Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần A : Mở đầu
Kinh tế tri thức đề tài đợc nhiều cuộc hội thảo quốc tế nhiều công trình
nghiên cứu quan tâm . Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ
hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới tạo ra một bớc ngoặt mới
trong lịch sử phát triển của loài ngời .
Sự xuất hiện vận động và phát triển của nền kinh tế tri thức đã thu hút sự
quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo và các giới khoa học trên thế giới .Việt Nam
cũng vậy : Kinh tế tri thức đặt trong chiến lợc phát triển chung của đất nớc.
Ngày 19.5.2000 , tại lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh
( 19.5.1890 - 19.5.2000 ) Tổng bí th Lê Khả Phiêu đã nêu rõ : " Trong thời đại
cách mạng thông tin hiện nay , chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là
phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để
hiện đại hoá nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo từng hớng ,
từng bớc hình thành nền kinh tế trí thức , có năng lực cạnh tranh với giá trị
gia tăng ngày càng cao " (1).
Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần IX , trong phần : " Phát triển
kinh tế " nêu lên từng bớc phát triển kinh tế tri thức , " Con đờng công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian , vừa có những b-
ớc tuần tự , vừa có thể nhảy vọt , phát huy lợi thế của đất nớc , tập trung mọi
khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ thông tin
và công nghệ sinh học tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn ở mức cao
hơn và phổ biến hơn những thành tụ về công nghệ và khoa học , từng bớc phát
triển kinh tế tri thức "(2) . Trong chiến lựơc phát triển kinh tế xã hội 2000-
2001 Đảng ta nêu rõ quan điểm : " Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá
ngay từ đầu và trong suốt giai đoạn phát triển . Nâng cao hàm lợng tri thức
trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội , từng bớc phát triển kinh tế tri
thức . "(3)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1
tế và có đợc của cải . Mục đích chiến tranh của Thành Cát T Hãn chủ yếu là cớp
đoạt sức ngời còn hoạt động buôn bán nô lệ ở phơng Tây thì kéo dài cho mãi
đến thế kỷ thứ XIX mới chấm dứt . Kinh tế sức lao đông bắt đầu từ giai đoạn
đầu của văn minh nhân loại , kéo dài liên tục mấy ngàn năm đến thế kỷ thứ XIX
( đến nay một số nớc trên thế giới vẫn thuộc giai đoan Kinh tế sức lao động )
trong giai đoạn phát triển kinh tế này con ngời dùng kĩ thuật nguyên thuỷ ,
những công cụ lao động phổ thông nh : cày, cuốc , dao ,búa ... và những công
cụ giao thông nh : xe ngựa , thuyền gỗ ... phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào
ngành sản xuất thứ nhất - Ngành công nghiệp - . Mặc dù trong mấy ngàn năm
khoa học kinh tế có phát triển công cụ sản xuất không ngừng đợc cải tiến nhng
cho đến trớc cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ XIX trình độ sản xuất vẫn
không hề thay đổi . Năng suất lao động thời kì này chủ yếu dựa vào sức ngời .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong giai đoạn kinh tế sức lao động phân phối sản xuất tiến hành chủ yếu
dựa vào chiếm hữu tài nguyên sức lao động . Mặc dù sự chiếm hữu đất đai có
tác dụng chủ yếu đối với khu vực dân số ít nh vùng duyên hải đông nam Trung
Quốc , lu vực Lỡng Hà Ân Độ . Lu vực sông Nin Ai Cập ... Nhng nhìn từ góc
độ toàn thế giới phân phối sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên sức lao
động , hoặc thông qua nguồn tài nguyên sức lao động .
Trong giai đoạn Kinh tế sức lao động cuộc sống của đại bộ phận dân nghèo
họ không thể chống cự nổi những mất mát về kinh tế do thiên tai gây ra . Giáo
dục không đợc phổ cập . Ngời mù chữ chiếm đại đa số , nhân tài không đợc
phát huy .
b . Trong giai đoạn Kinh tế tài nguyên : Là phát triển kinh tế chủ yếu quyết
định bởi sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên thiên nhiên . Do khoa học kinh
tế không ngừng phát triển khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên của nhân
loại không ngừng tăng làm cho đại đa số tài nguyên trở nên thiếu , các cuộc
tài nguyên trí lực chỉ ở mức tơng đối .
Qua hai giai đoạn trên ta thấy loài ngời cần có một nền kinh tế mới để phục
vụ nhu cầu của con ngời . Đó là nguyên nhân chính , tất yếu chuyển sang nền
kinh tế tri thức của nhân loại, còn có nguyên nhân sâu xa ở chỗ : " Các nhu cầu
của cuộc sống , bao gồm nhu cầu về ăn mặc nhu cầu về tinh
thần , trong đó có nhu cầu về vật chất ( ăn mặc , đi lại , chữa bệnh ...) sẽ tăng
đến giới hạn . Nhng nhu cầu về tinh thần (học tập, nghiên cứu sáng tạo , hởng
thụ văn hoá nghệ thuật ...) . Sẽ tăng vô hạn ."(4) ( nhận định của Ăng-ghen ) .
Bởi vậy các sản phẩm phục vụ nhu cầu tinh thần sẽ tăng vô hạn do đó chỉ có
nguồn tài nguyên tri thức mới có thể đáp ứng nhu cầu đó . Theo tính tất yếu của
lịch sử thì : Kinh tế tri thức phát triển đầy đủ ở thế kỷ 21 ( Nói theo t duy triết
học là sự phủ định biện chứng tức phủ định có kế thừa chủ nghĩa hiện đại thế kỷ
20 ).
c. Giai đoạn kinh tế tri thức : là giai đoạn phát triển kinh tế chủ yếu dựa trên
sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên trí lực tức khoa học kinh tế trở thành lực
lợng lao động sản xuất duy nhất . Kinh tế thế giới sẽ ở vào giai đoạn Kinh tế tri
thức ở giai đoạn này.
Do sự phát triển cao độ khoa học kinh tế , kết quả nghiên cứu khoa học kinh
tế cũng nhanh chóng trở thành hàng hoá , khả năng khai thác tài nguyên kinh tế
tri thức thay thế cho tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt cũng tăng nhanh .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ví dụ : Tụ biến nhiệt hạch , điều chế làm cho nớc biển thành xăng , có thể làm
cho đá silic biến thành máy tính . Do vậy , vai trò của tài nguyên thiên nhiên bị
chuyển xuống tầng thứ yếu . Khoa học kinh tế trở thành nhân tố quyết định sự
phát triển nền kinh tế thế giới . Sự phát triển khoa học kinh tế mới cao và sự ứng
dụng khoa học kinh tế mới cao đã tạo ra một cuộc cách mạng mới cuộc cách
mạng : Hậu công nghiệp . Nhìn từ góc độ lực lợng sản xuất khoa học kĩ thuật
Điều này nói lên rằng ngay trong nền kinh tế tài nguyên thì sự cớp đoạt tài
nguyên thiên nhiên cũng không thể giải quyết đợc vấn đề . Chỉ có bằng Kinh tế
tri thức , dùng nguồn trí lực để khai thác tài nguyên thiên nhiên mới có thể giải
quyết đợc . Ví dụ một số quốc gia và khu vực nh Singapo , Hàn Quốc , Hồng
Kông đều không có tài nguyên thiên nhiên giàu có , nhng các nớc này đã dựa
vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trí lực mà xây dựng lên nền kinh tế
phát triển nh ngày nay. Đơng nhiên , trong sự phát triển Kinh tế tri thức cũng
tồn tại nhiều vấn đề ví dụ : Vấn đề thất nghiệp . Trớc mắt đối với các nớc phát
triển , tuy công nghệ kĩ thuật mới phát triển với tốc độ nhanh nhng không mang
lại nhiều việc làm , khoảng cách giữa yêu cầc tố chất trí lực cao của xí nghiệp kĩ
thuật mới cao so với tố chất lao động chân tay hiện có không thể rút ngắn trong
thời gian ngắn.
Xét cho cùng nền kinh tế tri thức là cái tồn tại tất yếu trong thế kỷ này nó sẽ
phục vụ nhu cầu của chúng ta .
2 . Khái quát chung về Kinh tế tri thức .
2.1. Khái niệm
Tổng hợp các khái niệm từ 30 năm nay ta có thể định nghĩa : Kinh tế tri
thức là nền kinh tế mà trong đó nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu phân
phối nguồn trí lực và việc sáng tạo , phân phối sử dụng tri thức trong các ngành
sản xuất có hàm lợng khoa học kỹ thuật cao . Đơn giản ta có thể nói nh nhà
chính trị Đặng Tiểu Bình chỉ ra là : " Thời đại kinh tế trong đó khoa học kỹ
thuật là lực lợng sản xuất thứ nhất " .
2 . 2. Đặc điểm chủ yếu của nền Kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là kinh tế phát triển trong xã hội tri thức hoá ở mức độ cao
theo tôi có 8 đặc điểm nổi bật đó là .
2 . 2.1.Kinh tế phát triển bền vững .
Website: Email : Tel : 0918.775.368
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
8