MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1: INTERNET BANKING VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO GIAO DỊCH TRONG
INTERNET BANKING (Rút gọn chương này, tối đa còn 10 trang) 5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO GIAO DỊCH TRONG HOẠT
ĐỘNG INTERNET BANKING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
(thu gọn lại, tối đa còn 15 trang) 20
KẾT LUẬN 52
1
DANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH
BKIS Trung tâm an ninh mạng đại học Bách khoa Hà Nội
Crack Bẻ khóa chương trình
Firewall Tường lửa
File Tệp tin
Hacker (Tin tặc) Người thâm nhập vào phần cứng, phần mềm, hay mạng
máy tính để thay đổi hệ thống đó
ID Tên truy cập
ID-theft Ăn cắp thông tin nhận dạng
MAS Ngân hàng trung ương Singapore
MIM- Man in
Middle
Phương thức tấn công mạng máy tính qua trung gian
OTP- One
time password
Mật mã sử dụng một lần
Password Mật mã truy cập
Phishing,
Pharming
Một hoạt động phạm tội dùng các kĩ thuật lừa đảo
PIN- Personal
Indentificatio
cạnh tranh hữu hiệu cho các ngân hàng trong nước trong cuộc chạy đua với ngân
hàng nước ngoài đang ngày càng thâm nhập sâu và thị trường Việt Nam. Do đó,
việc nghiên cứu và triển khai nhanh chóng, đồng bộ các giải pháp để hạn chế rủi ro
giao dịch, thúc đẩy dịch vụ Internet banking phát triển trong các ngân hàng thương
mại Việt Nam thực sự trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Sau một thời gian tìm hiểu về thực trạng rủi ro giao dịch trong hoạt động
Internet banking tại các ngân hàng thương mại Việt Nam, cũng như nhận thức được
3
tính cấp thiết của vấn đề này, nhóm đã lựa chọn đề tài: “Quản trị rủi ro giao dịch
trong Internet banking tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Cấu trúc của báo cáo bao gồm 03 chương:
Chương 1: Internet banking và quản trị rủi ro giao dịch trong Internet banking
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro giao dịch trong hoạt động Internet
banking tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro giao dịch
trong hoạt động Internet banking tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Đây là một đề tài mới nên trong quá trình nghiên cứu có thể còn nhiều sai sót.
Nhóm thực hiện rất mong nhận được góp ý của quý thầy cô để bài nghiên cứu hoàn
thiện hơn. Nhóm thực hiện xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy cô trong
quá trình hoàn thiện bài báo cáo này.
4
CHƯƠNG 1: INTERNET BANKING VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO GIAO
DỊCH TRONG INTERNET BANKING (Rút gọn chương này, tối đa còn 10
trang)
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ INTERNET BANKING
1. Khái niệm ngân hàng điện tử và Internet banking
1.1. Khái niệm ngân hàng điện tử
Ngân hàng điện tử hay còn gọi là ngân hàng trực tuyến, được hiểu là “khả năng của
một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một ngân hàng nhằm thu thập thông tin, thực
hiện các giao dịch tài chính dựa trên các tài khoản đã đăng kí trước đó tại ngân hàng”.
2. Các cấp độ Internet banking
Cho đến nay, các sản phẩm Internet banking được chia thành ba cấp độ:
2.1. Cấp độ cung cấp thông tin (Informative)
Đây là cấp độ thấp nhất của Internet banking, ở hình thức này, ngân hàng cung cấp
các thông tin về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng trên trang web, toàn bộ thông tin
này được lưu trữ trên một máy chủ (server) hoàn toàn độc lập với hệ thống dữ liệu của
ngân hàng. Rủi ro tương đối thấp vì không có liên kết giữa máy chủ Internet banking
và mạng nội bộ của ngân hàng. Ngân hàng có thể tự cung cấp dịch vụ Internet banking
này hoặc thuê một đơn vị khác. Mặc dù ít rủi ro cho các ngân hàng, máy chủ hay trang
web vẫn có thể bị tấn công, trang web của ngân hàng có nguy cơ bị thay thế hoặc sửa
đổi. Rủi ro đáng quan tâm đối với loại hình Internet banking này là khả năng bị tấn
công dưới hình thức từ chối dịch vụ hay thay đổi nội dung.
2.2. Cấp độ trao đổi thông tin (Communicative)
Hình thức Internet banking này cho phép một số tương tác giữa hệ thống của
ngân hàng và khách hàng. Các tương tác có thể chỉ giới hạn ở thư điện tử, truy vấn
thông tin tài khoản, xin cấp tín dụng, hay cập nhật dữ liệu (thay đổi tên và địa chỉ).
Hình thức này có rủi ro cao hơn hình thức thông tin do các máy chủ Internet
banking có thể được kết nối với mạng nội bộ của ngân hàng. Do đó, cần có các biện
pháp kiểm soát thích hợp để ngăn ngừa, theo dõi và cảnh báo về những truy cập trái
6
phép hệ thống máy tính và mạng nội bộ của ngân hàng. Việc kiểm soát virus tấn
công cũng quan trọng hơn nhiều so với hình thức thông tin.
2.3. Cấp độ giao dịch (Transactional)
Internet banking ở cấp độ này cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch với
ngân hàng. Đây là hình thức Internet banking có rủi ro cao nhất và cần được kiểm
soát chặt chẽ do máy chủ được kết nối với mạng nội bộ của ngân hàng hoặc của
đơn vị gia công phần mềm. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch, bao gồm
truy cập tài khoản, thanh toán hóa đơn, chuyển tiền.
3. Ưu và nhược điểm của Internet Banking
3.1. Ưu điểm của Internet banking
Mất thời gian đăng kí và tự nghiên cứu sản phẩm: để đăng kí giao dịch
Internet banking với ngân hàng, khách hàng có thể phải cung cấp tên truy cập (ID)
và kí vào mẫu đơn ở một chi nhánh ngân hàng. Khách hàng cũng có thể gặp khó
khăn khi truy cập trang web của ngân hàng lần đầu, vì thế sẽ phải bỏ thời gian và
công sức để nghiên cứu trước khi sử dụng dịch vụ.
Thiếu tin tưởng: đối với nhiều người, trở ngại lớn nhất của Internet banking là
làm sao để an tâm khi sử dụng kênh phân phối này. Sẽ có những hoài nghi về sự thành
công của giao dịch, cách thao tác bàn phím máy tính… Cách tốt nhất là luôn in các
8
biên nhận giao dịch và giữ lại cùng với chứng từ ngân hàng cho tới khi các giao dịch
này được cập nhật trên trang thông tin cá nhân hay trên bản sao kê của ngân hàng.
Thiếu thông tin cập nhật: qua Internet banking khách hàng nhận được thông
tin không đầy đủ như qua một cán bộ chuyên trách của ngân hàng. Khách hàng sẽ
mất đi cơ hội trao đổi thông tin với bạn hàng, nắm bắt tình hình mới, cập nhật tại
nơi giao dịch của ngân hàng.
b) Nhược điểm đối với ngân hàng
Vốn đầu tư lớn: để xây dựng hệ thống Internet banking đòi hỏi phải có lượng
vốn đầu tư ban đầu khá lớn để lựa chọn được công nghệ hiện đại, đúng định hướng,
ngoài ra còn có các chi phí cho hệ thống dự phòng, chi phí bảo trì, duy trì và phát
triển hệ thống, đổi mới công nghệ sau này.
Rủi ro: Internet banking chưa đựng trong nó nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro
giao dịch. Đây là một trong những lí do chính cản trở khách hàng và các ngân hàng
thương mại đến với dịch vụ này.
4. Những tiền đề phát triển Internet banking
4.1. Sự hiểu biết và chấp nhận của công chúng
Khách hàng thường quen với cách giao dịch trực tiếp và thanh toán bằng tiền
mặt. Thay đổi thói quen này của khách hàng không phải là điều đơn giản. Hơn nữa,
Internet banking cũng là một kênh phân phối mới, muốn sử dụng phải tìm hiểu nên
không dễ để thuyết phục khách hàng sử dụng. Do đó, sự hiểu biết của công chúng
về Internet banking và các lợi ích của dịch vụ này là điều cần thiết. Các ngân hàng
ứng yêu cầu hỗ trợ và chuyển giao các tri thức thích hợp. Thiếu các kĩ năng để làm
việc trên Internet và làm việc với các phương tiện hiện đại, hạn chế về khả năng sử
dụng tiếng Anh- ngôn ngữ căn bản của Internet cũng là những trở ngại cho việc
phát triển Internet banking.
II. RỦI RO GIAO DỊCH TRONG INTERNET BANKING
1. Khái niệm rủi ro và rủi ro giao dịch trong Internet banking
1.1. Khái niệm rủi ro
10
Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Rủi ro thường dẫn đến thiệt hại; do vậy, nhận thức rõ rủi ro, đề
ra những biện pháp phòng chống hữu hiệu để hạn chế thấp nhất rủi ro luôn là vấn
đề ưu tiên hàng đầu của các doanh nghiệp. Việc kiểm soát rủi ro là quá trình phối
hợp giữa những hoạt động nghiệp vụ, giữa những chính sách nội bộ, những thỏa
thuận hợp đồng với các cơ quan bảo hiểm. Cũng như tiến hành các biện pháp tự
bảo hiểm và các biện pháp khác để giảm bớt những chi phí, thiệt hại có thể tới.
1.2. Khái niệm rủi ro trong Internet banking
Rủi ro trong Internet banking là những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn trong quá
trình sử dụng dịch vụ Internet banking của ngân hàng. Có nhiều dạng rủi ro, như:
rủi ro tín dụng, rủi ro giao dịch, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…Các rủi ro đều
có tác động nhất định tới ngân hàng cũng như khách hàng, vì thế, các ngân hàng
nên có biện pháp bảo vệ bản thân ngân hàng, cũng như khách hàng khỏi những sự
kiện đáng tiếc khi giao dịch Internet banking.
1.3. Khái niệm rủi ro giao dịch trong Internet banking
Rủi ro giao dịch là rủi ro hiện tại và tiềm tàng đối với thu nhập và vốn của ngân
hàng phát sinh do sự gian lận, sai sót, hoặc do mất khả năng cung cấp sản phẩm hay
dịch vụ, duy trì lợi thế cạnh tranh và quản lý thông tin. Rủi ro giao dịch tiềm ẩn
trong mỗi sản phẩm, dịch vụ được cung cấp, bao gồm:
Tài khoản dịch vụ giả mạo: là tài khoản dịch vụ do các tổ chức hoặc cá nhân
làm giả, căn cứ vào các thông tin có được từ việc đánh cắp các dữ liệu từ tài khoản
dịch vụ của cá nhân hoặc tổ chức thật.
nhập và thay đổi. Các ngân hàng phải có hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp nhằm
ngăn ngừa, dò tìm và sửa chữa để tránh các trường hợp vi phạm, đảm bảo an toàn
cho hệ thống và thông tin mà hệ thống đó quản lý.
12
Tường lửa (Firewall)
1
là biện pháp an ninh thường được sử dụng trong Internet
banking để bảo vệ hệ thống mạng nội bộ. Nó có thể kiểm tra và xác định liệu các
truyền tải dữ liệu đó có mang những tệp tin (file) đính kèm bất hợp lệ không, chẳng
hạn virus. Tuy nhiên, chỉ một mình Firewall thôi thì không đủ để đảm bảo an toàn
và Firewall không phải là bất khả xâm phạm. Ngân hàng cũng cần có những biện
pháp kiểm soát khác đi kèm với Firewall để đảm bảo an toàn thông tin cho hệ
thống Internet banking của mình.
2.2. Xác thực (Authentication)
Xác thực cũng là một yếu tố nhằm tránh rủi ro giao dịch trong Internet banking.
Các giao dịch trên Internet phải được bảo vệ để nâng cao lòng tin của công chúng.
Trong môi trường mạng cũng như trong thế giới hữu hình, khách hàng, ngân hàng
và các doanh nghiệp cần được bảo đảm rằng họ sẽ nhận được các sản phẩm và dịch
vụ như họ yêu cầu, và rằng họ biết rõ nhận dạng của người đang giao dịch với họ.
Một số giải pháp xác thực thường được sử dụng hiện nay là: xác thực bằng số PIN,
mã hóa dữ liệu, sử dụng các công cụ sinh trắc học.
Xác thực bằng số PIN: Số PIN (Personal Identification Number) là mã số
nhận dạng cá nhân duy nhất cho từng khách hàng. Khi truy cập vào tài khoản của
mình, khách hàng phải nhập số PIN, ngân hàng sẽ kiểm tra tính thống nhất về tên,
số tài khoản của khách hàng với số PIN khách hàng vừa nhập vào. Nếu mọi thông
tin đều khớp đúng, khách hàng có thể thực hiện giao dịch với ngân hàng. Số PIN
cần được giữ bí mật.
Mã hóa dữ liệu: Có hai phương thức mã hóa dữ liệu cơ bản là mã hóa đối
xứng và mã hóa không đối xứng, được sử dụng để phục vụ cho các mục đích khác
nhau. Phương thức thứ nhất nhằm mục đích bảo đảm tính bí mật của thông tin,
xác thực các bên giao dịch và nhờ đó xây dựng lòng tin vào Internet banking.
2.4. Không thể thoái thác (Nonrepudiation)
Một vấn đề quan trọng khác nhằm hạn chế rủi ro giao dịch trong Internet banking
là vấn đề không thể thoái thác. Đó là chứng cứ không thể chối cãi cho thấy cả người
gửi và người nhận đã tham gia giao dịch. Vì mục đích tạo bằng chứng giao dịch,
14
người ta đã phát triển công nghệ mã hóa dùng khóa chung, để xác minh các thông
điệp điện tử và ngăn chặn việc người gửi hay người nhận phủ nhận giao dịch.
2.5. Bảo mật thông tin cá nhân (Privacy)
Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân ngày càng trở nên quan trọng. Mối quan tâm
của công chúng đối với việc thu thập và sử dụng các thông tin cá nhân có xu hướng
gia tăng trong thời đại phát triển thương mại điện tử và Internet. Những ngân hàng
chủ động trong việc nhận ra và đáp ứng tốt vấn đề bảo mật thông tin của khách
hàng sẽ tạo ra lợi thế cho ngân hàng cũng như lợi ích cho khách hàng của mình.
2.6. Tính sẵn sàng của hệ thống (Availability)
Tính sẵn sàng của hệ thống cũng là một yếu tố giúp xây dựng lòng tin của công
chúng vào môi trường mạng. Những yếu tố nêu trên đây sẽ là vô nghĩa nếu hệ
thống mạng không sẵn sàng liên tục và tiện lợi cho khách hàng. Người sử dụng
luôn mong muốn một hệ thống mạng sẵn sàng 24h/ ngày và 7 ngày/ tuần.
Các ngân hàng cần chắc chắn rằng họ có đủ năng lực cả phần cứng lẫn phần
mềm để có thể cung ứng dịch vụ Internet banking. Thêm vào đó, kĩ thuật theo
dõi quá trình thực hiện sẽ cung cấp các thông tin như khối lượng lưu thông, thời
gian giao dịch, và thời gian khách hàng phải chờ đợi. Việc theo dõi khả năng,
thời gian chết, và sự thực hiện thường xuyên sẽ giúp đảm bảo tính tiện lợi và sẵn
sàng của hệ thống Internet banking.
Đánh giá các điểm yếu của hệ thống mạng để ngăn ngừa các gián đoạn do
linh kiện hư hỏng cũng là điều quan trọng. Cả hệ thống mạng có thể không hoạt
động chỉ vì một linh kiện phần cứng hay một module phần mềm nhỏ không hoạt
động. Thường thì các ngân hàng sẽ sử dụng phần cứng dự trữ hay chuyển sang
các điểm xử lí dự phòng.
Nghe lén (Sniffers): đây là phần mềm dùng để theo dõi các thao tác gõ bàn
phím từ một máy tính cá nhân. Phần mềm này có thể đánh cắp tên truy cập (ID) và
mật khẩu (password).
Đoán mật khẩu (Guessing password): sử dụng phần mềm này để kiểm tra tất
cả các khả năng kết hợp có thể xảy ra để truy cập vào hệ thống mạng.
Vét cạn (Brute force): kĩ thuật đánh cắp các thông tin đã được mã hóa, sau
đó sử dụng phần mềm để bẻ khóa và giải mã thông điệp (tên truy cập, mật khẩu).
Gọi ngẫu nhiên (Random dialing): kĩ thuật này được dùng để gọi tất cả các số
điện thoại có thể khi có một giao dịch với ngân hàng. Mục đích là để tìm xem modem
nào đang được kết nối với hệ thống của ngân hàng, đây có thể là một mục tiêu tấn công.
Lừa đảo (Social engineering): kẻ tấn công gọi đến ngân hàng, mạo nhận là
một người sử dụng để lấy thông tin về hệ thống, chẳng hạn như thay đổi mật khẩu.
Ngựa Trojan (Trojan horse): một lập trình viên có thể cài mã hóa vào hệ thống
cho phép lập trình viên đó hoặc người khác xâm nhập bất hợp pháp vào hệ thống.
Chặn dữ liệu (Hijacking): chặn dữ liệu được truyền, sau đó cố gắng khai thác
thông tin từ dữ liệu có được. Internet banking đặc biệt dễ bị tấn công theo cách này.
Các tội phạm trên mạng có thể thực hiện tấn công bằng cách sử dụng Virus,
Worm hay các phần mềm gián điệp (Skyware)
2
. Mức độ sẵn sàng và liên tục của hệ
thống cũng là một trong những mối quan tâm của khách hàng và có thể cho thấy mức
độ thành công của mỗi ngân hàng trong cung cấp Internet banking. Các ngân hàng sẽ
gặp rủi ro khi không thể cung cấp sản phẩm và dịch vụ qua Internet sẵn sàng mọi lúc
mọi nơi. Khách hàng sẽ đánh giá thấp khả năng của ngân hàng và uy tín của ngân
hàng sẽ bị tổn hại. Vì thế, các ngân hàng cũng quan tâm đến việc lập kế hoạch dự
phòng và khởi động lại để đảm bảo có thể cung ứng sản phẩm và dịch vụ trong
2
Virus là đoạn mã chương trình được cài vào máy chủ và sau đó lây lan sang các máy trạm,
đoạn chương trình này không chạy độc lập mà được gắn sau đuôi của một đoạn chương trình khác.
Worm là một chương trình độc lập, sử dụng tài nguyên của máy tính chủ để lan truyền thông
HOẠT ĐỘNG INTERNET BANKING TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM (thu gọn lại, tối đa còn 15 trang)
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN INTERNET BANKING TẠI VIỆT NAM
1. Cơ sở pháp lý
Trước năm 2000, Thương mại điện tử và Internet banking còn là một thuật ngữ
rất mới. Hệ thống pháp luật Việt Nam có quy định nhưng chưa thể hiện hết bản
chất và tầm quan trọng của hoạt động này. Trong thời gian này, Bộ Công thương,
Bộ Tư pháp cũng đã có một số nghiên cứu và đề xuất xây dựng chính sách và pháp
luật lên Chính phủ. Tuy nhiên, chưa có văn bản pháp quy nào của Chính phủ hoặc
Thủ tướng chính phủ được ban hành, và trở thành nền tảng pháp lí hỗ trợ cho sự
phát triển của Thương mại điện tử, bao gồm Internet banking. Quyết định 196/TTg
ngày 1/4 và Quyết định 44/2002/TTg ngày 23/3/2002 của Thủ tướng Chính Phủ
cho phép sử dụng chứng từ điện tử và chữ kí điện tử trong nghiệp vụ kế toán và
thanh toán ngân hàng có thể coi là những văn bản pháp lí đầu tiên liên quan đến
giao dịch Internet banking tại Việt Nam,
Trong giai đoạn 2000- 2005, một số văn bản dưới luật trong lĩnh vực ngân hàng
đã có những quy định khá cụ thể về giao dịch điện tử. Tuy nhiên, do nhận thức
chưa toàn diện về thương mại điện tử, các chế định pháp lí trên còn thiếu cơ sở
pháp lí cụ thể, vì vậy, dẫn đến việc khó áp dụng trên thực tế.
Ngày 1/3/2006, Luật giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực, mở ra một giai
đoạn mới cho Internet banking khi các giao dịch điện tử đã được pháp luật Việt
Nam thừa nhận và bảo hộ. Đồng thời, tháng 6/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật
Công nghệ thông tin, Luật có hiệu lực vào tháng 1/2007.
Trong khi việc xây dựng và ban hàn Luật giao dịch điện tử và Luật công nghệ
thông tin diễn ra khá nhanh so với các Luật khác, quá trình xây dựng và ban hành các
nghị định hướng dẫn thi hành các Luật này lại chậm chạp. Đến cuối năm 2006,
20
Chính phủ mới ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 9/6/2006 về thương mại
điện tử. Đây là nghị định đầu tiên hướng dẫn Luật giao dịch điện tử, đánh dấu một
bước tiến lớn trong việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lí về thương mại điện tử.
Nghị định này tập trung hướng dẫn việc áp dụng Luật giao dịch điện tử cho các
hoạt động ngân hàng cụ thể, bảo đảm những điều kiện cần thiết về môi trường pháp lí
để củng cố, phát triển các giao dịch điện tử an toàn và hiệu quả đối với hệ thống ngân
hàng. Nghị định gồm 5 chương, 29 điều, với hai nội dung điều chỉnh chính như sau:
+ Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng (Chương 2): xác định phạm vi
các giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng, quy định về điều kiện giao dịch
điện tử, quy định các loại chữ kí điện tử sử dụng trong hoạt động ngân hàng và tổ
chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí điện tử.
+ Chứng từ điện tử trong hoạt động ngân hàng (Chương 3): hướng dẫn bổ sung,
làm rõ những quy định về nội dung, tính hợp pháp, hợp lệ, định dạng của chứng từ
điện tử, nguyên tắc lập, kiểm soát, xử lí, sử dụng, chuyển đổi, lưu trữ, bảo quản
chứng từ điện tử trong giao dịch điện tử ngân hàng; việc kí và giá trị của chữ kí
điện tử trên chứng từ điện tử.
Như vậy, về mặt pháp lí ở Việt nam đã xây dựng được một khung pháp lí tương
đối toàn diện cho giao dịch Internet banking cũng như các giao dịch thương mại
điện tử khác. Tuy nhiên, vấn đề bảo mật thông tin trong các giao dịch Internet
banking vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việt Nam hiện vẫn chưa có một văn
bản quy phạm pháp luật nào nhằm điều chỉnh các hành vi liên quan đến bảo vệ dữ
liệu cá nhân mang tính hệ thống. Các quy định về vấn đề này được thể hiện qua
những quy định riêng rẽ trong từng mảng nội dung khác nhau. Cụ thể, trong Luật
Giao dịch điện tử có một điều quy định về: “Bảo mật thông tin trong giao dịch điện
tử” (Điều 46) và Luật Công nghệ thông tin cũng có những quy định về bảo vệ
thông tin cá nhân trong môi trường điện tử tại Điều 21 và Điều 22.
22
2. Cơ sở hạ tầng công nghệ
2.1. Tình hình phổ cập Internet ở Việt Nam hiện nay
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhận thức xã hội, mức độ
phổ cập Internet ngày càng gia tăng nhanh chóng. Từ năm 2001 đến hết năm
20010, chỉ qua 10 năm, số người dùng Internet đã tăng đến gần 28 lần.
Đồ thị 3: Tốc độ phát triển người dùng Internet tại Việt Nam, từ 2001- 2010
khách hàng tập trung, cập nhật các giao dịch tức thời, điều này cho phép triển khai
sản phẩm Internet banking thuận lợi hơn.
II. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG INTERNET BANKING TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Internet banking tại các
ngân hàng thương mại Việt Nam
Internet banking lần đầu tiên được giới thiệu vào khoảng năm 2000-2001 tại ngân
hàng Công thương Việt Nam (Incombank) và ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
Nam (Vietcombank). Tuy nhiên, theo thống kê của Ngân hàng nhà nước Việt Nam,
mạng lưới thanh toán trực tuyến chính thức được triển khai vào khoảng tháng 6 năm
2002. Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng ngân hàng cung cấp dịch vụ Internet
banking chiếm khoảng 40% trong tổng số ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.
Tốc độ phát triển của Internet banking là một minh chứng rõ ràng cho nỗ lực áp
dụng khoa học công nghệ từ phía các ngân hàng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của
24
người tiêu dùng. Cho đến năm 2007, đã có hơn 20 ngân hàng cung cấp dịch vụ
Internet banking. Ngoài một số ngân hàng mới tiến hành cung cấp dịch vụ này, các
ngân hàng cũ cũng tăng cường đầu tư, gia tăng các tiện ích cho Internet banking
như VIBank đã triển khai hệ thống Internet banking với tên gọi VIB4U cho phép
truy vấn các giao dịch của khách hàng với ngân hàng, thanh toán, chuyển khoản
trong hệ thống VIBank tới các ngân hàng trong nước và nước ngoài.
Bảng 1: Các ngân hàng đã triển khai Internet banking tại Việt Nam, 2011
4
STT Tên ngân hàng Tên viết tắt Trang web cung cấp dịch vụ
Internet banking
1 NH An Bình ABB
2 NH Á Châu ACB
3 NH Nông nghiệp và
phát triển nông thôn
Agribank