I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT XUN GIANG
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về các dấu hiệu của lỗi cố ý và vô ý
theo Luật hình sự Việt Nam LUT VN THC S LUT HC
LUT VN THC S LUT HC Cỏn b hng dn khoa hc:
PGS. TS. TRN VN LUYN H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
2.2. Thực tiễn định tội danh liên quan đến dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi
vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 52
2.3. Thực tiễn quyết định hình phạt liên quan đến dấu hiệu lỗi cố
ý và lỗi vô ý theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 59
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ LỖI VÔ Ý
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 65
3.1. Phương hướng hoàn thiện dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong
luật hình sự Việt Nam 65
3.1.1. Hoàn thiện khái niệm lỗi, lỗi cố ý, lỗi vô ý 65
3.1.2. Hoàn thiện quy định về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong cấu
thành tội phạm 71
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và
lỗi vô ý trong Luật hình sự Việt Nam 75
3.2.1. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của chủ thể
tiến hành tố tụng hình sự 75
3.2.2. Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật
hình sự về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý 83
3.2.3. Tăng cường trao đổi, nghiên cứu pháp luật nước ngoài về dấu
hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự 89
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1:
Mô tả tỉ lệ số cấu thành tội phạm có quy định
nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam. Theo đó, lỗi được ghi nhận ngay tại
khái niệm tội phạm tại Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Đồng thời
trong đó, Điều 9 và Điều 10 đã xác định và phân biệt hai hình thức lỗi là cố ý
phạm tội và vô ý phạm tội. Cố ý phạm tội gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.
Vô ý phạm tội gồm vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả. Mỗi tội phạm chỉ
được thực hiện bằng hình thức lỗi hoặc cố ý hoặc vô ý. Tuy nhiên, trên thực tế, 2
liên quan đến nội dung này, còn có trường hợp nhận thức chưa đúng, chưa
đầy đủ, chưa thống nhất về lý luận, dẫn tới hạn chế trong hoạt động thực tiễn
cũng như nghiên cứu khoa học. Đây là lý do để tác giả lựa chọn đề tài: “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về các dấu hiệu của lỗi cố ý và vô ý theo Luật
hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý đều được nghiên cứu về mặt lý luận trong
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật.
Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu về lỗi cố ý và lỗi vô ý ở những khía
cạnh khác nhau, cụ thể: Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học:
Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội
phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành
tội phạm: Lý luận và thực tiễn, NXB Tư pháp, Hà Nội; Đào Trí Úc (2000),
Luật hình sự Việt Nam, Quyển I: “Những vấn đề chung”, NXB Khoa học xã
hội, Hà Nội; Võ Khánh Vinh (1994), Nguyên tắc công bằng trong Luật hình
sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân; Lê Thị Thu Thủy (2003), Nguyên tắc
trách nhiệm trên cơ sở lỗi trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật
học, Trường đại học Luật Hà Nội; Nguyễn Thị Lan Anh (2011), Những vấn
đề lý luận và thực tiễn về lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc
sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Nhuần (2001),
về nhận thức Yếu tố lỗi trong xét xử án hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
24/2012; Văn Thị Hồng Nhung, Xác định lỗi như thế nào để xét xử cho đúng,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 20/2013; Lê Văn Luật, Bàn về một số nội dung
khái niệm lỗi hình sự trong Bộ luật hình sự hiện hành áp dụng trong công tác
xét xử, Tạp chí Nghề Luật.
Khi nghiên cứu tội phạm cụ thể trong Bộ luật hình sự (Phần riêng – 4
Phần các tội phạm), các tác giả đều có sự nhận thức về dấu hiệu lỗi – cố ý hay
vô ý. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu một
cách toàn diện, có hệ thống và sâu sắc về lỗi cố ý và vô ý dưới góc độ lý luận
và thực tiễn áp dụng. Do đó cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu toàn diện, hệ
thống về vấn đề này để xây dựng thống nhất lý luận về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi
vô ý, góp phần thiết thực trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về các dấu hiệu của lỗi cố ý và lỗi vô ý trong Luật
Hình sự Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ pháp lý
hình sự.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm
sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn áp dụng dấu hiệu lỗi
cố ý và vô ý trong luật hình sự Việt Nam, qua đó đề xuất phương hướng hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật
hình sự Việt Nam
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Về mặt lý luận, trên cơ sở đối tượng và
phạm vi nghiên cứu, tác giả làm sáng tỏ về khái niệm lỗi, các đặc điểm của lỗi
cố ý và lỗi vô ý, sự hình thành và phát triển dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong
hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về các dấu hiệu của lỗi cố ý và lỗi
vô ý theo luật hình sự Việt Nam. Ngoài ra, luận văn đã xác định đúng đắn
những vấn đề về lỗi cố ý và vô ý trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xét xử.
Bên cạnh đó, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết
cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn, sinh viên, học viên cao học
cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn nghiên cứu,
áp dụng pháp luật hình sự. 6
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý
trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng dấu hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật
hình sự Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng dấu
hiệu lỗi cố ý và lỗi vô ý trong luật hình sự Việt Nam. 7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DẤU HIỆU LỖI CỐ Ý VÀ
LỖI VÔ Ý TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi trong luật hình sự Việt Nam
Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý [15].
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu
hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện
khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi
hỏi của xã hội. Theo đó, lỗi trong luật hình sự, trước hết được hiểu là quan hệ
giữa người phạm tội với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định chủ quan
những đòi hỏi của xã hội đã được thể hiện qua các đòi hỏi cụ thể của luật hình
sự. Sự phủ định chủ quan này tồn tại trên cơ sở và trong sự thống nhất với sự
phủ định khách quan là sự gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo
vệ của luật hình sự. Cũng như quan hệ giữa khách quan và chủ quan, sự phủ
định khách quan có thể tồn tại độc lập không cần có sự phủ định chủ quan
nhưng sự phủ định chủ quan chỉ tồn tại khi có sự phủ định khách quan [15].
Điều này khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa lỗi – dấu hiệu thuộc mặt chủ
quan của tội phạm với hành vi khách quan của tội phạm – dấu hiệu thuộc mặt
khách quan của tội phạm. Chỉ có thể nói đến hành vi khách quan – hành vi
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm khi hành vi đó đi liền với lỗi, và ngược lại,
không thể nói đến lỗi khi không có hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội. Hay
nói cách khác, lỗi được đề cập với tư cách là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt chủ
quan của tội phạm là lỗi của cá nhân, lỗi của một con người cụ thể khi người
đó thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội. 9
Hay:
Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong
những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái
độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị
người vẫn có tự do, quyết định và thực hiện xử sự phù hợp với những quy luật tự
nhiên và xã hội đã nhận thức được. Xử sự của con người tuy chịu sự tác động
của điều kiện kinh tế, xã hội nhưng không phải là kết quả trực tiếp của riêng điều
kiện kinh tế, xã hội vì “mọi sự tác động của một hiện tượng lên một hiện tượng
khác đều bị khúc xạ bởi các thuộc tính bên trong của hiện tượng bị tác động”.
Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy
móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ. Để
thỏa mãn bất kỳ nhu cầu nào trong đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải
quyết và việc lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lí trí và ý chí.
Chính vì vậy, trong những điều kiện khách quan giống nhau, mỗi người có thể
lựa chọn biện pháp xử sự khác nhau. Con người khi đã có quyền lựa chọn là có
tự do. Tự do ý chí là khả năng tâm lý của con người có thể tự mình lựa chọn và
thực hiện biện pháp xử sự trong những điều kiện xã hội nhất định. Người đã lựa
chọn biện pháp xử sự trái pháp luật khi có thể xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã
hội thì phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Tự do ý chí là cơ sở để
lên án người có hành vi trái pháp luật. Có nghĩa là, tự do là cơ sở của trách
nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do. Người xử sự trái
với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội trong khi có tự do thì có nghĩa họ là
người có lỗi. Do đó, trách nhiệm chỉ đặt ra cho người có lỗi [15, tr.129-131].
Có thể thấy rằng, luật hình sự với tư cách là một trong những ngành
luật cơ bản nhất xuất hiện nay ngay từ thời cổ đại - mặc dù thời kỳ này, chưa
được xác định với tính chất là ngành khoa học như hiện nay. Theo đó, triết 11
học đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của khoa học luật hình sự
nói chung và chế định lỗi nói riêng. Vì vậy, các trường phái tồn tại trong lịch
sử triết học cũng đóng vai trò nhất định đối với khoa học luật hình sự hiện đại.
Cụ thể: Về mặt thần học trong khoa học luật hình sự Đức ngay từ những năm
70 của thế kỷ XVII, thì người đã thực hiện tội phạm có dự mưu phải chịu
nhận và phù hợp với động cơ, quyết tâm và ý định bên trong của người đó.
Còn nhà hình sự học người Đức nổi tiếng Phơbách A. trong thời kỳ đầu đã coi
là sự buộc tội không phụ thuộc vào tự do ý chí, nhưng sau đó đã thay đổi quan
điểm và thừa nhận tự do ý chí là điều kiện của sự buộc tội do lỗi. Những nhà
nghiên cứu thuộc trường phái xã hội học trong khoa học luật hình sự cho
rằng: 1) Lỗi của chủ thể được coi là tình trạng nguy hiểm của người đó; 2) Ba
phạm trù (lỗi, tình trạng năng lực, và tình trạng không có năng lực) chính là
các tiêu chí của tính nguy hiểm cho xã hội của một hành vi…
Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời, khẳng định tội phạm với tư cách là một
phạm trù lịch sử, một hiện tượng xã hội. Tội phạm chỉ xuất hiện khi trong xã
hội xuất hiện chế độ tư hữu, có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn gay gắt làm
nảy sinh đấu tranh giai cấp. Theo đó, con người phải chịu trách nhiệm về
hành vi của mình. Khi con người lựa chọn một hành vi phù hợp với những
chuẩn mực của xã hội để đạt được mục đích, thỏa mãn nhu cầu của mình thì
đó là hành vi hợp pháp. Ngược lại, nếu trong quá trình thực hiện hành vi, con
người lại lựa chọn hành vi sai lệch với các chuẩn mực xã hội, trái pháp luật
thì hành vi đó là bất hợp pháp, và tất nhiên phải chịu trách nhiệm về hành vi
của mình. Hoạt động của con người bị chi phối bởi các quy luật khách quan
nhưng nhờ hoạt động có ý thức, con người nhận thức và áp dụng các quy luật
đó để thực hiện mục đích của mình. Mặt khác, con người là thực thể sinh vật
với bộ óc thông minh và hoàn thiện nhất, do đó, tất cả những gì tác động đến
con người, thúc đẩy hành vi của con người đều phải thông qua bộ óc. Hoạt 13
động của con người không chỉ là kết quả tác động trực tiếp của các điều kiện
lịch sử mà còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động tâm lý. Theo đó, tự do
tồn tại khi con người có quyền lựa chọn một xử sự phù hợp với các quy luật.
Ngược lại, con người sẽ bị tước bỏ sự tự do khi họ xử sự không phù hợp với
quy luật. Xử sự của con người mang tính quy luật nhưng không có nghĩa là
đó. Một cá nhân ngay từ khi mới sinh ra, rõ ràng chưa xuất hiện tâm lý phạm
tội, tuy nhiên qua quá trình trưởng thành, hình thành nhân cách, với sự mở
rộng tầm nhìn (có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực), trong những tình
huống cụ thể, do nhận thức hạn chế, cũng có khi không hiểu hết bản chất của
vấn đề, chủ thể không tự kiềm chế trước tình huống, dẫn tới những hành động
trái với các chuẩn mực, khi mà chính chủ thể không tính đến hậu quả do mình
gây ra đối với xã hội. Theo đó, quá trình hình thành nhân cách – những phẩm
chất mang tính đặc trưng của mỗi cá nhân, được thể hiện ra bên ngoài thông
qua những hành vi cụ thể và nó được bộc lộ một cách đầy đủ nhất ở những
thời điểm và trong những hoàn cảnh cụ thể đòi hỏi chủ thể phải thể hiện khả
năng ứng xử và quyết định lựa chọn phương thức hành động của mình, có ảnh
hưởng quan trọng đến việc quyết định lựa chọn hành vi, xử sự của cá nhân.
Sự phát triển của nhân cách, của năng lực hành vi hay năng lực ứng xử của
chủ thể là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, gắn bó chặt chẽ với quá
trình phát triển tư duy. Trong quá trình hình thành nhân cách, những cá nhân
sinh sống trong những môi trường tiêu cực có thể hình thành khuynh hướng
chống đối xã hội, tuy nhiên không phải mọi trường hợp có khuynh hướng
chống đối xã hội là sẽ thực hiện hành vi phạm tội và ngược lại. Điều đó thể
hiện sự tương tác qua lại giữa các yếu tố thuộc về cá nhân với các yếu tố
thuộc về môi trường trong từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Nghiên cứu lỗi
dưới góc độ tâm lý là một vấn đề không đơn giản. Đặc biệt với những tình
huống thực tế đa dạng bởi vì khi đánh giá thái độ chủ quan của cá nhân, 15
không chỉ dựa vào biểu hiện khách quan của hành vi mà còn phải căn cứ vào
diễn biến, trạng thái tâm lý bên trong của người đó. Trong luật hình sự Việt
Nam, lỗi được coi là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm và nguyên tắc
có lỗi là một nguyên tắc cơ bản, đặc trưng. Người phải chịu trách nhiệm hình
sự theo luật hình sự Việt Nam, không phải chỉ đơn thuần là có hành vi khách
hiểm cho xã hội hành vi của mình nhưng lại không điều khiển được hành vi
đó thì họ không có lỗi và ngược lại.
1.2.1. Lỗi cố ý phạm tội
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định cụ thể về hai hình thức
lỗi cố ý:
Điều 9. Cố ý phạm tội
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu
quả xảy ra;
2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong
muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra [11, Điều 9].
Nội dung cơ bản của chế định lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố là lý trí
và ý chí. Theo đó, sự kết hợp khác nhau giữa ý thức và ý chí tạo nên các hình
thức khác nhau của lỗi. Một người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể
hiện sự chống đối xã hội cao hơn trường hợp lỗi vô ý, do đó trách nhiệm hình
sự và hình phạt áp dụng đối với họ sẽ nghiêm khắc hơn. Cố ý phạm tội theo
quy định của luật hình sự Việt Nam gồm hai trường hợp. Một là, chủ thể
phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn cho hậu
quả xảy ra. Những trường hợp này, được gọi là cố ý trực tiếp. Ví dụ: Hành vi 17
cướp tài sản, hành vi trộm cắp tài sản, hành vi hiếp dâm… Hai là, chủ thể
phạm tội trong trường hợp nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy
hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng lại có ý thức để
mặc cho hậu quả xảy ra. Những trường hợp này, được gọi là cố ý gián tiếp. Ví
dụ: Hành vi dùng dao đâm bừa vào người khác…
hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi. Người
phạm tội có thể dự kiến hành vi tất nhiên sẽ gây ra hậu quả hoặc dự kiến hành
vi có thể gây ra hậu quả. Đối với những tội phạm có cấu thành tội phạm hình
thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, do vậy vấn đề có thấy trước
hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra khi xem xét lý trí của người
phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Nếu hậu quả được quy định là tình tiết định
khung trong cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc được xem là tình tiết tăng
nặng khi quyết định hình phạt thì việc khẳng định người phạm tội có lỗi cố ý
trực tiếp đối với hậu quả đó cũng đòi hỏi phải xác định người phạm tội thấy
trước hậu quả này. Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
và thấy trước hậu quả của hành vi đó là hai nội dung của yếu tố lí trí có liên
quan chặt chẽ với nhau. Thấy trước hậu quả của hành vi là kết quả và sự cụ
thể hóa sự nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Ngược lại,
nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở cho việc
thấy trước hậu quả của hành vi. Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu
quả phát sinh. Điều đó có nghĩa hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm
tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích – phù hợp với sự mong
muốn của người đó. Ở đây, sở dĩ không đặt ra vấn đề mong muốn hay không
mong muốn hành vi, bởi vì khi đã nhận thức được tính chất của hành vi mà
vẫn thực hiện thì chứng tỏ chủ thể mong muốn thực hiện hành vi đó. Đối với
tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất, hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu
hiệu bắt buộc cho nên việc kiểm tra ý chí của người phạm tội đối với hậu quả 19
đã thấy trước là điều cần thiết để có thể khẳng định được đó có là lỗi cố ý trực
tiếp hay không. Ở các tội có cấu thành tội phạm hình thức, hậu quả nguy hiểm
cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc cho nên việc xác định ý chí đối
với hậu quả nguy hiểm cho xã hội không được đặt ra. Muốn xác định người
phạm tội có lỗi cố ý trực tiếp chỉ cần xác định người đó đã nhận thức được