cao nhất là ở
thành phố Hồ Chí Minh (61,8%). Ba loại Vitamin có tỉ lệ sử dụng cao nhất là
vitamin c (38,2%), Bl(16,9%), vitamin kết hợp (15,3%) [11].
Một nghiên cứu khác ở Hà Nội cho thấy có tới 61,7% số người tự mua
vitamin. Mặc dù vitamin là một loại thuốc được bán không cần đcín nhưng trong
đó lại có đến 80,5% nguời mua vitamin do tự chẩn đoán mình bị thiếu hoặc cho
rằng nó vô hại, chỉ có 19,5% hỏi ý kiến dược sĩ bán thuốc khi mua [12].
Song song với việc lạm dụng thuốc ở cả người dân, các nhân viên y tế nói
chung, một vấn đề khác đang gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội là tình
trạng bác sĩ thường kê đơn các loại thuốc ngoại, biệt dược đắt tiền.
Theo nghiên cứu tại các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức, Hữu Nghị, bệnh
viện quân y 108 tỷ lệ thuốc ngoại chiếm 60,4% các loại thuốc thường dùng trong
Thực ra về mặt này, các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên
cứu định lượng cũng đã đưa ra được một số lời giải thích bên cạnh các số liệu
chứng minh nhưng chưa thật cụ thể bởi đặc thù của phưcíng pháp nghiên cứu này
là nhằm đo lường kích thước, độ lón, sự phân bố của biến số nghiên cứu với các
câu hỏi bao nhiêu, bằng cách nào có tính cứng nhắc. Trong khi đó phương pháp
nghiên cứu định tính thường sử dụng các câu hỏi cái gì, tại sao, như thế nào
mang tính mềm dẻo, linh hoạt hơn giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bản chất,
nguyên nhân cũng như các yếu tố ảnh hưởng của vấn đề.
Vì lí do đó trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên
cứu định tính nhằm tìm hiểu về những hành vi trong việc sử dụng thuốc trong
cộng đồng cũng như một số yếu tố ảnh hưởng, cấu thành nên hành vi đó.
3. Giới thiệu phương pháp nghiên cứu định tính (qualitative studies)
3.1. Định nghĩa - một vài khái niệm cơ bản
- Nghiên cứu định tính là một nghiên cứu mô tả, phân tích bản chất của vấn
đề. Thông thường nó hay trả lòi các câu hỏi cái gì tại sao (nguyên nhân) gây nên
vấn dề đó? Bản chất của vấn đề đó là gì? Quá trình hình thành vấn đề đó ra sao?
Làm thế nào để giải quyết vấn đề đó?
- Nghiên cứu định tính còn có một tên khác nữa là nghiên cứu về chất.
- Nghiên cứu định tính thường được sử dụng để mô tả kĩ lưỡng những quá
trình diễn biến của hiện tượng, sự vật, mô tả lòng tin và kiến thức liên quan đến
sức khoẻ cộng đồng cũng như của các cán bộ y tế. Nghiên cứu này cũng rất phù
hợp cho việc thăm dò các lí do của tập quán ứng xử và ý kiến của những người
được nghiên cứu về một vấn đề nhất định.
- Nghiên cứu về chất thường được chia làm 4 loại chính dựa theo mục đích
nghiên cứu:
+ Nghiên cứu thăm dò (Exploratory)
Nhằm mục đích tìm hiểu sơ bộ về hiện tượng sự việc cần nghiên cứu hay
xác định biến số (hay lí do chính) để đưa ra giả thiết trong nghiên cứu chính sau
này.
+ Nghiên cứu giải thích (Explanatory)
lượng. Trong nghiên cứu định tính nhiều khi người ta thưòng trích một câu nói
của một người hay một vài chữ nói lên bản chất của vấn đề tại cộng đồng. Lời
nói đó nếu đúng sự thật còn mạnh mẽ hơn nhiều so với các con, số tỷ lệ trong
nghiên cứu định lượng.
Nói chung các phương pháp thu thập thông tin khác nhau đem lại những
loại thông tin khác nhau. Do đó trước khi chọn dùng phương pháp nào phải
quyết định xem thông tin nào cần thiết nhất và hữu ích trong hoàn cảnh đã xác
định và từ đó sử dụng nhCrng phương pháp phù hợp nhất để thu thập thông tin đó.
Các phương pháp nghiên cứu định tính hay nghiên cứu định lượng sử dụng
trong khi tiến hành có thể bổ sung và khi phù hợp thì nên kết hợp hai cách này
sao cho có thể tăng cường được điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của mối
phương pháp. Ví dụ nghiên cứu định tính có hể hỗ trợ cho nghiên cứu định lượng
bằng cách xác định chủ đề phù hợp với phương pháp điều tra. Nghiên cứu định
lượng hỗ trợ cho nghiên cứu định tính bằng cách kết quả hoá các phát hiện ra
một mẫu lớn hơn hay bằng cách nhận biết các nhóm cần nghiên cứu sâu, định
tính.
Tóm lại không có qui định chặt chẽ cho việc quyết định sử dụng loại hình
phương pháp nghiên cứu nào.Tuy nhiên riêng với phương pháp nghiên cứu đinh
tính thì nó thường được sử dụng trong việc:
- Thăm dò tính khả thi, chấp nhận và sự phù hợp của những chuơng trình y tế
mới tiềm tàng.
- Phát triển những hoạt động về thông tin giáo dục và truyền thông và tài liệu
phù hợp.
- Nhận biết những tồn tại trong những can thiệp đang triển khai và đưa ra những
giải pháp thích hợp với những tồn tại đó.
- Hoàn chỉnh những thông tin thu được trong các giám sát thường xuyên và các
nghiên cứu đánh giá bằng cách giải thích những kết quả thu được từ nghiên cứu
định lượng.
- Thiết kế các công cụ điều trạ chính xác hơn bằng cách nhận biết những chủ đề
thích hợp nhất cho nghiên cứu điều tra và bằng cách xác định những câu hỏi
nhắc và được định sẩn.
- Các đơn vị mẫu (tức cá nhân hay hộ gia đình) thường được chọn hàng loạt.
Thông thường những gì mà ta thu được nhóm người cung cấp thông tin sẽ giúp
xác định các nhóm đối tượng cung cấp thông tin hữu ích khác.
- Việc chọn mẫu còn bao gồm cả việc tìm kiếm các trường hợp đối lập với
mục đích làm tăng ý nghĩa cho kết quả nghiên cứu.
Mặc dù có một số đặc điểm chung cần phải chú ý khi tiến hành chọn mẫu
khồng xác suất nhưng thực tế không có bất kì một luật định chặt chẽ nào qui
định về cỡ mẫu không xác suất trong nghiên cứu định tính. Cỡ mẫu nghiên cứu
phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu cụ thể cần phải trả lời
những thông tin nào là cần thiết, những thông tin nào có độ tin cậy và những gì
có thể làm được với thời gian và nguồn lực sẩn có. Ví dụ với một thời gian nhất
định và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu viên có thể chọn tìm hiểu một số chủ đề
nhất định trong một số lớn các trường hợp (nhằm thu độ rộng) hay tìm hiểu
nhiều chủ đề nghiên cứu khác nhau trên một số nhỏ các trường hợp (nhằm thu
được độ sâu)
Trong chọn mẫu không xác suất thì việc chọn các đối tượng cung cấp thông
tin thường tiếp tục cho đến khi đạt mức độ bão hoà. Có nghĩa là đến một lúc nào
đó khi mà có vẻ thông tin thu được không còn gì mới nữa (và tất cả sự khác biệt
tiềm tàng đều đã đươc tìm hiểu kĩ càng) lúc đó có thể dừng việc chọn thêm đối
tượng vào mẫu nghiên cứu. Nhà nghiên cứu quyết định một cách chung nhất về
loại đối tượng nào nên phỏng vấn (dựa theo các tiêu chuẩn đã được định trước
hoặc mới nảy sinh) và sau đó tiếp tục phỏng vấn những đối tượng thuộc loại này
cho đến khi không còn thông tin gì mới được thu thập thêm.
Mặc dù không có một công thức nào định trước cho việc chọn mẫu nhưng
không có nghĩa là việc chọn mẫu không có hệ thống. Tất cả các quyết định liên
quan đến chiến lược chọn mẫu và cỡ mẫu cần được lí giải rõ ràng [16].
3.2.3. Các kĩ thuật thu thập sô liệu thường dùng trong nghiên cứu định tính
Có khá nhiều kĩ thuật thu thập số liệu hay được dùng trong nghiên cứu
định tính như:
phân giải (giải thích) giúp cho nhà nghiên cứu có thể phân tích số liệu, thấy rõ
được mối liên quan giữa các thông tin, các biến số nghiên cứu một cách thuận lợi
- Nhận định kết quả: quá trình này là một chuỗi bao gồm [15]
Tập hợp các sự kiện
_
► phân tích
__
► tổng hợp
__
► Khái quát lại thành
bản chất các vấn đề
PHẦN 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN cứu
Các bà mẹ trong hộ gia đình (đây là ngưòi đóng vai trò chính trong việc
chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình)
1.1. Chiến lược chọn mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu không xác suất (chọn mẫu có mục đích).
Trong đó kĩ thuật trái bóng tuyết cũng được sử dụng khi nghiên cứu viên yêu cầu
người được phỏng vấn giới thiệu bạn bè hay người quen của họ. Kết quả, địa
điểm nghiên cứu bao gồm
- Quận Đống Đa : phường Láng Hạ, phường Thịnh Quang
- QuậnThanh Xuân: phường Nhân Chính
1.2 Một sô đặc điểm về mẫu nghiên cứu
• Tổng số có 30 người với độ tuổi từ 25 - 55 tham gia vào cuộc nghiên
cứu
• Phân loại tuổi của đối tượng nghiên cứu
Độ tuổi
Sô lượng (n = 30)
Tỷ lệ(% )